Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Chuyện người chuyện ta

Kỳ cuối (Tiếp theo số báo 456, ngày 29-6-2017)

Từ chuyện người xem lại chuyện ta

Một ngày tháng 5 vừa qua, tại New Orleans, tượng đài tướng Robert E. Lee Tổng Tư lệnh và mấy tướng lĩnh tên tuổi trong quân đội Hợp bang miền Nam ly khai tạo nên cuộc nội chiến đẫm máu ở Hoa Kỳ nửa sau thế kỷ XIX, đã bị hạ bệ. Chuyện quá khứ của người ta nhưng lại làm không ít người Việt chạnh lòng nhớ hoài cái biểu tượng mấy ông tướng thất trận đứng hiên ngang trên bệ cao cả chục mét giữa quảng trường, đêm ngày kiêu hãnh trước những dòng người qua lại dưới chân. Bởi vì lâu nay người ta cứ lấy đó làm tấm gương sáng văn minh của lịch sử Mỹ để chê bai lên án những người thắng cuộc đối xử vô nhân với những người thua cuộc trong cuộc chiến tranh lâu dài, khốc liệt ở Việt Nam.

Chuyện đã qua gần nửa thế kỷ nhưng những người thiện tâm dù ở bên này hay bên kia, đang sống trong lòng quê hương hay nơi góc biển chân trời nào, nghĩ lại một thời lịch sử đều cảm thấy vừa rất hào hùng vừa lắm đau thương. Vinh quang tới đâu cũng không thể mài ra mà ăn được, phải tự mình khởi nghiệp mới mong một tương lai sáng sủa. Đau thương, theo năm tháng, với người này có thể phai nhạt dần đi, nhưng với người kia cứ bị dày vò nhức nhối uất hận mãi không nguôi. Thôi thì buồn vui mỗi người tự tạo cho mình. Có điều là nhiều người nhìn nước Mỹ qua những tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo nên một cuộc sống văn minh, qua cách tạo ra một xã hội trong đó ranh giới tự do của mỗi cá thể được nới rộng hơn, khiến người ta cảm thấy thoải mái không làm vướng bận cuộc sống đời thường. Đó là căn nguyên dẫn gọi nhiều người ở mãi nơi cùng trời cuối đất. Nhưng chẳng mấy ai tìm hiểu sâu lịch sử Hoa Kỳ để nhận chân văn hóa Mỹ. Một số người gọi là trí thức, đọc một ít sách, biết một số chuyện, lượm lặt sự lạ điều hay đem phóng đại lên đưa ra ngợi ca quảng bá chỉ nhằm thực hiện ý đồ riêng. Nhân chuyện này, trong khuôn khổ giới hạn, người viết xin nêu ra vài ý:

Thứ nhất:

Cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất non sông vừa qua của nhân dân Việt Nam khởi đầu từ khi quân Pháp chiếm lục tỉnh Nam kỳ, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới tới ngày toàn thắng, kéo dài hơn 100 năm, là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bản chất khác hẳn cuộc nội chiến của Hoa Kỳ. Đó là truyền thống yêu nước, thế hệ sau tiếp thế hệ trước hướng tới một mục tiêu duy nhất. Thể hiện đồng nhất qua tuyên bố của các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến trước nhân dân cả nước sau ngày 30 tháng Tư: “Đây là thắng lợi của toàn thể nhân dân Việt Nam. Kẻ thua là thế lực ngoại bang xâm lược và bè lũ tay sai chống lại lợi ích của dân tộc và Tổ quốc”! Đó là cơ sở để mỗi người Việt Nam tự xác định chỗ đứng cho mình.

Bốn năm chiến tranh (1861-1865), Hoa Kỳ chịu nhiều tổn thất to lớn về mọi mặt: 550.000 người chết, đất nước tan hoang ở cả hai miền Nam Bắc, dân tình phân tán cả thế kỷ mới dần hàn gắn lại. Nhưng điều chủ yếu đã đạt được là “gia đình Liên bang trên thực tế không còn bị chia rẽ nữa”, là nền tảng căn bản và với nguồn tài nguyên phong phú, bản chất năng động sáng tạo của một hợp chúng quốc, Liên bang Mỹ mau chóng vượt lên vị trí hàng đầu thế giới.

Việc hạ bệ những tượng đài lịch sử ấy mang ý nghĩa: Đã đến lúc người Mỹ bày tỏ thái độ đoạn tuyệt vĩnh viễn với sự chia cắt phân ly đất nước sau thời gian chờ đợi lâu dài. Người Việt đồng cảm với nhân dân Mỹ.

