Tản văn

Chuyện từ làng Vũ Đại

Tôi đọc truyện Chí Phèo của Nam Cao từ những năm còn học cấp 2. Cha tôi có một tủ sách với đủ các loại truyện. Những khi đi làm, ông thường khóa cửa nhốt anh em tôi trong nhà để không cho chúng tôi xuống đường chơi. Tôi là đứa mê đọc sách từ bé nên tủ sách của cha tôi là cả một kho truyện để tôi tìm hiểu và đọc các loại “chuyện trên đời”. Vớ được quyển Chí Phèo của Nam Cao, cái tên “Chí Phèo” đã kích thích sự tò mò của tôi. Tôi đọc và ngay từ câu mở đầu “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao. Đời là tất cả nhưng chẳng là ai…”. Tôi đã ngỡ ngàng kinh ngạc về cái lối viết của Nam Cao, một cách vào đề rất lạ, độc đáo chưa từng thấy. Tôi cảm phục và mê truyện ngắn của Nam Cao từ đấy.

Cha tôi cũng làm thơ và viết văn từ những năm 36, 37 của thế kỷ XX, khi đó ông mới 15, 16 tuổi. Ba truyện ngắn của ông: Dọn nhà, Người vợ cả mù, Siêu nước nóng, đã từng được đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bẩy từ những năm đầu thập kỷ 40. Mọi người đọc đều khen ngợi, nhưng rồi không thấy ông viết truyện ngắn nữa. Sau này có một lần tôi hỏi ông “Sao bố không viết truyện ngắn nữa?”. Trầm ngâm một lúc ông mới nói “Khi viết truyện ngắn bố chưa gặp Nam Cao. Bố đang tìm một cách viết. Đến khi đọc Chí Phèo của Nam Cao bố nể quá. Nam Cao đã tạo ra cho mình một cách viết hiện thực đầy sáng tạo, hiện đại trong ngôn ngữ, lạ mà hay chưa từng có… vì thế bố không viết truyện ngắn nữa”.

Chí Phèo của Nam Cao nổi tiếng đến nỗi có lần nhạc sỹ Văn Cao đi công tác xuống địa phương, khi giới thiệu “Đây là ông Văn Cao”. Tay chủ tịch huyện mừng rỡ bắt tay ông rối rít: “Vinh dự quá, hôm nay chúng cháu mới được đón tiếp ông, tác giả của Chí Phèo…”. Văn Cao dở cười, dở khóc “Cám ơn anh…”.

Dựa trên những nhân vật có thật tại chính ngôi làng nơi Nam Cao đã sinh ra và lớn lên, bằng ngòi bút tài hoa của mình, ông đã sáng tạo nên những nhân vật điển hình như Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến. Cho đến tận bây giờ, những Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến vẫn còn hiện hữu trong xã hội của chúng ta.

Năm 1996, chương trình mang tên “Tìm lại Nam Cao” do Câu lạc bộ UNESCO tổ chức đã tìm được thi hài của ông tại Gia Viễn, Ninh Bình. Trước hôm về quê, hài cốt của ông được đặt tạm tại ngôi nhà của vợ con ông tại thành phố Nam Định. Đêm hôm đó cả vùng trời trên nhà sáng rực trước sự chứng kiến của gia đình và bà con khối phố, một hiện tượng tâm linh không lý giải được.

Xuan-2019--Chuyen-tu-lang-Vu-Dai---Anh-1
Hàng đầu từ trái: Nguyễn Đình Thi – Kim Lân – Nguyên Hồng – Nam Cao.
Hàng sau từ trái: Nguyễn Đỗ Cung – Học Phi – Nguyễn Xuân Sanh – Chế Lan Viên –
Hoàng Trung Thông – Nguyễn Huy Tưởng – Tô Hoài.

Tôi may mắn được cùng với gia đình và mọi người đưa hài cốt của nhà văn Nam Cao về an táng tại quê ông – xã Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam. Tại đây tôi đã được tiếp xúc với ông Trần Hữu Đạt, em ruột của Nam Cao; ông Trần Khắc Xương, bí thư xã; cùng một số các bô lão trong làng. Qua tìm hiểu mới được biết:

