Truyện ngắn

Chuyện ở xóm Núi

Nơi ấy có tên là xóm Núi. Chỉ nghe tên xóm, cũng biết ở đó núi nhiều, đất ít; đất đai quí hiếm. Cho nên ai tới đây cũng khen thổ cư nhà ông Dần, ông Mão rộng rãi, bằng phẳng; thuận hướng, thuận gió, gần sông, gần đường. Nguyên mảnh đất này là từ cụ Tý đến đây khai phá, sau này cụ chia lại cho hai người con: ông Dần là con đẻ, ông Mão là con rể.

Ông Mão vốn là người nơi khác. Mồ côi cha mẹ từ sớm, Mão ở với người chú. Được chú truyền cho nghề hàn nồi rồi sắm cho một số dụng cụ và vật liệu hàn. Mão lập thân, lập nghiệp từ một gánh trên vai. Mão đã đặt chân ở khắp nơi. Mỗi chuyến anh đi, thường đôi ba tháng, có khi nửa năm mới về thăm chú một lần. Năm tháng giúp Mão nhận ra cái nghề của anh phải tìm đến những nơi hẻo lánh, những nơi đông người nghèo mới có việc làm. Mão đến xóm Núi vì lẽ ấy. Thoạt đầu anh nghĩ xóm Núi cũng chỉ là nơi dừng chân như bao nơi khác. Nào ngờ việc ở đây khá nhiều. Anh làm cả tháng không hết việc. Ban ngày Mão đi làm, tối trọ nhà cụ Tý. Nhà cụ có bao nhiêu nồi, xanh thủng, anh vá giúp, không lấy công. Thấy Mão đẹp trai, khỏe mạnh, lại hay lam hay làm, cụ Tý gả con gái cho anh. Lấy vợ rồi, Mão bỏ nghề hàn, chuyển sang làm ruộng. Anh bảo: “Cái nghề hàn nồi, suốt đời nhọ đít, mà giỏi lắm cũng chỉ đủ ăn, không thể giầu được”. Ít lâu sau, cụ Tý cho vợ chồng Dần và vợ chồng Mão ở riêng. Cụ chia đôi mảnh đất trồng ngô để hai người làm nhà.

Xóm Núi bây giờ đông đúc khác xưa. Phần vì người sinh ra tại chỗ ngày một đông, phần vì người các nơi ồ ạt kéo đến. Kiếm được mảnh đất làm nhà ở đây bây giờ không phải dễ. Vậy mà bỗng dưng ông Dần bỏ nơi ở của mình, ra bìa rừng dựng một căn nhà nhỏ để ở. Có người thấy lạ hỏi, ông Dần chỉ bảo: “Ở đấy không ổn”. Có người hỏi mua, ông bảo: “Mình ở chẳng được, bán cho người khác, phải tội”. Giá như ông Dần nói toạc ra, thì chẳng ai hỏi thêm. Đằng này ông cứ úp úp mở mở, khiến người ta càng tò mò. Nhưng ở đời có chuyện gì mà giữ kín mãi được? Rồi người ta cũng lờ mờ đoán ra mấy năm nay nhà ông Dần luôn gặp nạn: đầu năm con bị trâu húc, cuối năm vợ bị rắn cắn; may mà chữa khỏi. Ông Dần đã mời thầy cúng về giải hạn, nhưng vô hiệu. Cách đây ít lâu, hai con trâu đang khỏe mạnh bỗng dưng lăn đùng ra chết, mất bao nhiêu tiền bạc. Rồi ông Dần nhận ra mảnh đất nhà ông có chuyện. Gần đây ở cây đa cuối thổ cư nhà ông đêm đêm có tiếng người khóc. Có đêm người ấy vừa khóc vừa đòi: “Trả nhà cho ta!”. Ông Dần cho rằng thổ cư nhà ông có một ngôi mộ nào đó, nhưng thời gian, mưa nắng và con người đã làm cho bằng địa, không còn biết ở chỗ nào. Vì thế ông Dần quyết định chuyển nhà đi nơi khác.