Thứ hai:

Người ta chỉ khai thác vài hình ảnh đặc thù mang tính văn chương như: Nào là khi tướng Lee từ phòng họp đi ra, lên ngựa rảo qua, các sỹ quan và binh lính miền Bắc đứng quanh đều đồng ngả nón chào kính vị tướng trong quân đội Hợp bang miền Nam bại trận; Nào là tướng Grant ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ vui mừng của binh sỹ miền Bắc thắng trận vì “Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”, để giữ sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong một cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ; Nào là “Tướng Lee và các sỹ quan binh lính của miền Nam thua trận đã không bị giam giữ như tù binh chiến tranh”; Nào là “Những binh sỹ chết trận của cả hai phe thắng bại đều được chôn xen kẽ trong cùng một khu mộ, nơi có tấm bia ghi rõ “Nơi đây là chỗ nằm xuống của tất cả những người vì nước Mỹ”… Coi đó là tấm gương mã thượng giữa người thắng với kẻ thua. Trong khi người ta ra sức khai thác những góc độ tiêu cực khiếm khuyết của thời hậu chiến để xuyên tạc, kích động chủ trương “hòa hợp dân tộc, người trong một nước phải thương nhau cùng” của Chính phủ Việt Nam thống nhất. Họ cố tình lờ đi ý nghĩa nhân văn lớn nhất chỉ có được ở một cuộc chiến tranh giải phóng chính nghĩa do một Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo là không hề có dấu vết của một cuộc tắm máu trả thù, điều mà các thế lực chống đối luôn gieo rắc hoang mang và mong đợi. Đừng quên đây là một cuộc chiến tranh giải phóng pha màu sắc ý thức hệ quyết liệt nhất, tàn khốc nhất, lâu dài nhất, đau thương nhất với một thời hậu chiến cực kỳ phức tạp, gian khổ, dằng dai, tưởng chừng không lối thoát.

Người viết tìm đọc sách sử Hoa Kỳ, ghi nhận được rằng: Tướng sỹ dưới quyền tướng Lee không có ai bị xử tử, song tất cả phải trải qua giam giữ trong khoảng 2-4 năm cho tới khi một đạo luật ân xá được thông qua vào tháng 5/1866. Và phải thêm 6 năm sau đó, những tù binh này mới được trao lại quyền công dân theo đạo luật năm 1872. Cần nhớ luật ân xá này không áp dụng với 500 chỉ huy quân sự cao cấp của Hợp bang miền Nam. Những “đồng bào nổi loạn” ở miền Nam vẫn bị tước quyền bầu cử và những người Cộng hòa cấp tiến vẫn bằng mọi cách khống chế những kẻ chiến bại ngoan cố và dùng cả vũ lực khi cần! Chính người dân Mỹ ở cả 2 bên cũng thừa nhận phải mất thời gian 40-50 năm, người Mỹ mới hàn gắn được những tổn thất lịch sử quá lớn do chiến tranh gây ra để chung nhịp thở và đồng bước song hành. Đặc biệt 100 năm sau (1968), hậu duệ những người Phi nô lệ mới hoàn toàn được hưởng mọi quyền công dân bình đẳng với người da trắng đúng lúc nước Mỹ đang rất cần có lính quân dịch đưa sang Việt Nam! Và thêm 20 năm nữa (1988) với những người cầm đầu phe ly khai mới được ân xá về tội lỗi của họ. Tính ra phải mất 152 năm sau ngày kết thúc chiến tranh (1865-2017), biểu tượng cuối cùng của miền Nam nước Mỹ chủ động ly khai khỏi Liên bang gây ra cuộc nội chiến Nam-Bắc, đã bị người Mỹ vĩnh viễn xóa đi để khỏi ai còn vương vấn đến một thời lịch sử đen tối nữa!

Người Việt Nam thấm nhuần tư tưởng nhà Phật: “Lấy oán trả oán, oán ấy trùng trùng. Lấy ân trả oán, oán ấy tiêu vong”. Đại sứ Mỹ Ted Osius khá rành người Việt cả về góc độ văn hóa và chính trị, rất có lý khi ông nhận xét: “Không có đâu hướng tới tương lai và tha thứ hơn Việt Nam”.

Thứ ba:

Trước sự thật là một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền dân tộc, vượt qua nhiều trở ngại chông gai đang từng bước đi lên. Trước sự ủng hộ và niềm tin của bạn bè thế giới, các thế lực thù địch bên ngoài kết hợp với bọn cơ hội, phản bội trong nước càng ra sức chống phá và bày ra những mưu toan nham hiểm. Gần đây chúng mưu toan dựng dậy cái chính thể Việt Nam cộng hòa trước đây đã là một thây ma thối rữa, giờ tân trang phục chế hà hơi tiếp sức cho nó để thành một con rối quấy phá sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam phát triển, giữ vững chủ quyền dân tộc, bảo vệ vững chắc biên cương lãnh thổ, hòa nhập vào thế giới tiến bộ văn minh. Trước hết chúng tung tin Việt Nam cộng hòa trước đây là một thực thể chính trị được nhiều nước trong cộng đồng thế giới công nhận. Rồi chúng sẽ lấn tới bước nữa vu cáo miền Bắc đã xâm lược miền Nam là vi phạm luật pháp quốc tế. Cùng với sự nhào nặn ra những tổ chức phục quốc cả ở ngoài nước và trong nước, chúng sẽ đưa ra cái nội dung hòa hợp, hòa giải theo ý chúng nhằm trước mắt là xóa nhòa ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, sau là phủ định nhà nước Việt Nam hiện hữu, tiến tới thành lập một Quốc gia Việt Nam hổ lốn, sẽ gây hỗn loạn xã hội khó lường!

