Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Có còn rượu Tết nữa không?

Ngày xuân không thể thiếu li rượu chung trà. Đó là phong tục của người Việt chúng ta. Mà năm châu bốn biển cũng thế. Hội hè lễ Tết, dù dân tộc nào, ở đâu, cũng phải có rượu. Quốc hội đang thảo luận Dự luật Phòng chống tác hại của rượu bia. Cụ thể như thế nào phải chờ đợi khi Luật được ban hành. Nhưng tìm hiểu để tiếp nhận Luật là sự cần thiết, rất thiết thực.

Cái hại của bia rượu thì quá rõ rồi. Vụ ô tô đâm ở Hàng Xanh (TP. Hồ Chí Minh); ô tô lùi (ở Thái Nguyên). Rồi bao nhiêu vụ vì men rượu mà đâm chém nhau. Đấy là nạn rượu phổ thông. Còn một nạn rượu tuy ở phạm vi hẹp nhưng nó tàn phá những con người thuộc vào lớp “tinh hoa” của xã hội như các văn nghệ sĩ. Trong phạm vi hẹp mà tôi biết được thì nhiều tài năng đã bị rượu dìm ngập. Thanh Hóa là xứ có nhiều thương hiệu rượu ngon và cũng nhiều tài năng bị ngập trong đó. Còn trẻ như Trịnh Thanh Sơn – tác giả câu Ta ngồi rót biển vào chai. Anh bị ung thư thực quản, qua đời năm 59 tuổi. Đỗ Xuân Thanh, cùng trang lứa, cùng quê Nga Sơn với Trịnh Thanh Sơn, còn mất sớm hơn do ung thư dạ dày. Nguyễn Ngọc Liễn thì thọ lâu hơn nhưng sinh thời, gặp ông là ở trong trạng thái nồng nặc mùi men. Các Lưu Linh đệ tử ở Hội Văn nghệ Thanh Hóa thì còn phong phú lắm.

Ở Hà Nội, các anh Trúc Cương, Trần Vũ Mai, Hòa Vang, Nguyễn Lương Ngọc, Tạ Vũ… là những cây rượu có tiếng đều đã bị rượu rước đi. Nghe nói anh Trần Vũ Mai sau cuộc rượu trên đường về nhà, anh lại cứ đi thẳng xuống hồ… Nhà văn Đoàn Tử Huyến, chủ nhà sách Đông – Tây, đang độ giầu lên đến mức không tin được, tự véo vào đùi xem tỉnh hay mơ, có thật thế không (theo Bạn văn, Nguyễn Quang Lập) đã đột quị sau một cuộc rượu hoành tráng. Nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, tửu lượng đến mức tưởng như rượu thua anh. Bây giờ anh lại thua nó. Sau đột quị tiếp đến u phổi. Anh đang phải nằm để chiến đấu lại với người bạn của mình…

Nhà thơ Trang Nghị, cùng trên chuyến bay với chúng tôi vào Sài Gòn hôm 29-5-1975, khỏe mạnh, hoạt bát. Nhưng sau đó anh đồng hành cùng rượu thì hẳn giới văn nghệ Sài thành đã biết. Không sao nói hết. Có câu: Người bị chết trong rượu nhiều hơn bị chết trên sông trên biển…

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---Co-con-ruou-Tet-nua-khong---Anh-1

Tôi có dịp về quê. Cũng là Làng văn hóa, có bằng chứng nhận. Nhưng gần như cả làng uống rượu. Sáng ra mời nhau uống rượu. Thanh niên trai tráng hầu hết nghiện rượu.
Và không chỉ có làng tôi, quê tôi.

Vậy thì cần phải hạn chế rượu bia.

Hạn chế bằng pháp luật là cần thiết nhưng không giải quyết được về chiều sâu. Ở Nga hồi đầu cải tổ, Gorbachev ra lệnh cấm rượu làm cho xã hội rối loạn. Ở nước ta, chưa có Luật nhưng cũng đã có việc cấm nấu rượu. Nhưng là cấm tư nhân. Còn quốc doanh thì được. Mới sinh ra cái biệt hiệu “quốc lủi”. Thời Pháp thuộc, Pháp bắt dân ta phải uống rượu của hãng Phong-ten, gọi là “rượu ty”. Cấm dân nấu rượu. Nên có từ rượu ngang hay rượu lậu. Vụ anh Pha bị đổ rượu vạ phải hầu quan (Bước đường cùng) hay truyện ngắn Một vụ bắt rượu lậu của Nguyễn Tuân là nói lên tình trạng đó.