So-489--Anh-minh-hoa---Chuyen-o-xom-nui

Ông Dần chuyển nhà đi chưa được bao lâu, thì tai họa lại giáng xuống nhà ông Mão. Thoạt đầu là người con thứ của ông không hiểu sao đột tử. Chuyện xẩy ra chỉ có hai cha con ông Mão ở nhà, không ai hay biết để cứu chữa. Tiếp đến là ông Mão. Chẳng biết ông mắc chứng bệnh gì mà bỏ ăn, mất ngủ, người gầy rộc, da xạm đen, mắt cạn thần khí. Nhìn ông Mão, ông Dần thương xót bảo:

- Giá ngày ấy chú cũng chuyển nhà như tôi, thì đâu đến nỗi này. Thôi, bây giờ ta chuyển cũng còn kịp. Nếu chú bằng lòng, để tôi lo cho.

Ông Mão im lặng, nước mắt vòng quanh. Một ý nghĩ thoáng trong đầu ông Dần:

- Cũng may cho tôi, nếu dạo ấy chú giữ cố chút nữa, có lẽ tôi cũng liều ở lại, thì bây giờ chưa biết nhà tôi sẽ thế nào.

Ông Dần tiếp tục động viên ông Mão:

- Tôi biết chú còn phân vân. Ngẫm bản thân mà tôi hiểu. Ngày phải chuyển nhà, tôi tiếc lắm chứ. Phải rời mảnh đất mình đã bỏ nhiều công sức vào nó, đã sống ở đó với bao kỷ niệm, thì tránh sao khỏi nuối tiếc? Nhưng tôi đã nghĩ: Thà tiếc còn hơn tai họa. Bây giờ như chú thấy đấy, nhà tôi đã tai qua, nạn khỏi. Vì thế tôi khuyên chú nên sớm chuyển nhà đi. Chú không đọ sức với “người ta” được đâu. Chú còn chần chừ, tôi e muộn mất.

Đến đây thì ông Mão đã khóc thành tiếng. Ông khóc thút thít như trong lòng đang bị vò xé bởi một chuyện gì đó. Tiếng khóc của ông làm ông Dần não lòng. Ông Dần vốn rất sợ nghe người lớn khóc, nên lựa lời cáo lui:

- Chú mệt thì nghỉ đi, tôi về đây.

Ông Mão cuống quít:

- Không, anh ở lại chút nữa. Tôi có chuyện muốn nói với anh.

Ông Dần do dự giây lát rồi ngồi xuống. Ông Mão thều thào:

- Anh tốt quá. Vậy mà tôi lại xấu với anh. Tôi xấu, trời trừng phạt, tôi chịu, không oán thán gì. Nhưng anh vẫn cứ tốt với tôi, thì tôi không thể chịu được nữa. Vì vậy, hôm nay tôi muốn nói hết với anh. Tôi muốn được thanh thản trong lòng trước khi nhắm mắt xuôi tay.

Ông Dần không hiểu ông Mão có chuyện gì, nên bảo:

- Chú nói đi. Tôi nghe đây.

Ông Mão vâng, rồi bắt đầu kể.

