Truyện ngắn

Chuyện ở Sà Tang

Đến 9 giờ đêm, bầu Năm Trình mới dò dẫm tới bờ sông Lơ Quanh. Dòng nước chảy xiết. Đá tảng xếp lô nhô. Hai bên bờ là rừng cổ thụ thâm u. Xuyên qua kẽ lá, ẩn hiện một mảng trời đầy sao và ánh trăng thượng tuần chếch bóng. Tiếng thác đâu đây vọng lại nghe ì ầm. Gọi là sông, chứ thực ra Lơ Quanh chỉ là một con suối lớn rộng chừng mươi sải tay. Đường đi hiểm trở. Cắm cây xà beng xuống đất, Năm Trình từ từ tháo ba lô trên vai, giọng đứt quãng:

- Tối nay… nghỉ ở đây…

Mọi người tản ra xung quanh, tự tìm cho mình một chỗ ngả lưng. Ai nấy đều mệt lử. Ngoài ba lô trên 10 ký, mỗi người còn phải vác thêm dụng cụ như máng gỗ, mâm sắt, nồi, xô… Riêng Tân mới đi núi lần đầu, lại thuộc dạng “công tử bột” nên được đặc cách vác cây rựa con con. Vẫn giữ nguyên ba lô căng phồng trên lưng, Tân ngả người lên thảm lá mục. Người ta nói, dưới lớp lá ẩm ướt trong rừng sâu thường có các loài bò sát nguy hiểm chết người. Mặc. Mệt mỏi khiến Tân không còn cảm giác sợ hãi. Tân vừa tốt nghiệp một trường sư phạm, đang ở nhà đợi phân công công tác. Nghe Năm Trình nói mới nổ bãi vàng ở Sà Tang, nhiều người trúng đậm. Tân năn nỉ xin đi một chuyến cho biết, hy vọng nếu gặp vận may, kiếm được số vốn lận lưng. Sau khi sắm chuyến xong, Năm Trình cho quân tập trung lại một chỗ nghỉ ngơi. Đúng 3 giờ sáng, bầu bạn nhằm hướng Tây xuất phát. Bầu có 5 người. Ngoài Năm Trình làm trưởng bầu – tuổi trung niên, còn lại đều là trai tráng trong xóm. Cả nhóm đi thành hàng một, im lặng băng đồng, vượt dốc trong ánh đèn pin tù mù. Đi không nghỉ. Khi trời hửng sáng thì cũng vừa tới bìa rừng. Năm Trình cho nhóm dừng lại ăn uống lấy sức, dặn dò thêm những qui định khi lên núi: bám sát đội hình, dừng nghỉ đúng trạm, tuyệt đối theo lệnh bầu trưởng. Kiêng cữ từ “vàng”. Đãi vàng gọi là “Sắm chuyến”, vàng li ti là “Cám”, vàng bằng hạt cát trở lên là “Già làng”; nhóm người đi đãi vàng gọi là “Bầu”, người gọi là “Quân”, lán trại là “Đôn”… Uống một ngụm nước lấy hơi, Năm Trình giải thích: “Đây là tiếng lóng của dân sắm chuyến. Rất thiêng. Kinh nghiệm, nếu chuyến đi nào mà “phạm húy” thì sẽ trắng tay. Nhấc mình ra khỏi ba lô, Tân tự xoa bóp tay chân, vừa hình dung lại quãng đường đã đi qua. Mỗi bước chân là một giọt mồ hôi rơi trên mũi giày. Đến khi không còn mồ hôi nữa, vẫn tiếp tục leo dốc, đạp lên mỏm đá, bám lấy cây rừng mà bườn tới. Ai cũng xác định rằng, nếu dừng nghỉ một chút thì sẽ tạo sức ì, không nhấc chân lên nổi. Ở trong rừng, có nhiều cái đôn của dân điệu (tìm trầm) dựng tạm trên đường đi. Khoảng cách giữa hai trạm dừng chân được tính bằng đơn vị thời gian là hai tiếng đồng hồ. Nghỉ ngơi ở đôn mới đảm bảo an toàn. Mất cả ngày trời, nhóm bầu Trình mới vượt qua những cái dốc có tên tuổi như Dốc Đá, Dốc Dài, Dốc Bà Tiến, Dốc Đầu Trâu, Dốc Cải… Đoạn bằng phẳng nhất là suối Nước Mai. Suối Nước Mai lúc nào cũng tối om, phải bật đèn pin mới thấy đường đi. Nước xăm xắp. Cát mịn. Lạnh nhức xương. Bên trên đầu, rễ cây rừng đủ cỡ đan chằng chịt, hình thù kỳ quái. Cảm giác giống như đi vào bụng của một con trăn khổng lồ, mà dân đi núi gọi là “Ông Dài”. Hồi nhỏ Tân đã nghe người ta kể chuyện, có con quái vật sống ở rừng, hình dáng giống thuồng luồng dưới nước, khi gặp đoàn người, nó há miệng hút một cái là tất cả chui tọt vào bụng. Vì lực hút quá mạnh nên người đi đầu văng ra khỏi hậu môn của nó!