Làng Đại Hoàng được hình thành hơn 300 năm trước do một số cư dân mang họ Trần thuộc làng Tiểu Long, Vị Hoàng quê hương của Tú Xương tách ra về đây sinh sống và lập nghiệp, thờ Trần Hưng Đạo làm Thần hoàng làng. Theo truyền thuyết, từ xa xưa, có một đôi vợ chồng về sinh sống tại xóm Chùa. Họ sống hiền lành, chất phác và hay giúp đỡ mọi người, nhưng tuổi đã già mà vẫn không có con. Cầu tự mãi mới đẻ ra một bọc có 3 đứa con, hai trai và một gái. Ba đứa trẻ khỏe mạnh, lớn nhanh như thổi và rất thông minh nhanh nhẹn. Khi Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa, cả ba người đều đầu quân theo Hai Bà đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ba người trở về làng sinh sống. Một thời gian sau, trong một đêm mưa to gió lớn, sấm sét nổi lên ầm ầm, cả ba anh em đều hóa và được dân làng lập miếu thờ làm Thần hoàng làng. Còn một truyền thuyết nữa được các bô lão kể lại về việc xẩy ra cách đây 700 năm: Các cụ được báo mộng sẽ có một cái săng sau khi Trần Hưng Đạo mất trôi về Đại Hoàng. Hôm sau dân hai làng Đại Hoàng và Bảo Lộc ra bờ sông đều phát hiện cái săng trôi vào bờ sông nơi giáp ranh hai làng. Dân hai làng đều mang lễ ra bờ sông xin được rước săng về thờ cúng. Mâm cúng của làng Bảo Lộc có xôi gà xin không được. Mâm cúng của làng Đại Hoàng có xôi gà và cơm canh, cá trắm đen kho nên xin được. Đại Hoàng đưa được săng của Trần Hưng Đạo về thờ làm thành hoàng làng. Bảo Lộc xin được đem lễ sang thờ chung và được Đại Hoàng chấp nhận. Tục lệ cúng xôi gà cơm cá trắm dâng lên đức thánh Trần có từ đó. Sau này có một lần dân Bảo Lộc mang lễ sang, đồ cúng có tàn nhang, dân Đại Hoàng không chấp nhận, cho là cúng thừa. Hai bên cãi nhau, Đại Hoàng tuyệt giao không cho Bảo Lộc thờ chung nữa. Như vậy có thể thấy cư dân của vùng đất Đại Hoàng đã từng sống ở đây từ thời Hai Bà Trưng. Trước đây, Đại Hoàng chỉ thuần túy có một dòng họ Trần sinh sống, những cư dân khác muốn ngụ cư tại đây đều phải đổi sang họ Trần. Đến nay, trải qua nhiều đời, dòng họ Trần có đến 16 chi phân biệt qua tên đệm: Trần Xuân, Trần Viết, Trần Dung, Trần Thế, Trần Bá, Trần Hữu, Trần Văn, Trần Huy, Trần Đinh, Trần Đức, Trần Đắc, Trần Khang, Trần Qúi, Trần Nhưng, Trần Khắc, Trần Trọng.

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí, sinh năm 1915 trong một gia đình nông dân nghèo thuộc làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam, nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Cha ông là Trần Hữu Huệ làm thợ mộc, kiêm nghề bốc thuốc. Mẹ là Trần Thị Minh làm ruộng và dệt vải. Nam Cao thủa nhỏ học trường làng sau đó lên thành phố Nam Định học trường Cửa Bắc. Học dở Thành chung, do sức khỏe yếu ông phải về quê chữa bệnh rồi lấy vợ năm ông 18 tuổi. Sau đó ông vào Sài Gòn làm thư ký cho một tiệm may và bắt đầu sự nghiệp viết văn. Hai truyện ngắn đầu tay của ông là Cánh cuối cùng và Hai cái xác được đăng trên Tiểu thuyết thứ bẩy… Một thời gian sau, ông trở ra Bắc, tiếp tục tự học để thi lấy bằng Thành chung. Nam Cao về dạy tại trường tư thục Công Thành trên phố Thụy Khuê tại Hà Nội. Năm 1941, truyện Đôi lứa xứng đôi (sau in lại đổi tên là Chí Phèo) và Chiếc lò gạch được ông cho in ở NXB Đời mới – Hà Nội…

Cách mạng tháng 8, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở huyện Lý Nhân rồi được bầu làm chủ tịch xã. Năm 1946, ông ra Hà Nội hoạt động ở Hội Văn hóa Cứu quốc. Sau toàn quốc Kháng chiến, ông lên Việt Bắc làm thư ký tòa soạn cho báo Cứu quốc. Ông vào Đảng năm 1948. Năm 1950, ông về làm tại tòa soạn báo Văn nghệ. Một số nhà văn như Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Ngô Tất Tố… cũng đang công tác tại đây.