*
Chuyện bắt đầu từ việc ông Mão đào cái rãnh thoát nước. Lâu nay hễ mưa là nước chảy qua sân, làm hỏng sân, hỏng đường. Ông Mão quyết định đào một đường thoát nước mưa. Sáng ấy ông dậy sớm, pha ấm chè đặc, uống vài chén, rồi vác cuốc xẻng đi làm. Ông vừa cuốc, vừa xúc, cứ thoăn thoắt như cái máy. Khi mặt trời chênh chếch đỉnh đầu, thì ông đã thấm mệt. Từ sáng ông chưa có gì vào bụng ngoài mấy chén nước chè, nên ruột gan cồn cào, tay chân rời rã. Ông muốn nghỉ tay, nhưng tiếc việc, lại cố. Chợt ông cuốc phải một hòn đá, làm cánh tay ông chói buốt. Ông bới đất, lộ ra một phiến đá bằng phẳng, to bằng nửa mặt bàn. Linh cảm rằng ở dưới tấm đá có cái gì đó, tự nhiên cái mệt của ông biến mất. Ông cố sức lật tấm đá lên. Quả nhiên dưới tấm đá là một hộc đá xây. Trong hộc là một chiếc hộp cũng bằng đá, được trám kín bằng một thứ nhựa gì đó. Ông Mão chắc mẩm đó là của báu người xưa cất giấu. Ông lặng lẽ bê chiếc hộp về, lòng khấp khởi: Phen này mình sẽ đổi đời. Trời đã phù hộ ta.

Ông Mão đóng cửa, cài then, rồi lặng lẽ mở hộp. Nào ngờ trong hộp không có gì ngoài một tờ giấy viết chữ tượng hình. Ông Mão thất vọng, rồi ông lại nghĩ: Có thể từ miếng giấy này mà tìm ra một cái gì quan trọng. Nếu không, người xưa chẳng cất giấu nó cẩn thận như vậy. Khổ nỗi ông không đọc được, nên không hiểu tờ giấy nói gì. Ông nghĩ phải nhờ người đọc. Nhưng nhờ ai? Nếu nhờ người trong xóm, thì việc bị lộ, sẽ hỏng, còn ra ngoài thì ông chẳng biết ai. Vừa may tình cờ ông biết tên một giáo sư dịch giả Hán-Nôm. Ông quyết định tìm đến nhờ vị giáo sư này dịch giúp. Phải vất vả lắm, ông Mão mới tìm được nhà giáo sư. Ông rụt rè đưa tờ giấy:

- Gia thư, gia phả nhà tôi bị thất lạc cả, chỉ còn lại tờ giấy này. Giáo sư làm ơn dịch giúp tôi, xem người xưa dặn gì?

Nói rồi ông móc trong túi áo ngực chiếc phong bì, trịnh trọng đặt trước mặt giáo sư. Đó là khoản tiền ông vừa bán con nghé. Ông thường bảo bây giờ chẳng ai giúp không người khác đâu. Mọi việc đều phải có phong bì. Việc càng quan trọng, thì phong bì càng phải “nặng”. Ông cũng đã tính: Mất một con nghé mà có khi thu về cả đàn trâu thì cũng nên mất. Nhìn cử chỉ của ông, giáo sư mỉm cười. Giáo sư xem đi xem lại tờ giấy, rồi đọc:

Phía tây có cây đa thần
Trăng đỉnh Nguyệt Cầm, bóng ngọn cây đa.

Nghe vậy, ông Mão lặng người. Ông chờ ở tờ giấy không phải là những chữ này. Nó phải là chiếc chìa khóa để ông mở cửa kho báu kia. Ông thất vọng, thầm nghĩ: Thế là mất toi con nghé vì mấy chữ vớ vẩn kia! Giáo sư rót nước mời ông rồi nói:

- Tôi đã dịch trung thành văn chỉ, không dám thêm, bớt gì. Hiểu thế nào là tùy ông.

Giáo sư đặt chiếc phong bì vào tay ông, cười:

- Tôi chỉ giúp ông thôi. Chúc ông may mắn.