Qua hết đoạn suối Nước Mai cũng non nửa buổi. Ở rừng già, mới 3 giờ chiều trời đã sụp tối. Con đường dốc ngoằn ngoèo chỉ vừa một người đi. Tướng bầu Trình to cao như Tây, lúc nào cũng băm băm đi trước dẫn đường, vừa đi vừa đằng hắng liên tục. Khi đến sông Lơ Quanh, bầu Trình ngồi thở dốc, tiếng đằng hắng cũng im bặt.

- Béo… Hụm! Béo… Hụm!

- Tiếng con gì ghê vậy? – Mọi người hoảng hốt.

- Ông ba mươi đấy! – Năm Trình thản nhiên nói, rồi ra lệnh – Tìm củi khô gom lại thành đống, đốt lửa lên.

Tiếng gầm từ hướng Suối Cọp, cách khá xa. Do đang ở khu vực thung lũng, âm thanh bị núi Sà Tang dội lại nên tưởng gần kế bên.

Tân chen vào ngồi gần đống lửa, tay thủ sẵn một khúc củi đang cháy hừng hực. Thấy vậy, một anh bạn chọc quê:

- Mấy ổng hay lựa thỏ đế núp ở trong cùng. Thịt ngon.

Anh-minh-hoa---Chuyen-o-Sa-Tang

Đám thanh niên cười xòa. Lúc ăn cơm xong, Năm Trình kể chuyện chuyến đi trước gặp mạch “Già làng” bên bờ Suối Cọp. Bầu của ông có 9 người. Hôm đó đánh tới ngày thứ chín mới chỉ được một “ống” cám. Ống là cái ve bằng nhựa nhỏ tí đựng bột vani. Đầy một ống cám tương đương một chỉ. Gần hết lương thực. Chán nản, quân bầu Trình cự cãi bỏ về. Còn lại một mình, Năm Trình quyết định đánh du kích để gỡ lại vốn sắm chuyến. Qua ngày hôm sau, Năm Trình gặp một dân đi điệu (tìm trầm) lang thang một mình trong rừng. Anh bạn trẻ mặc bộ đồ công nhân rách bươm, nước da xanh mét, hỏi xin cơm ăn. Năm Trình nhường anh bạn khẩu phần ăn trưa. Tự nhiên ở giữa rừng sâu gặp được bạn, Năm Trình vui ra mặt, liền mời anh ta cùng ở lại đôn. Việc ai nấy làm, đúng giờ về ăn cơm.Liên tục trong hai ngày liền anh bạn trẻ lên cơn sốt rét, nằm co quắp, rên hù hụ. Vét nhúm gạo cuối cùng, Năm Trình nấu nồi cháo loãng, soạn liều thuốc trị sốt rét để trên nắp vung. Chờ anh bạn trẻ ăn cháo, uống thuốc xong, Năm Trình vác đồ nghề ra suối. Đã hai ngày trôi qua, Năm Trình không đãi được một mảy cám nào. Hết gạo. Hôm nay buộc phải về. Còn anh bạn trẻ bị bệnh thì sao? Bỏ lại thì không đành. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc này, chẳng tìm được ai giúp đỡ. Buôn làng người dân tộc nằm tận trên đỉnh Sà Tang, cõng anh ta lên đó còn khó hơn xuống núi. Tối hôm, anh bạn trẻ kể chuyện gia đình anh ta ở Phú Yên, mới cưới vợ được vài tháng. Vợ đang có bầu. Thấy chạy xe thồ thu nhập không ổn định, anh ta theo dân đi điệu lên rừng tìm vận may. Tính ra, anh bạn trẻ mới đi được 3 chuyến trầm. Dân điệu cũng sắm chuyến, rủ bầu bạn theo nhóm, nhưng khi vô rừng thì chẻ quân ra, đi tìm cây gió. Mỗi người có một kiểu làm dấu riêng, để nhớ đường về đôn. Chuyến đi kéo dài cả tháng. Rất hiếm khi gặp may tìm được trầm xịn. Thường là trầm sái. Vừa về tới nhà là có bọn “Tàu cơ” đến mua liền. Trung bình một chuyến kiếm được vài triệu. Có tháng mo. Lỗ. Lại còn mang cái bệnh sốt rét vào thân. Anh ta nói trong cơn mê sảng: “Chuyến này về không đi điệu nữa, sẽ học nghề sửa xe, làm việc gần nhà tiện đỡ đần cho hai mẹ con…”.