Cái khác là thời trước, trong mỗi làng chỉ có vài nhà nấu rượu lậu. Cả làng cả xã ai cũng biết nhưng vẫn được tồn tại, vì nhu cầu, xã trưởng, dân thường, đầu sào thổ mộc, thầu khoán chủ hãng đều dùng cả. Lễ Tết, cưới xin, hội hè đình đám, ma chay, đưa tiễn, đón chào… đều có rượu. Buồn lại càng tốn rượu: Hôm qua còn sót hơn đồng bạc / Ba đứa bàn nhau uống rượu say / Nón lá áo tơi ra quán rượu / Chênh vênh bên bến nước sông đầy… (Nguyễn Bính).

Là nhu cầu thường nhật của toàn nhân loại, cấm là không thể được. Nhưng điều chỉnh, hạn chế, dùng cho đúng sự cần thiết mới là khó. Nhưng thế nào là sự cần thiết lại là rất khó. Với người này là một li, một long (1/4 lít). Với người khác là cả lít. Chỉ có tự ý thức mới giải quyết được. Để tự ý thức, phải có căn bản văn hóa, mà trước hết là giáo dục, trong gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội. Nói căn bản văn hóa hay giáo dục là rất chung. Cụ thể hơn, là giải quyết được sự thèm. Khi không còn thèm muốn thì bồ đào mỹ tửu cũng không còn hấp dẫn. Sự thèm có nguồn gốc sinh học. Đó là phản xạ có điều kiện. Nghiện là hậu quả của chuỗi phản xạ có điều kiện. Chén đầu thấy là lạ. Chén sau thấy hay hay. Chén sau nữa thấy ngon ngon… Rồi chén nữa, chén nữa… thành nghiện. Ngon là gốc của cái gọi là văn hóa ẩm thực. Thức gì, kiểu gì, cách gì cũng phải Ngon. Cái ngon có tác dụng hai mặt. Cái ngon là niềm vui, là hạnh phúc, ăn ngon mặc đẹp. Cái ngon cũng dẫn đến tai họa: thói quen, sự nghiện, bệnh nghiện…

Vậy thì làm chủ được cảm giác ngon sẽ giải quyết được tất cả. Cho rượu. Cho toàn bộ văn hóa ẩm thực. Cho toàn bộ cuộc sống. Bởi vì không chỉ có ngon miệng mà còn ngon mắt, ngon tai (bùi tai), ngon tay (êm, mượt như nhung), Gối chăn gối chiếu không êm / Gối lụa không mềm bằng gối tay em… Gói gọn trong một chữ Ngon.

Làm chủ được cảm giác ngon là câu chuyện cực kì phong phú. Bá nhân bá tính mỗi người một vẻ. Nhưng một món ngon bắt ăn mãi đến phát chán, đến kinh hãi… Từ đó, cảm nhận được cảm giác ngon vừa phải. Đến một độ thích hợp thì dừng lại. Sẽ không bị thói quen, cơn nghiện dẫn dắt, hành hạ. Đó là một câu lí thuyết. Thực hành thì thiên hình vạn trạng.

Trong việc làm chủ cảm giác, văn hóa Phật giáo có vai trò rất quan trọng, rất quí, nếu các Lưu Linh đệ tử vận dụng được. Phật giáo quan niệm không có ngon hay không ngon, không có đẹp hay không đẹp (Vô sắc thanh hương vị xúc pháp). Sự ăn uống của nhà Phật chỉ để đủ sống, vừa sống. Mỗi ngày thọ thực (ăn cơm) một lần vào trước ngọ (trước 12 giờ). Thức ăn bằng cách luộc là tốt nhất. Không dùng chất kích thích như rượu, thuốc lá, tiêu ớt, hành tỏi… Thậm chí không to tiếng. Vui cũng không cười ha hả mà cười như Phật, gần như cười mỉm nhưng nhẹ nhàng… rất khó nói. Nếu nhân loại đều sống như Phật cả thì không có thế giới như hôm nay. Nhưng sinh hoạt như Phật giáo, ăn chay vừa phải, ăn sạch, sẽ là xu hướng của nhân loại. Trong giới văn nghệ sĩ có những người ăn chay trường như: Nghệ sĩ nhân dân Bạch Tuyết ở TP. Hồ Chí Minh; nhà văn Trần Khắc Thạch ở Huế… Họ vẫn có sức làm việc rất tốt. Theo nhà văn Ngô Ngọc Ngũ Long thì thân phụ của chị trong kháng chiến chống Pháp làm Chủ tịch tỉnh mà cụ ăn chay trường. Xem khối lượng trước tác của Thiền sư Thích Nhất Hạnh thì ăn chay hay ăn mặn không phải là quyết định cho hoạt động sáng tạo.

Tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn đọc… Tôi từng nghiện nhiều thứ, rượu bia, thuốc lá, thuốc lào… Từng có lần say rượu đến nỗi bây giờ nghĩ lại vẫn cứ xấu hổ. Nhưng tôi đã bỏ được các thứ đó hơn 10 năm nay. Bí quyết cuối cùng vẫn là chuyển được phản xạ có điều kiện về sự Thèm. Quán bia hơi trước nhà thờ Hàm Long, đường Hàm Long – Hà Nội là nơi tôi đến quen thành nghiện. Vào trưa và chiều không đến là không chịu được. Sau tôi bỏ không tới đó. Có việc đi qua đó cũng không nhìn vào. Không nhớ rõ là tôi bỏ được cảm giác thèm bia rượu cụ thể vào thời gian nào. Nhưng do tìm hiểu Phật giáo, thực hành ăn chay, mà tôi bỏ được nhu cầu rượu bia và ăn mặn, năm nay đã được 8 năm. Thời gian chưa nhiều nhưng thấy được lợi ích: cảm nhận được niềm vui thiết thực, sống thấy nhẹ nhàng hơn. Cũng không phải hoàn toàn chay tịnh. Thi thoảng gặp bạn bè, vẫn có thể uống một vài li bia. Nhưng đến mức đó thôi. Với tôi như thế là một thắng lợi lớn lắm rồi.

Không phải ai cũng phải qua cửa chùa để điều chỉnh nhu cầu rượu bia. Kinh nghiệm Phật giáo chỉ là tham khảo. Và như Phật chủ trương: Đạo của Ngài không bắt buộc, mà tự nguyện. Có nhiều con đường để tự điều chỉnh cảm giác. Các vĩ nhân, các nhà văn lớn như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài… đều là những người sành rượu nhưng họ giữ được mức độ. Đó là điều mà mọi người có thể vận dụng được. Nhà văn Như Phong, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, ông làm Giám đốc Nhà xuất bản Văn học từ 1965 đến 1978. Ông nghiện rượu, có thể nói như thế. Nhưng ông giữ được mức độ. Ông chỉ uống vào bữa cơm chiều. Buổi trưa cũng có, nhưng rất ít. Không bao giờ ông uống vào buổi sáng. Khối lượng bản thảo mà ông phải đọc duyệt trong hơn 10 năm đó đâu phải ít. Chưa kể những vụ việc phức tạp trong công việc xuất bản.

Khả năng tự chủ của mỗi người rất khác nhau. Phản ứng có điều kiện do cộng đồng xã hội tạo ra là rất quan trọng. Luật và các qui định dưới luật, qui tắc sinh hoạt cộng đồng, cơ cấu nền sản xuất. Hiện nay Việt Nam tiêu thụ lượng bia cao nhất Đông Nam Á, thứ nhì châu Á. Các nhà máy rượu bia đóng góp như thế nào vào tình trạng trên.

Tại sao các nhà máy chế biến nông sản thì không đáng kể gì so với các nhà máy bia và nước ngọt đóng chai? Nông sản phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Được mùa mất giá được giá mất mùa cứ lặp đi lặp lại. Trong khi chỉ có rượu bia là chủ động được. Đó là vấn đề quốc gia.

Rượu bia là nhu cầu gắn với đời sống con người. Giữ được mức độ sử dụng mới là vấn đề căn cốt. Ý thức cá nhân và môi trường xã hội kết hợp lại mới giải quyết được. Không bỏ thứ gì cũng không nghiện thứ gì (Tô Hoài) là lý tưởng.

Tháng 11-2018

Lưu Nguyễn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 533

Ý Kiến bạn đọc