Ông Mão ra về, lòng chán nản, nhưng đầu óc ông không lúc nào quên được tờ giấy. Một đêm nọ, chợt tỉnh giấc, ông nghĩ: Có lẽ hai câu thơ kia là chỉ nơi cất giấu cái gì đó. Phải rồi, “Phía tây có cây đa thần” là chỉ cái nơi cất giấu ở về phía đông cây đa. Đây hẳn là cây đa cuối thổ cư bác Dần. Xưa nay ai cũng bảo cây đa này thiêng, chắc là đa thần. Vả lại quanh đây cũng không có cây đa nào khác. Còn “Trăng đỉnh Nguyệt Cầm, bóng ngọn cây đa” là gì? Ông Mão hình dung đến ngọn núi nào đó có tên là Nguyệt Cầm, khi trăng ở đỉnh núi này chiếu xuống, cây đa sẽ in bóng trên mặt đất. Nơi bóng của ngọn cây đa, chính là nơi cần tìm. Hẳn rằng ngọn núi này phải ở phía tây cây đa. Nhưng phía tây không có ngọn núi nào có tên là Nguyệt Cầm, mà chỉ có ngọn Cô Tiên. Đây là một ngọn núi cao. Đỉnh núi có một hòn đá. Ở dưới trông lên giống hệt một nàng tiên đang chơi đàn nguyệt. Chuyện rằng xưa kia có đoàn tiên nữ xuống trần, thấy cảnh sắc nơi đây tuyệt đẹp, đã dừng chân trên đỉnh núi này. Một cô đã ngồi trên phiến đá gảy đàn. Cô càng gảy càng hay. Cô thấy như mình hòa trong tiếng đàn, bay đi muôn nơi; còn vạn vật thì như im lặng để nghe, để hít, để nuốt lấy tiếng đàn. Khi cô dừng đàn, thì các cô khác đã về trời. Cô lại đàn tiếp… Đến bây giờ, vào những đêm trăng thanh gió mát, người ta vẫn nghe tiếng đàn từ trên núi Cô Tiên vọng xuống. Ông Mão nghĩ: Có thể núi Nguyệt Cầm chính là núi Cô Tiên. Nếu vậy thì việc tìm ra cái nơi bí ẩn trong tờ giấy kia đã trở nên đơn giản.

Đêm ấy, khoảng canh tư, ông Mão đến quan sát mảnh đất quanh gốc đa. Đêm thanh vắng, huyền ảo. Chỉ có những con chồn, con cáo đi kiếm mồi, chạy rào rào trong các lùm cây, bụi cỏ. Trăng hạ tuần đã gác đỉnh Cô Tiên. Nhưng trong màn sương đêm, ánh trăng bàng bạc, không thể xác định được bóng ngọn cây đa. Ông Mão chán nản, định về. Chợt ông nghĩ ra cách xác định nơi cần tìm theo kiểu nghề săn. Ông tìm một chỗ phía đông cây đa rồi dịch chuyển sao cho mắt ông, ngọn đa và mặt trăng thẳng hàng. Đó chính là bóng ngọn cây đa. Ông đánh dấu nơi ông đứng và nhận ra nó nằm trên đất ông Dần. Ông cũng hiểu được rằng cây đa đã hàng trăm tuổi, nó đã cao lên hơn xưa. Vì thế bóng ngọn của nó bây giờ hắn đã dịch sang phía đông. Cái nơi bí ẩn ông cần tìm, hẳn càng vào sâu trong đất ông Dần.

Suốt ngày hôm sau ông Mão lầm lì, im lặng. Ông tiếc cây đa không trên đất nhà ông. Ông nhớ lại và tiếc ngày ấy khi cụ Tý chia đất cho hai người, thì ông Dần để cho ông chọn trước. Khi đó ông thấy cây đa chẳng tích sự gì, lại vướng, nên ông đã chọn mảnh kia. Nào ngờ…