Cần phân biệt rõ: Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975, trên nước Việt Nam thống nhất chỉ có một “Chính thể độc lập” Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những vùng lãnh thổ gọi là “Nam kỳ quốc” (1946-1949), Quốc gia Việt Nam (1948-1954), Cộng hòa Việt Nam (1955-1975) chỉ là những “Thực thể chính trị” do Pháp và Mỹ nặn ra – Nó là ngụy tạo!

Đáng buồn là nhiều nhà sử học trụ cột, dưới chiêu bài “đổi mới nhận thức sử học” nếu không là đầu têu thì cũng đồng tình mập mờ với khái niệm này.

Không người Việt Nam yêu nước nào chấp nhận lời rao bán nước của Ngô Đình Diệm: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài từ Alasca tới vĩ tuyến 17”! Ngay những người đứng đầu chính quyền và quân đội của cái gọi là nền Đệ nhị cộng hòa sau đó, khi đã mất sạch, họ cũng tự nhận là tay sai của ngoại bang. Điều này, khi cần, Bộ Ngoại giao, các nhà lập pháp và Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ có tiếng nói cuối cùng.

Người viết trích giới thiệu một phần bài viết “Ý nghĩa cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975” của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, chủ mạng Sách hiếm (Nguồn http://sachhiem.net/NMQ/NMQ037.php) giúp bạn đọc làm căn cứ:
“Tại Hội nghị Geneva 1954, chỉ có hai phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp trực tiếp bàn luận với nhau, chứ phái đoàn của chính quyền bù nhìn Bảo Đại (gọi là phái đoàn của chính quyền Quốc gia) không được tham dự vào các cuộc bàn thảo của hai thế lực này.

Không có một điều khoản nào trong Hiệp định Genève chia hai miền Nam-Bắc ra làm hai.

- Điều khoản 1 (Article 1) “một đường ranh giới quân sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn ranh giới.

- Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc vĩ tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French).

- Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi chờ đợi cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa hiệp” (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).

- Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau: “Hội nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI (THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY). Hội nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên ngôn này và trong Thỏa hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”…

Nói rằng miền Bắc xâm lăng miền Nam là xuyên tạc lịch sử. Sự thực rõ ràng là:

a- Miền Nam là một phần lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam,

b- Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới quyền lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thủ đô là Hà Nội là chính quyền hợp tình với dân tộc và đất nước, hợp lý với tất cả mọi thành phần trong xã hội, và hợp pháp được toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới đều công nhận. Công pháp quốc tế cũng đã công nhận thực trạng chính trị này của chính quyền Hà Nội. Do đó, chính quyền Hà Nội có quyền đem quân trú đóng ở bất kỳ nơi nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam kể cả miền Nam vĩ tuyến 17 để phục vụ cho nhu cầu quốc phòng của đất nước. Việc này không khác gì việc làm của chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Lincoln (1861-1865) đã di chuyển và đem quân trú đóng trong các tiểu bang miền Nam trong thời Chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ (1861-1865) sau khi ông nói “Hỡi những đồng bào bất mãn! Chính do nơi tay các bạn chứ không phải do nơi tay chúng tôi, đã tạo nên cuộc nội chiến này”.

19 năm sau Hội nghị Geneva, ngay sau khi Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam được ký kết, người cùng với ông Lê Đức Thọ chủ trì thiết kế nội dung Hiệp định là ông Henry Kissinger, sang thăm Việt Nam. Tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Hà Nội, được xem và nghe dịch bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt mà người Việt Nam coi như bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên, trưng bày trang trọng, ông ta nói vui: “Đây là Khoản Một, Điều Một của Hiệp định!”. Nghĩa là từ tháng 8 năm 1945, nhân dân ta giành lại được nước, thành lập quốc gia độc lập, chưa có chủ thể chính trị chính thống nào thừa nhận sự phân ly lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất.

Kết luận

Lão Tử nói: “Người hiểu biết chưa hẳn là người học rộng. Kẻ học rộng chưa hẳn là người hiểu biết”. Người học rộng được hiểu là người có bằng cấp cao, bằng cấp càng cao chứng tỏ sự học càng rộng. Người hiểu biết được hiểu là người thấu hiểu nhân tình thế sự, ứng biến hợp lòng người, thuận đạo trời, làm việc gì dù khó mấy cũng trôi chảy nhẹ nhàng. Đạo trời chỉ làm việc lợi mà không làm việc hại. Ai muốn nổi mình lên sẽ tự làm mình chìm xuống. Ai muốn người biết mình sẽ không tự biết mình là ai. Vốn học và sự hiểu biết không hẳn lúc nào cũng là điều thuận.

Giá như công tác cán bộ hiện nay ngoài những quy trình quy chế quy định chung chung, biết xem xét vận dụng nhuần nhuyễn những lời dạy của người xưa hẳn không là điều vô ích.

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 457

Ý Kiến bạn đọc