Đang tập trung suy nghĩ, bỗng có tiếng chó sủa dữ dội ở phía đằng đôn. Giật mình, Năm Trình buông cái mâm đang đãi sái, linh tính có điềm chẳng lành thoáng qua trong đầu: chó sói đang tấn công thằng nhỏ! Chụp cây rựa, Năm Trình chạy như bay về phía cái đôn. Bầy chó nhe nanh hung tợn khi nhác thấy có người lạ đang chạy đến. Con đầu đàn to lớn, màu đen tuyền đứng quan sát Năm Trình không rời mắt. Hai con đốm vòng ra hai bên tạo thế gọng kìm. Mấy con chó còn lại sục sạo quanh cái đôn, chốc chốc lại đưa mõm liếm vào người anh bạn đang nằm. Chúng đông quá. Biết lũ chó ngại tấn công dưới nước, Năm Trình phóng mình xuống suối, bơi lại gần chỗ cái đôn. Tiếng chó sủa rân, làm vang động cả núi rừng. Lặn xuống lấy cục đá, Năm Trình ngoi lên ném vào con đầu đàn. Hụt. Cục đá thứ hai. Lại hụt.

- Ẳng, ẳng!

- Mực! – Có ai đó ném cây roi mây trúng một con chó, kèm theo tiếng quát – Mực. Im!

Lũ chó cụp đuôi. Thì ra là bầy chó của người Ba Na đi săn.

- Xin lỗi, làm người anh em sợ…

Một người đàn ông đóng khố, mặc áo cộc tay, cổ xẻ hở ngực, chạy đến chìa tay kéo Năm Trình lên bờ, ông ta nói giọng Kinh khá sõi:

- Nghe tiếng chó sủa, mình biết có người đãi vàng trái phép ở đây. Chó nhà mình chỉ biết săn con thú thôi, không biết cắn người đâu.

- Người anh em ở làng Sà Tang à? – Năm Trình nhướng mày hỏi.

- Mình là cán bộ Sà Tang đấy – Người đàn ông chỉ vào cây AR-15 khoe – Mình được huyện nó cấp cái súng, giao nhiệm vụ không cho người Kinh lên Sà Tang đãi vàng. Các anh lên đây đào núi, chặt cây phá rừng, làm hư con sông con suối của Nhà nước. Các anh về đi. Dân làng chúng tôi không ưng cái bụng đâu.

- Đang chuẩn bị về đây – Năm Trình chỉ vào đôn – Có thằng đang bệnh kìa. Có thuốc gì chữa bệnh cho người anh em không?

- Nó bị sốt rét à? – Chủ của mấy con chó bước lại gần người bệnh, săm soi một lúc rồi nói – Cái này chịu thôi. Người làng mình chỉ biết uống nước rễ cây rừng phòng bệnh thôi, chứ không chữa được đâu.

Chợt ông ta kêu rú lên hốt hoảng:

- Ơ… Nó chết rồi! Xem cái gì nè…

Bên người anh bạn trẻ có để tờ giấy bạc bao thuốc lá, ghi mấy dòng chữ nguệch ngoạc bằng bút chì: “Bệnh em không qua khỏi. Anh cho em nằm lại đây. Phiền anh báo cho gia đình em biết. Số điện thoại. Địa chỉ. Cảm ơn anh đã giúp đỡ em trong mấy ngày qua… Em đi đây. Vĩnh biệt!”.

Năm Trình lặng người.

Rít một hơi thuốc lá, Năm Trình kể tiếp:

- Tao và ông dân tộc ấy lấy tấm pông-xô cuốn thằng đi điệu lại, đào huyệt chôn ngay dưới cái đôn. Lúc đào huyệt, nhìn lớp đất đá có mạch cát sỏi màu xanh xám ăn dọc theo bờ suối. Nghi là dải cám, tao hốt một túi nhỏ đem về nhà đãi. Trúng. Một chỉ.

- Vậy là sáng mai mình đi thẳng tới Suối Cọp hả chú Năm? – Một thằng bạn mắt sáng rỡ hỏi.

- Từ từ nghe ngóng tình hình sao đã – Năm Trình gật gù – Chắc chắn là tụi Phú Yên hốt xác thằng nhỏ về rồi. Cả tháng nay còn gì. Công nhận tụi đi điệu giỏi, mới tả sơ sơ mà nó nói ngay chóc chỗ đó. Nhưng vụ đất có già làng thì dân điệu dở bẹt. Phải có nghề mới biết.

Vốn tính cẩn thận, Năm Trình cho quân cắm trại ở cù lao giữa sông. Ông trưởng bầu lý giải: “Dòng chảy tạo ra khí oxy, cộng với hơi nước bốc lên sẽ làm loãng khí carbonic độc hại của cây cối ban đêm thải ra. Hơn nữa bọn thú dữ ban đêm không dám lội sông vì sợ nước lạnh và đá trơn. Chỉ cần đốt một đống lửa nhỏ sưởi ấm là an toàn tuyệt đối”. Có lẽ vì thấm mệt nên mọi người lăn ngay ra ngáy khò. Riêng Tân mặc dù xương cốt ê ẩm, nhưng Tân không sao chợp mắt được. Xung quanh toàn một màu đen kịt. Ngoài tiếng thác đổ ra, còn vô số âm thanh hỗn tạp quyện vào nhau. Càng về khuya núi rừng càng bí hiểm. Thú dữ đã thôi gầm rú. Thỉnh thoảng, lại có tiếng cây mục gãy răng rắc, tiếng lá khô lạo xạo bên bờ sông, khiến Tân nín thở. Canh chừng nửa tiếng đồng hồ, Tân ngồi dậy đốt thêm củi khô. Lạ một điều, tuy nước sông lạnh ngắt nhưng các phiến đá bàng lại tỏa nhiệt ấm áp, giống như một sinh vật đang sống! Bỗng có tiếng động lạ từ trong lòng đá phát ra, mỗi lúc một lớn. Tân cố phân tích âm thanh. Tiếng nước chảy. Tiếng đá lăn. Tiếng cây gãy đổ. Tiếng thét của muôn thú… Tiếng mưa. Chẳng có dấu hiệu gì trời mưa. Ngọn gió mạnh vừa thổi qua làm đung đưa tàng cây cổ thụ, nhìn thấy một vài ngôi sao rất gần. Có khi nào mưa lũ ở thượng nguồn đổ về không? Tân nhíu mày suy đoán. Lại áp tai vào đá. Lần này thì Tân nghe rất rõ tiếng nước đang đổ về ầm ầm, tiếng loài chim ăn đêm gào lên thất thanh. Tân ngồi choàng dậy. Ngọn gió mang hơi nước từ núi Sà Tang ùa thốc xuống, lạnh sởn tóc gáy.

- Dậy, dậy! – Tân gọi to – Lũ tới kìa, chạy mau!

- Ông nội Tân mớ ngủ nữa rồi! – Thằng bạn càu nhàu.

- Lũ trên nguồn về, chú Năm! – Giật cái mền trên người Năm Trình ra, Tân gào lên – Chú Năm… Lũ gần tới rồi! Chạy!

Nghe ngóng một lúc, Năm Trình chợt vùng dậy ra lệnh:

- Rút khỏi đây nhanh. Gom đồ nghề theo tao, chỗ mỏm đá nào màu đen thì bước lên, màu trắng thì tránh xa ra…

Người cuối cùng của bầu Năm Trình vừa lên bờ thì lũ ống cũng vừa quét tới, nước cuộn xoáy bắn tung tóe. Bóng đêm ma quái trùm xuống. Cù lao ở giữa sông bỗng chốc biến thành dòng thác hung dữ.

*
Suối Cọp là một con suối hẹp, chạy ngoằn ngoèo quanh thung lũng Sà Tang, rồi chảy ngược lên vùng thượng nguồn con sông Ba. Theo lời Năm Trình kể, rừng ở đây còn nguyên sinh, thảm thực vật và động vật phong phú, quí hiếm. Người đi rừng thường hay gặp dấu chân thú to bằng cái bát, có năm vuốt nhọn hoắt in sâu trên nền đất ẩm ướt. Lâu lâu người ta nghe tiếng cọp quần thảo đánh nhau. Từ ngày nổ ra bãi vàng ở Sà Tang, thú dữ di chuyển sang địa bàn lân cận hoặc ngã ba Đông Dương. Nghe đồn vì không còn đất sống, cọp thường vào các lâm trường bắt công nhân…

Vừa qua khỏi Suối Vắt một đoạn, bầu Năm Trình đã nghe tiếng cây gãy đổ, tiếng người ta í ới gọi nhau.

- Suối Cọp nổ bãi rồi! – Năm Trình thốt lên.

Đến nơi, mọi người sững sờ. Nguyên một khu rừng rộng lớn như vừa hứng chịu một trận ném bom tàn khốc. Cây cối nghiêng ngả bật gốc, phơi cả bộ rễ to loằng ngoằng. Đất đá bị đào bới tứ tung. Suối Cọp biến mất giữa cảnh hoang tàn. Người đãi vàng ở đâu đổ về đông như kiến. Chỉ bằng sức người và dụng cụ thô sơ, núi rừng đầu nguồn Sà Tang bị lật tung lên. Đi đâu cũng gặp hầm sâu tun hút, đất đá nhão nhoét. Thấy bầu Năm Trình mới đến, một bầu bạn đang khui hầm gần đó ngoắc lại tâm sự:

Ở dưới thung lũng dân anh chị có số má tranh giành hết rồi. Một mét vuông ở dưới có giá đắt đỏ như đất thành phố. Đào hầm trên triền dốc này hên xui anh ạ. Ở tỉnh nào đến vậy?

Năm Trình đánh trống lảng:

- Các anh đến mấy ngày rồi? Được mấy ống?

- Hơn tuần rồi anh – Một ông tóc hoa râm thở dài – Ngày nào cũng có người chết vì cây đè, sụp hầm. Có người bị vùi sâu dưới lớp đất đá, không lấy xác ra được. Vàng đâu không thấy, chỉ nghe lời đồn thổi là nhiều. Ở khu vực này đầy dẫy dân anh chị tứ xứ anh ạ. Các dịch vụ ăn theo rần rần. Giá trên mây. Có cả cho vay nặng lãi, gái gú phục vụ nếu có nhu cầu…

Nói đoạn, ông ta nháy mắt cười khẩy.

- Mấy anh có biết ngã ba suối, nó nằm ở đâu không? – Năm Trình nheo mắt – Đoạn giữa thác Pờ Nay ăn thông qua suối Bù Mắt đó?

- Ngã ba Suối Cọp chứ gì? – Một gã thanh niên ở trần, ngực và lưng xăm con đại bàng xanh lè, dừng tay đào hầm quay sang góp chuyện – Banh xác rồi. Chuyến trước tui vào còn thấy nó. Người ta chặn dòng, bức tử con suối. Sức mạnh của con người ghê thiệt chớ. Cây cổ thụ mấy người ôm không hết còn bị bứng luôn cả gốc, nói chi là sông suối. Nghe nói ở ngã ba Suối Cọp, bầu tụi Phú Khánh đào lên có cái xác còn tươi… rói.

- Trời đất! – Năm Trình buột miệng.

- Thì đó, chết rồi vẫn khổ! – Gã xăm mình lắc đầu – Tụi nó chôn cái xác lại kế bên. Mấy thằng này vừa rút đi thì bầu tụi Gia Lai nhào vô kiếm sái. Lại chôn cái xác trong bìa rừng. Khi bãi Suối Cọp rộ lên, nghe đâu cái xác bị chuyển đi mấy lần nữa rồi mất tiêu luôn. Mẹ nó, chết mà còn hổng được yên.

Suốt cả buổi sáng, Năm Trình lơ ngơ như mất hồn, ông dẫn quân băng ngược lội xuôi trong bãi vàng tìm tìm kiếm kiếm. Bầu trời Sà Tang đang trong xanh bỗng chuyển sang u ám. Tân phán đoán thế nào trời cũng mưa. Chỉ cần một trận mưa đủ lớn, núi sẽ sạt lở, kéo theo lũ ống, lũ quét đổ về miền xuôi gây lụt lội. Bất giác Tân rùng mình nhớ lại những trận lũ lụt kinh hoàng ở quê. Có phải thiên nhiên đang phẫn nộ. Và con người đã bị trả giá!

Trần Anh Dũng
(Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 455

Ý Kiến bạn đọc