Đêm ấy ông không sao ngủ được. Ông nghĩ cách để đào cái chỗ “bóng ngọn cây đa” kia, xem ở dưới có gì. Mệt mỏi ông ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ chập chờn, ông thấy mình đang bay lượn trên không, qua những cánh rừng đại ngàn xanh biếc. Chợt ông phát hiện một thung lũng lấp lánh ánh kim. Ông đặt chân xuống thung lũng và nhận ra ở đó có vô số vàng bạc, châu báu. Đời ông chưa bao giờ có vàng bạc, thậm chí chưa bao giờ được sờ vào chúng. Bây giờ đứng trước cơ man là vàng, khiến ông mê mẩn. Ông đã nhặt đầy chiếc túi mang theo mà vẫn còn rất nhiều. Ông nhặt cho đến khi trời tối mịt, đành phải về. Nhưng lúc ấy ông không thể nào bay lên được nữa. Ông vất tất cả vàng bạc cũng không sao cất nổi người lên. Giữa lúc ấy có tiếng cọp gầm rất gần. Ông hoảng sợ, kêu cứu… Rồi ông tỉnh giấc. Tỉnh rồi, ông cho đó là điềm tốt. Ông bèn nghĩ cách tìm đào của giấu. Dĩ nhiên, ông không thể làm một mình, mà phải có người giúp. Vậy ai sẽ giúp ông? Vợ ông thì không được rồi. Bà ấy chẳng những không làm được gì, mà còn để lộ hết chuyện. Ông chỉ còn trông vào hai người con trai. Người con cả vốn là chỗ tin cậy của ông trong mọi việc, nhưng trong chuyện này, ông biết ý kiến của ông với anh sẽ khác nhau. Ông hình dung cuộc trò chuyện giữa hai cha con: Ông cho anh biết quá trình đào được tờ giấy, rồi ông lặn lội đi tìm người dịch ra tiếng Việt và cuộc tìm bóng cây đa trong một đêm trăng. Nghe xong, anh bảo: Cha nên cho bác Dần biết để cùng tìm đào. Dĩ nhiên là ông không nghe. Cả đời ông nay mới gặp vận may, ông lại lặn lội vất vả về chuyện đó, tại sao ông lại phải chia cho người khác? Người con lại bảo: Tuy cha có công, nhưng nơi cất giấu lại ở trên đất nhà bác ấy. Vả lại, cha không cho bác ấy biết, cha cũng không lấy được; mà có lấy được, cũng mang tiếng là tham lam, coi vàng hơn ngãi. Thế là những điều ông không muốn nghe, thì con ông sẽ nói tới. Đến nước ấy thì cơ sự đã lộ bươm rồi. Ông thấy không thể dựa vào người con cả. Vậy là ông chỉ còn người con thứ để dựa. Thật lòng ông không tin người con này. Nó có thể làm hỏng việc của ông. Nhưng ông không còn cách nào khác. Ông gặp người con thứ để trao đổi. Mắt hắn sáng lên:

- Việc này cha cứ để con lo.

Thấy ông có vẻ còn lưỡng lự, nó bảo:

- Con sẽ có cách lấy êm tất cả, không phải chia cho ai và cũng không sợ mang tiếng gì sất.

Ông Mão còn chưa nói gì, thì nó nói như kết luận:

- Thôi, bây giờ là việc của con. Cha cứ yên tâm.

Thế rồi mọi chuyện xẩy ra ngoài sự tưởng tượng của ông Mão. Khi có chuyện người đàn bà kêu khóc trong đêm, ông thắc mắc, nó chỉ cười. Cái cười của nó khiến ông hiểu rằng chuyện này là do nó tạo ra. Tiếp đến, ông Dần báo tin chuyển nhà, thì ông thực sự sửng sốt. Nó lại bảo:

- Bác ấy không ở được thì bác chuyển. Cha không phải bận tâm, mà bác ấy có chuyển thì mình mới đào được của giấu chứ.

Nó nói những lời ấy với vẻ mặt lạnh tanh. Ông thấy hoảng. Nó nói tiếp:

- Tốt nhất là cha nên có vài lời khuyên bác ấy nên ở lại cho phải lẽ, nhưng khuyên thế nào để bác ấy càng quyết tâm chuyển đi mới được.

Ông Mão không ngờ sự việc lại đến như vậy. Thực lòng ông chỉ muốn đào lén của, chứ đâu ông có nghĩ đến chuyện đẩy ông Dần đi nơi khác. Chuyện này do thằng con ông. Nó quả thật là một kẻ hiểm độc. Điều ông lạ là, sao nó ít chữ mà lại lắm thủ đoạn như vậy. Xét cho cùng, những gì con ông đã làm cũng vì lòng tham, mà lòng tham này lại bắt đầu từ ông. Nhưng sự việc đã đến nước này, ông đành phải theo nó.

Ngay sau ngày ông Dần chuyển nhà, cha con ông Mão ra gốc đa xác định vị trí cần đào. Hai cha con hì hục đào cả ngày mà chẳng thấy gì. Tối lại đào tiếp. Cho đến chiều ngày sau thì thấy một chiếc hũ. Người con khệ nệ bê chiếc hũ về rồi vội vàng cạy nắp. Khi nắp hũ được mở, một tiếng nổ phát ra, kèm theo một đám khói màu đen. Thằng con ông Mão lịm tại chỗ. Ông Mão thấy vậy, chạy lại, cũng bị choáng váng. Ông không còn lòng dạ nào mà xem trong hũ có gì, vội cất đi. Từ đấy người ông cứ suy kiệt dần như hiện nay.

Kể xong câu chuyện, ông Mão bảo:

- Chuyện là như vậy, không phải ma quỉ gì đâu. Vậy bác nên dọn về nhà mà trông nom thổ cư của mình… Còn điều này nữa: số vàng đào được, tôi vẫn chưa dùng. Tôi xin biếu bác một nửa, gọi là chút lộc trời. Có như vậy tôi mới bớt ân hận về những gì đã xẩy ra, để lòng tôi được thanh thản phần nào trước khi xa lìa cõi đời này.

Nghe xong câu chuyện, ông

Dần bảo:

- Thế là bố con chú đã hít phải hơi độc. Người xưa giấu của thường kèm theo chất độc. Ai không biết thì trúng độc. Rất tiếc, nếu tôi biết sớm, có thể đã cứu được cháu. Bây giờ trước hết phải chữa cho chú khỏi bệnh đã. Bệnh này người ta vẫn chữa bằng cá trê và rau bầu khai, rất hiệu nghiệm. Cá trê là loài sống được trong bùn, có sức chống chịu khí độc. Ăn cá trê vào, chất độc ở gan ta sẽ được thải ra. Còn rau bầu khai mọc hoang ở rừng, sống tinh khiết nhờ đất rừng và khí trời. Ăn rau này có tác dụng trợ thận, tiêu độc. Bắt đầu từ ngày mai, chú phải dùng hai thứ này, trong 7 ngày, sẽ khỏi.

Quả như thuốc tiên, ông Mão đã khỏi bệnh. Ông nhắc ông Dần về chuyện nhà và chuyện vàng. Ông Dần bảo:

- Chuyện chuyển nhà, chú để tôi suy nghĩ thêm; còn chuyện chú cho vàng thì tôi xin cảm ơn lòng tốt của chú, nhưng…

Ông Mão bối rối:

- Anh đừng ngại gì nữa. Em thật lòng mà!

Ông Dần chậm rãi:

- Tôi biết chú thật lòng, nhưng tôi không dám nhận. Đơn giản thôi, vì tôi đã nghiệm thấy rằng, ở đời, phàm cái gì không phải do mồ hôi, công sức do mình bỏ ra để có, thì không nên hưởng. Nếu ta cố hưởng, thì có thể hậu họa sẽ khôn lường…

Nghe ông Dần nói vậy, mặt ông Mão bỗng biến sắc. Bất giác ông lại thút thít khóc. Tiếng khóc của ông thật não nề và buồn thảm. Có lẽ ông đang nghĩ đến những gì đã xẩy ra và hậu quả của chúng bởi lòng tham của mình.

Nguyễn Văn
(TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 489

Ý Kiến bạn đọc