Theo cha tôi kể lại, cuối năm 1951, ông Tố Hữu phụ trách báo Văn nghệ lúc đó đã cử Nguyễn Tuân và Kim Lân vào vùng tạm chiếm để vận động nhân dân đóng thuế cho Kháng chiến đồng thời lấy tư liệu để về viết bài. Nhưng vì nhà văn Nguyễn Tuân bị ốm nên Nam Cao đã xung phong xin đi thay với lý do đã lâu chưa được về Nam Định thăm gia đình. Hai nhà văn, hai người bạn thân từ cơ quan ở cây số 7 Tuyên Quang đi bộ ra bến Bình Ca thì họ chia tay nhau. Kim Lân có ngờ đâu đây là cuộc chia tay cuối cùng của hai người. Ba tháng sau Kim Lân trở về cơ quan mới biết tin Nam Cao đã hy sinh. Kim Lân khóc như một đứa trẻ…

Ngày 28/11/1951, Nam Cao bị địch phục kích bắt được. Bọn giặc đã đưa ông về đồn Hoàng Đan, thuộc làng Vũ Đại, xã Gia Xuân, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, sát hại. Nam Cao hy sinh khi mới 36 tuổi. Có một sự trùng hợp kỳ lạ, Nam Cao sinh ra ở làng Vũ Đại, Hà Nam nhưng lại hy sinh tại làng Vũ Đại của Ninh Bình, một điều trùng hợp khó lý giải trong cuộc đời của một nhà văn nổi tiếng.

Lại nói chuyện về nhân vật Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao ở làng Vũ Đại:

Bá Kiến tên thật là Trần Duy Bính, nhà giầu, làm Lý trưởng rồi Chánh tổng và là Bắc kỳ Nghị viên. Có con trai là Cửu Hòe (Lý Cường) làm Lý trưởng. Khi truyện Chí Phèo ra đời, Bá Bính tức lắm. Hắn gọi bố của Nam Cao là trùm Huệ lên đe “Nhà ông có đức lắm nhỉ. Ông cho con đi học, giờ nó chửi cả làng Vũ Đại đấy. Ông liệu mà về dậy bảo nó”.

Bọn cường hào trong làng rất bực, chúng thường xuyên đe dọa Nam Cao. Chỉ đến khi Quan tư pháp Huyện tên là Lân về nhận chức quan huyện Lý Nhân thì gia đình Nam Cao mới được sống yên ổn. Nguyên nhân là do quan huyện Lân cùng học Thành chung với Nam Cao ở Nam Định. Khi các kỳ hào trong làng lên lễ, biết là kỳ hào của làng Đại Hoàng, quan huyện Lân bèn hỏi “Các thầy có biết anh Trí làm gì không? Anh ấy là bạn học với tôi đấy. Cho tôi gửi lời hỏi thăm”. Nghe xong, bọn kỳ hào trong làng sợ xanh mắt. Từ đấy chúng không dám động đến Nam Cao nữa.

Gia đình Bá Bính loạn luân, Bá Bính ngủ cả với mẹ vợ lẫn con dâu, vì thế các cụ trong làng mới làm một câu đối:

Thập lý vân lôi thiên bất hạn
Cửu trùng vũ lộ địa do dư.

Có nghĩa: Giời cho nhà hắn như thế – Đất họ cửu phẩm có thừa.

Sau này các cụ đổi lại là:

Thập lý vân lôi “bô vợ gánh”
Cửu trùng vũ lộ “dấu con đeo”.

Nói lái đi thành:

Thập lý vân lôi “tranh vợ bố”
Cửu trùng vũ lộ “đéo con dâu”.

Hiện nay ở làng Vũ Đại vẫn còn ngôi nhà của “Bá Kiến”, một ngôi nhà cổ 3 gian được xây dựng cách đây hơn một thế kỷ theo kiểu “ lộn thềm ngưỡng chồng, tầu bẩy then trâu chồng chóp” với 4 hàng cột, tổng cộng 16 cột gỗ lim được kê trên đá tảng xanh nguyên khối, chạm đẽo công phu. Tuy nhiên, ngôi nhà “bị ma ám” này cũng xẩy ra nhiều chuyện lạ. Qua 7 đời chủ, đều là những người giầu có, nhưng con cháu của họ đều lụi bại, ly tán, gia đình không loạn luân thì cũng có người tự tử (gia đình Bá Kiến là đời thứ 3). Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà vẫn chưa phải sửa chữa và thành một di sản của làng Vũ Đại cho khách thăm quan.

Nam Cao có nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Lão Hạc, Trẻ con không được ăn thịt chó, Sống mòn, Đôi mắt… Nhưng chỉ với Chí Phèo, Nam Cao đã trở thành nhà văn lớn của mọi thời đại. Nói đến Nam Cao, người ta nhớ đến Chí Phèo, nói đến Chí Phèo người ta nhớ đến làng Vũ Đại. Nam Cao đã đóng đinh tên làng Vũ Đại lên bản đồ Việt Nam.

Kỳ Sơn, tháng 11/2018

Văn Thao
(Liễu Giai – Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc