Truyện ngắn

Chuyện một người chiến sĩ quân báo

 

Sáng 23/4/2019, trong ánh nắng chói chang đầu mùa hè, tôi có vinh dự và may mắn được tham gia đoàn đại biểu Ban liên lạc CCB 88A ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, trở về vùng Đồng Tháp Mười, dự lễ khởi công công trình xây dựng Đền tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88A, thuộc Quân khu 2 (cũ) – miền Trung Nam bộ (D7/E88A/QK 2 cũ), đã anh dũng chiến đấu hy sinh trong các trận đánh 2 ngày mùng 1 và 2 Tết Xuân Canh Tuất (tức 5 và 6/2/1970) tại Kênh Ngang và Kênh 62 thuộc vùng 8, tỉnh Kiến Tường (cũ), nay là ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

Khi biết tôi là CCB của đơn vị, từng nhiều năm tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu nước ở vùng đất này, từ quê hương Phú Thọ mới vào, lại là tác giả truyện ký “Ngọn lửa Kênh Ngang anh hùng”, in trên Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 529 (20/12/2018), đang đặt trang trọng trên bàn thờ các Anh hùng Liệt sĩ trong ngôi miếu nhỏ đơn sơ do anh nông dân Sáu Dùng dựng lên lâu nay. Các đồng chí lãnh đạo, chính quyền và nhân dân địa phương, cùng chỉ huy E88A/F302/QK7 đến bắt tay chào hỏi, chúc mừng và biểu dương tác giả đã góp phần nhỏ bé vào công tác tuyên truyền chiến công lịch sử, có tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, thiết thực động viên nhân dân làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, huy động mọi nguồn lực để xây dựng Đền tưởng niệm hôm nay.

Bỗng tôi thấy một người đàn ông cao tuổi, chỉnh tề trong áo sơ-mi trắng, quần Âu đen, đi giày đen, trán hói đến đỉnh đầu, lưng hơi gù, đôi mắt sáng lên sau cặp kính lão, lách qua đám đông, tiến lại gần tôi, niềm nở chìa tay ra bắt, miệng tươi cười, chào hỏi bằng chất giọng Nam bộ, rất thân tình:

- Ủa sao? Anh mới dô hả? Còn nhớ tui hông?

Chưa kịp nghe tôi trả lời, anh đã quàng tay lên vai tôi, kéo sát vào người, vỗ vỗ và nói tiếp:

- Tui nè! Trần Thái Hùng là chiến sĩ Quân báo của đơn vị ngày ấy nè! Anh nhận ra chưa?

Tôi phấn khởi reo lên:

- Trời ơi!!! Hùng hả? Trông anh giờ đây khác nhiều quá, tôi không thể nào nhận ra nữa.

Anh Hùng buông tôi ra, ngước mắt nhìn, giọng hóm hỉnh:

- Thì xa nhau gần 50 năm nay rồi, giờ mới gặp lại. Cũng bởi tại thời kỳ đó, tui suốt ngày đêm đeo nặng trên vai chiếc máy vô tuyến điện PRC25 của Mỹ để theo dõi tình hình địch, phục vụ chỉ huy đơn vị, nên giờ lưng nó mới gù như zậy. Lại cũng bởi tại ngày đó, tui bị thương trúng miểng pháo vào hộp sọ, may mà chỉ sượt ngoài da, mất tóc, nên giờ đầu mới trọc lốc zậy nè. Thôi mà! Giờ chúng ta còn sống, được gặp nhau đây là hên, quý hóa lắm rồi. Ủa mà sao? Giờ anh em mình ngoài đó còn khỏe cả hông?

Bất giác, tôi nhìn chăm chăm vào vết sẹo to bằng đít chén uống nước, giữa đỉnh đầu anh. Giờ mới biết anh cũng bị thương trong trận đánh đó. Vậy mà anh vẫn ngoan cường, dũng cảm, bình tĩnh theo dõi tình hình địch, tham mưu kịp thời với chỉ huy đơn vị để tổ chức chiến đấu, lập công xuất sắc. Lâu nay, câu chuyện về anh ly kỳ và hấp dẫn, thôi thúc tôi ao ước tìm gặp được anh, để nghe kể lại và viết tiếp bản hùng ca Kênh Ngang bất tử năm xưa.

Được chứng kiến tình cảm xúc động của hai chúng tôi, đồng chí Chủ tịch huyện Tân Hưng, chủ trì buổi lễ, tuổi đời còn rất trẻ, vui vẻ giới thiệu với tôi:

- Gần 10 năm qua, Ban liên lạc CCB E88A và chú Hai Hùng đây đã có công rất lớn trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân, nhằm xã hội hóa việc ủng hộ nguồn vật chất, đất đai và kinh phí trị giá hàng chục tỷ đồng, để có được buổi lễ khởi công công trình xây dựng Đền tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ hôm nay. Trong đó, có gia đình nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ủng hộ 600 triệu đồng, CCB E88A Lê Quang Thung ủng hộ 600 triệu đồng, nhân dân huyện Tân Hưng cũng đóng góp được 600 triệu đồng và hiến tặng 5.000m2 đất ruộng. Riêng gia đình chú Hai Hùng ủng hộ kinh phí và vật chất trị giá gần 200 triệu đồng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương chúng cháu xin ghi nhận, biểu dương và biết ơn các bác, các chú CCB E88A Anh hùng và chú Hai Hùng đây.

Đồng chí Chủ tịch xã Vĩnh Đại phấn khởi, nói chen vào:

- Chú Hai Hùng còn có công lớn trong việc tuyên truyền vận động các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương cùng vào cuộc. Đặc biệt là giới báo chí trong nước, cả chục lần chú đã đưa về địa phương để tìm hiểu viết bài và đưa tin lên các đài báo về trận đánh năm xưa, tạo dư luận tốt trong cả nước. Chú biết không? Trong đó có cả các đồng chí nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta cũng đã về thị sát, để đôn đốc, nhắc nhở việc xây Đền thờ các Anh hùng Liệt sĩ D7/E88A ở đây cho xứng tầm, đáp ứng với nguyện vọng thiết tha của nhân dân.

So-549--Chuyen-mot-nguoi-chien-si-quan-bao---Anh-2
Tác giả (bìa phải) và CCB Trần Thái Hùng (thứ hai, bên phải) tại Lễ khởi công
công trình
xây dựng Đền tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ D7/E88A ngày 23/4/2019.

Anh Hùng cười lớn, xua tay gạt phắt đi, buông lời kể cả bề trên:

- Thôi! Thôi mà! Chú xin các em, các cháu cứ nói hoài ba cái vụ ơn nghĩa, nghe khách sáo làm sao! Chú đã nói rồi, các chú chỉ làm theo lương tâm, trách nhiệm và nghĩa vụ của những người còn sống và đang sống mà thôi. So với công ơn các Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh trên mảnh đất này, thì có nhằm nhò gì mấy đồng bạc, chút mồ hôi công sức và nước mắt ấy. Tất cả mới chỉ đóng góp bước đầu được chút đỉnh thôi hà! Công trình này cần nhiều kinh phí hơn nữa, mới có thể hoàn thiện, để cuối năm 2020 sẽ làm lễ khánh thành đưa vào sử dụng.

Nói đoạn, anh Hùng hứng chí, lại quàng tay lên vai tôi, vỗ về, rủ rê, thân mật và chân tình:

- Rồi! Sau buổi lễ này, mời anh về nhà tui chơi heng. Vợ chồng tui có xe riêng đưa rước anh đàng hoàng. Tui còn nhiều chuyện chiến đấu cũ muốn kể cho anh nghe, để viết bài nữa đó.

Quá trưa hôm đó, buổi lễ mới kết thúc, anh Hùng cùng vợ dùng chiếc xe con màu sữa đưa tôi vượt qua Đồng Tháp Mười, trên quãng đường dài hơn 70km. Chúng tôi dừng nghỉ ít phút thăm vườn Quốc gia Tràm Chim – Tam Nông (Đồng Tháp). Xế chiều, chiếc xe dừng lại trước ngôi biệt thự xây 2 tầng đồ sộ có gắn tấm biển quảng cáo cỡ lớn, in đậm dòng chữ: “Công ty TNHH Hòa Hiệp – Trang trí nội thất”, thuộc ấp 1, xã Mỹ Tân, TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Nơi đây nằm sát Quốc lộ 30, chạy dọc phía Đông sông Tiền, nối dài tới thị xã Hồng Ngự và biên giới Việt Nam – Campuchia. Điều hấp dẫn tôi giữa buổi chiều nắng nóng oi bức này là màu xanh rợp bóng mát của vườn cây xoài cổ thụ, rộng hơn 4 ha, ở ngay phía sau nhà anh. Đã gieo vào lòng tôi niềm vui lâng lâng, khó tả khi được đặt chân lên mảnh đất miệt vườn cây trái Nam bộ, từng đong đầy trong các áng văn chương. Tôi được vợ chồng anh Hùng bố trí cho ở một phòng khách sang trọng trong ngôi biệt thự, có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, cả máy điều hòa nhiệt độ. Cuối buổi chiều, tôi được mời ăn bữa cơm ngon với món đặc sản mà tôi rất thích, từng ao ước, đó là món cá lóc nấu canh me chua lẫn rau tai tượng, rau rút và bông điên điển, thêm món cá rô đồng kho tộ do tự tay vợ anh Hùng nấu. Buổi tối, gió sông Tiền lồng lộng thổi về làm tiết trời dịu mát. Hai chúng tôi cùng ngồi ở phòng khách. Mở đầu câu chuyện, tôi nói ra điều trăn trở suy nghĩ của mình bấy lâu nay:

- Khi còn sống, anh Ong Thế Huệ, nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị E88A năm 1970, quê ở Hà Nội, thường hay lên Phú Thọ thăm tôi, mỗi lần nhắc đến kỷ niệm trận đánh Kênh Ngang và Kênh 62 năm xưa, anh ấy lại thốt lên điều tâm đắc: “Các anh còn sống được đến hôm nay là nhờ có chiến sĩ Quân báo Trần Thái Hùng, đã cứu tinh cho đơn vị ngày ấy”. Rồi mới đây, khi tìm hiểu để viết truyện ký “Ngọn lửa Kênh Ngang anh hùng”, anh Trần Duy Quang, Tiểu đoàn phó 1, chỉ huy Tiểu đoàn 7 trong trận đánh ấy, cũng đã nhiều lần nói: “May nhờ có chiến sĩ Quân báo, Trinh sát Kỹ thuật Trần Thái Hùng hôm đó rất thông minh, dũng cảm và kiên quyết, nếu không thì anh em đơn vị sẽ hy sinh hết. Lúc đó, các anh đã bị dồn đến bước đường cùng, tính đến phương án xấu phải chấp nhận tự sát bằng lựu đạn, để cưa đôi với địch nhằm kiên quyết không chịu đầu hàng và sa vào tay chúng”. Giờ dịp may đã đến, tôi vượt hơn 2.000 km vào đây gặp anh, để làm rõ sự kiện đặc biệt này.

Anh Hùng bật ngửa người trên ghế, tỏ ra sửng sốt:

- Trời đất ơi! Có chuyện thiệt zậy sao? Bấy lâu nay tui chưa từng nghe ai nói zậy kìa. Mà tui cũng hông hề nghĩ mình đã làm được điều phi thường đó. Các Thủ trưởng đơn vị cũ quá khen thôi. Tui đâu dám nhận, mắc cỡ với lương tâm hà. Ngày đó, tui chỉ làm công việc bình thường của một người chiến sĩ mà thôi.

Thấy tôi tỏ nét mặt thất vọng, anh Hùng trầm ngâm một lát, rót thêm chén nước chè nóng mời tôi uống, ngúc ngắc mãi cái đầu hói rồi mới chịu phá tan sự im lặng và chậm rãi nói:

- Thôi! Giờ anh đã mất công dô tận đây rồi. Tui quá nể nên vui lòng xin kể anh nghe: Tui sinh 1949 tại vùng đất này, nơi quê hương và gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, gắn liền với trang sử đấu tranh oai hùng của Tổ tiên ta đi mở đất phương Nam. Lớn lên, tui được ăn học hết đệ tam trường Trung học công lập tỉnh Kiến Phong (cũ). Năm 1965, tui tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước do Ban Quân báo Tỉnh đội Kiến Phong (cũ) tổ chức bí mật trong các nhà trường ở vùng địch kiểm soát. Sau chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, các cơ sở bí mật của cách mạng đều bị lộ, tui và nhiều anh em khác được tổ chức đưa ra vùng giải phóng hoạt động công khai. Tháng 3/1968, tui nhập ngũ làm chiến sĩ đơn vị Thông tin Quân khu 2 (cũ). Sau tui được tuyển chọn đi học khóa đào tạo Báo vụ của ngành Quân báo, chuyên làm nhiệm vụ thu tin tức qua khai thác các tần số sóng vô tuyến điện đài của địch, để phục vụ cho công tác chỉ huy, tham mưu tác chiến các cấp, mà ta quen gọi tắt là Trinh sát Kỹ thuật. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng rất vinh dự tự hào. Bởi thuật ngữ quân sự có câu: “Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Do đó, đòi hỏi mỗi chiến sĩ chúng tui phải có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ năng lực nhứt định, đặc biệt là tinh thần dũng cảm chiến đấu, ý chí tiến công địch, tuyệt đối trung thành với các cấp chỉ huy và cách mạng. Nếu chỉ cần sơ sểnh tinh thần trách nhiệm một chút thôi, là liên quan đến ý định chỉ huy tổ chức chiến đấu, ảnh hưởng đến thành bại của trận đánh và sinh mạng của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đơn vị. Ngày 15/11/1969, từ căn cứ của Bộ Tư lệnh Quân khu 2 (cũ) ở biên giới Việt Nam – Campuchia, tui cùng với một tổ Trinh sát Kỹ thuật nhận lệnh đi xuống chiến trường, theo đường dây giao liên, hành quân qua Đồng Tháp Mười, về vùng 20/7 (Cai Lậy Nam, tỉnh Mỹ Tho cũ), để phục vụ Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu. Nhưng trước mắt, trên đường đi, tui phục vụ đơn vị D7/E88A từ căn cứ sóc Ban Chăng, nhận lệnh hành quân thọc sâu xuống chiến trường, làm nhiệm vụ đánh phá kế hoạch bình định, gom dân lập ấp chiến lược của địch. Theo sự phân công, tui được đi cùng cánh quân thứ nhất của D7, do D phó 1 Trần Duy Quang, 27 tuổi, quê ở xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, trực tiếp chỉ huy. Đồng chí Phó Chủ nhiệm Chính trị E88A Ong Thế Huệ, 42 tuổi, quê ở Hà Nội tăng cường lãnh đạo đơn vị. Diễn biến tiếp theo những ngày sau đó đúng như anh Quang đã kể, được ảnh mô tả trong truyện ký “Ngọn lửa Kênh Ngang anh hùng”. Với tư cách là người trực tiếp tham gia trận đánh, nhân chứng sống lịch sử, tui xin tóm tắt lại: Sau một đêm giao thừa Xuân Canh Tuất (4/2/1970), lợi dụng địch có nhiều sơ hở, thiếu cảnh giác, quân ta bí mật tổ chức đơn vị hành quân thọc sâu xuống Vùng 8, tỉnh Kiến Tường (cũ), đến vị trí tạm dừng ở khu rừng tràm thuộc Kênh Ngang. Sáng ngày mùng 1 Tết (5/2/1970), địch dùng máy bay trinh sát soi lại đường ta vừa hành quân và phát hiện quân ta. Chúng liên tục cho các loại máy bay vũ trang lên quần đảo, khống chế và uy hiếp tinh thần đối phương. Đơn vị tranh thủ thời gian lúc còn chưa nổ súng đã khẩn trương tổ chức triển khai, xây dựng trận địa, dựa vào các bờ kênh rạch và rừng tràm để đào công sự phòng ngự cho trận quyết chiến sắp xảy ra. Đúng 12 giờ trưa hôm đó, thỏa thuận hai bên ngừng bắn hết hiệu lực, địch liền dùng máy bay trực thăng đổ 5 Tiểu đoàn quân bao vây, tiến công, kết hợp với phi pháo yểm trợ hỏa lực, bắn phá tối đa, hòng tiêu diệt hết quân ta. Nhưng chúng đã bị cán bộ và chiến sĩ D7, nêu cao tinh thần quyết tâm chiến đấu, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Đến 8 giờ tối mùng 1 Tết năm đó, trận địa đã hoàn toàn im tiếng súng dưới mặt đất, chỉ còn trên trời chiếc máy bay C130 của Mỹ tiếp tục bay lượn, thả pháo sáng rực và thỉnh thoảng lại bắn hàng tràng đạn 20 ly đỏ lừ xuống đất. Lợi dụng ánh pháo sáng, đơn vị đã khẩn trương tổ chức tìm kiếm, băng bó, cứu chữa các anh em ta bị thương, đồng thời chôn cất tại trận địa được số lớn anh em hy sinh. Quá nửa đêm hôm đó, đơn vị mới tập hợp số anh em còn sống sót, kể cả số bị thương được khoảng gần 70 người. Như zậy là trong trận đánh này ta đã hy sinh mất khoảng 140 người, chiếm 2/3 lực lượng đơn vị, một con số tổn thất quá lớn. Tui thấy Đảng ủy và Ban Chỉ huy D7, cùng số cán bộ Đại đội và Trung đội hội ý, xem giờ ta quyết định hành quân theo hướng nào? Có tiếp tục thọc sâu xuống phía Nam là Vùng 4, tỉnh Kiến Tường (cũ) để tới đích là xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (cũ), nơi Sở Chỉ huy tiền phương của Trung đoàn đang chờ. Đại đa số ý kiến đều thống nhất phải tiếp tục hành quân xuống phía Nam. Còn nếu ngược về căn cứ xuất phát ở phía Bắc là trái với mệnh lệnh của cấp trên, đồng nghĩa với thoái thác nhiệm vụ chiến đấu. Nếu còn sống trở về cũng sẽ bị kỷ luật nặng nề. Dù lúc đó, tui mới 21 tuổi, lại là chiến sĩ của đơn vị cấp trên đi tăng cường, nhưng do ý thức địch tình đã được rèn luyện thường xuyên, nên tui bình tĩnh, quả quyết, mạnh dạn tham gia ý kiến: – Những lúc cực kỳ khó khăn nguy hiểm này, tui đề nghị các anh lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải căn cứ cụ thể vào tình hình địch, để đưa ra quyết định thiệt sáng suốt, đảm bảo cho anh em rút lui được an toàn. Sinh mạng của anh em chúng tui mới là mệnh lệnh cao nhất lúc này. Đừng vì sợ cấp trên kỷ luật mà đưa anh em vào chỗ chết oan uổng, vô ích, là có tội với cách mạng và nhân dân ta.

So-549--Anh-minh-hoa---Chuyen-mot-nguoi-chien-si-quan-bao---Anh-1

Hình như ý kiến của tui đưa ra có tình, có lý và hợp lòng mọi người, nên tất cả đều im lặng. Mà tui biết: Thực ra mọi việc đều do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị quyết định, chứ anh em chiến sĩ ta từ miền Bắc mới dô, không quen địa hình, đều nhứt nhứt tuân theo mệnh lệnh cấp trên. Nên tui càng nghĩ càng thương anh em lắm. Anh Quang bảo tui báo cáo lại tình hình địch hiện thời. Tui dùng ánh sáng hạt đậu của chiếc đèn pin để chỉ lên tấm bản đồ quân sự, nơi có những chấm xanh chi chít chỉ các tọa độ địch giăng lực lượng bao vây và phục kích quân ta trong đêm. Các anh chỉ huy đều nhận ra cả ba hướng phía Bắc, phía Nam và phía Đông đều có địch đón lõng ta. Chỉ còn lại duy nhất hướng phía Tây, là vùng rốn trũng hướng về Kênh Ba – Gò Tháp, tỉnh Kiến Phong (cũ), toàn cánh đồng sình lầy ngập nước, dù sẽ rất gian khổ, nhưng đảm bảo an toàn cho đơn vị rút lui. Thế rồi, toàn đơn vị đã hành quân rút lui theo hướng Tây và Tây Bắc, để về căn cứ Tân Lèo ở biên giới. Tui không thể nào kể xiết nỗi khó khăn, gian khổ, vất vả trong suốt quá trình 6 ngày 7 đêm ta bí mật hành quân để thoát khỏi vòng vây dày đặc của địch. Có những lúc, anh em ta tưởng chừng đói lả, ngất xỉu dọc đường, may nhờ ăn cây chuối, ngó sen, rau má… mà lại sức, tiếp tục dắt díu, khiêng cáng nhau đi. Riêng tui vẫn kiên trì mở máy thông tin PRC25 đảm bảo 24/24, từng giây từng phút theo dõi tình hình địch để kịp thời báo cáo với chỉ huy, có kế hoạch phòng tránh, luồn lách an toàn. Khoảng 10 giờ đêm mùng 6 Tết năm đó, tức là ngày thứ 7 của cuộc rút lui, anh em ta hành quân sắp tới ngã ba kênh Cả Bát, thuộc tỉnh Kiến Phong (cũ) để nghỉ ngơi, thì tui mở được khóa bức điện mật của địch, nội dung chúng thông báo cho nhau biết: Sáng hôm sau, chúng sẽ dùng một Đại đội máy bay trực thăng, bốc 3 Đại đội biệt kích quân đội Sài Gòn đổ xuống ngã ba kênh Cả Bát, có một chi đoàn xe thiết giáp từ gò Măng Đa, huyện Kiến Bình, tỉnh Kiến Tường (cũ) chi viện đánh xuống. Vì chúng nghi ngờ đơn vị quân ta đã rút lui về đến đây. Đợi cho đơn vị hành quân đến vị trí tập kết, tui mới báo cáo tình hình địch với anh Quang. Cùng lúc thấy mấy chiến sĩ du kích địa phương dẫn đường thông báo: – Nơi đây còn cách căn cứ Tân Lèo khoảng 7 giờ đồng hồ đi bộ nữa, nếu tiếp tục hành quân sẽ gặp trời sáng ở dọc đường, ta sẽ bị máy bay trinh sát của địch phát hiện bắn phá, dẫn tới thương vong hết trên đồng cỏ. Tui nhìn thấy anh Quang, anh Huệ và các anh trong Ban Chỉ huy D7 đều thể hiện nét mặt mệt mỏi, rã rời, uể oải, có ý ngồi lì một chỗ, không muốn tiếp tục hành quân. Anh Quang buồn bã thốt lên một câu có tính buông xuôi, bất cần đời:

- Giờ đi cũng chết, ở cũng chết, thôi đành liều chết với địch ở đây.

Lát sau, anh Quang quay sang hỏi tui:

- Mà báo cáo của cậu về tình hình địch lúc nãy có thật không đấy? Hay là hù dọa chúng tôi.

Câu hỏi có ý nghi ngờ này của anh Quang đã vô tình chạm vào danh dự của một người chiến sĩ Quân báo, lại phủ nhận công lao theo dõi nắm địch, phục vụ tận tình đơn vị của tui những ngày qua, tui cảm thấy bị xúc phạm, nên nổi quạu, không kiềm chế nổi, quên mình là ai, dám nói như hét vào tai anh Quang:

- Anh em đã hết trơn đạn rồi, lấy gì mà đánh và liều chết với địch. Tui báo cho anh hay: Xung quanh đây toàn đồng cỏ khô, địch chỉ cần bắn xuống một trái đạn rocket là sẽ biến thành biển lửa, thiêu cháy tất cả mọi người. Anh muốn chết thì cứ ở lại đây chết một mình, đừng bắt anh em chúng tôi chết oan uổng theo anh. Chúng tôi phải sống để tiếp tục chiến đấu lâu dài. Tui xin thề là đã báo cáo chính xác tình hình địch, nếu sai tui lấy tính mạng mình ra đảm bảo.

Bây giờ, anh Huệ mới thể hiện rõ vai trò của người lãnh đạo cao nhất đơn vị, đã tìm cách làm dịu tình hình căng thẳng và nhẹ nhàng khuyên nhủ:

- Thôi nào! Đồng chí Quang hãy bình tĩnh, đứng dậy, chúng ta phải tin vào báo cáo của cậu Hùng. Tiếp tục tổ chức đơn vị hành quân, không thể chờ chết ở đây. Tất cả anh em chúng ta cùng cố gắng nhé, sắp đến vùng giải phóng rồi.

Khoảng 7 giờ sáng hôm sau, mùng 7 Tết năm đó (11/2/1970), tốp anh em đi đầu đã đến căn cứ Tân Lèo. Nhưng còn một bộ phận nhỏ vẫn loai thoai đang ở phía sau giữa cánh đồng cỏ trống. Bỗng tui nhìn thấy hàng đàn máy bay trực thăng của địch lên quần đảo và nhiều tiếng súng lớn nổ ầm ầm ở hướng ngã ba kênh Cả Bát. Tui biết địch đang đổ quân tiến công vào chỗ không người, nên lòng rất vui. Tui lại thấy hai chiếc máy bay trực thăng cán gáo (Nốc Mích) bay thấp sát ngọn cỏ, rồi xoáy tròn trên đầu tốp anh em còn đang đi ở giữa cánh đồng cỏ, làm tim tui thắt lại, lo lắng vô cùng. Thiệt hên, tui nghe tiếng súng của quân ta ở đó bắn lên, làm một chiếc máy bay trực thăng cán gáo trúng đạn, bốc cháy ngùn ngụt rồi rơi xuống đất. Chiếc máy bay trực thăng cán gáo còn lại vội hốt hoảng bay tít lên cao và chuồn thẳng về phía Nam. Lát sau, tất cả anh em đơn vị đều trở về đến căn cứ Tân Lèo an toàn. Tui thở phào nhẹ nhõm, vội tháo chiếc máy thông tin PRC25 ra khỏi vai, như trút được hòn đá đeo nặng trên người suốt 7 ngày đêm qua, rồi tui nằm vật ra đất, tính làm giấc ngủ ngon lành cho quên trời đất. Chợt thấy mấy chiến sĩ ta đang kéo một chiếc xe quệt, trên xe có một người to béo, bị thương nặng đang nằm. Tui vùng dậy, tò mò tiến lại nhìn, hóa ra đó là tên phi công Mỹ da đen lái chiếc máy bay trực thăng cán gáo vừa bị ta bắn hạ. Anh Quang cũng vừa đi tới nơi, sung sướng ôm chầm, nhấc bổng tui lên và khen rối rít:

- Thay mặt anh em toàn đơn vị, tôi có lời cảm ơn chiến sĩ Quân báo Trần Thái Hùng. Nhờ thái độ bình tĩnh, sáng suốt và kiên quyết của cậu nên đã cứu sống tất cả anh em chúng tôi.

Anh Huệ cũng đến từ lúc nào, vui vẻ tiếp lời:

- Thành tích của cậu sánh ngang với một chiến công. Cậu thật xứng đáng là cứu tinh của đơn vị. Chúng tôi suốt đời biết ơn cậu.

Lúc đó, tui kịp nhớ ra mình chỉ là một chiến sĩ của đơn vị cấp trên đi tăng cường, không nằm trong biên chế của đơn vị này. Hơn nữa tuổi đời tui chỉ đáng bậc con cháu của các anh, các chú, nên tui đâu dám nhận lời khen đó. Theo đúng Điều lệnh Quân đội, tui vội đứng nghiêm giơ bàn tay lên ngang đầu và thẳng thắn trả lời:

- Dạ! Báo cáo các Thủ trưởng, tui chỉ thực hiện đúng nhiệm vụ của cấp trên đơn vị giao cho.

Anh Hùng dừng lời, ngả người trên ghế, nhìn tôi và cười hỏi:

- Nếu đặt địa vị anh vào tui bữa đó, anh sẽ tính sao?

Câu hỏi bất ngờ làm tôi lúng túng, suy nghĩ giây lát rồi trả lời lấp lửng:

- Thì tôi cũng sẽ như anh em khác mà thôi. Nghĩa là chỉ biết phục tùng theo mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng chấp nhận chiến đấu hy sinh. Mà có phải ai cũng hiểu rõ tình hình địch như chiến sĩ Quân báo các anh đâu.

Anh Hùng gật đầu cho là tôi trả lời thật lòng, nên cười hà hà và nói tiếp:

- Kể từ hôm đó, chỉ huy đơn vị thêm tin yêu và hiểu rõ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của công tác Quân báo, Trinh sát Kỹ thuật, nên gắn bó chặt chẽ với tui như hình với bóng, kè kè bên nhau suốt ngày đêm. Nhiều lần Quân khu điện xuống cho đơn vị yêu cầu trả tui về phục vụ cho cấp trên. Nhưng từ chỉ huy Trung đoàn đến Tiểu đoàn đều tha thiết đề nghị, kiên quyết xin bằng được tui ở lại. Mà tui cũng thích được phục vụ trực tiếp đơn vị chiến đấu hơn là về ở cơ quan Quân khu. Bởi lẽ kỷ niệm sâu sắc về trận đánh Kênh Ngang và Kênh 62 sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí tui. Tự tui nhận thấy mình còn mắc nợ rất nhiều công ơn, máu xương của anh em đã anh dũng chiến đấu hy sinh hôm đó, cho tui còn được sống trở về. Nhưng cũng vì zậy mà tui phải chịu thiệt thòi nhiều mặt nhất là về quyền lợi chính trị, không được phong cấp chức và khen thưởng. Chả là cấp trên cứ tưởng cấp dưới lo cho, cấp dưới lại cứ tưởng cấp trên lo cho, nên mãi đến ngày 16/10/1970, sau nhiều lần đề nghị tui mới được kết nạp vào Đảng (chính thức ngày 16/10/1971). Tháng 8/1976, tui được chuyển ngành ra công tác ở cơ quan Nhà nước. Tổ chức rất quan tâm ưu ái và tạo mọi điều kiện cho tui được đi học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Rồi lại bố trí sắp xếp công tác cán bộ vào cơ quan cấp bộ, ngành của Trung ương ở cơ sở 2 miền Nam. Nhưng tui chỉ xin nhận một chức vụ nhỏ ở Ty Kiến trúc địa phương, vì tui không muốn xa quê hương, xa gia đình, người thân và đặc biệt là vùng Đồng Tháp Mười, nơi thắm máu hy sinh của bao đồng chí, đồng đội thân yêu đã ngã xuống. Tháng 10/1991, tui làm đơn xin nghỉ mất sức, về tham gia công tác địa phương, làm kinh tế gia đình: trồng cây trái, chăn nuôi, rồi thành lập Công ty TNHH kinh doanh đồ gỗ – trang trí nội thất. Cũng kiếm thêm chút đỉnh, đủ xây dựng nhà cửa để ở, mua sắm xe hơi và nuôi vợ con có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bà xã nhà tui tên là Phạm Thị Kim Thôi, sinh 1951, tên thường gọi là Năm Thôi, cán bộ Nhà nước xin nghỉ việc, để phụ việc cho công ty của gia đình. Vợ chồng tui có hai con trai, đứa lớn tên Hòa, đứa nhỏ tên Hiệp, đều đã được học hành tử tế, có công ăn việc làm ổn định và cuộc sống hạnh phúc riêng cả rồi. Vợ chồng tui lấy tên của hai con trai đặt tên cho công ty của gia đình mình là có ý nghĩa như zậy. Bao nhiêu năm qua, tui luôn suy nghĩ và thương anh em đơn vị đã hy sinh ngày đó. Chỉ vì muốn giữ vững tinh thần và ý chí quyết tâm chiến đấu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kế tiếp, mà đơn vị không ai dám nhắc nhở đến trận đánh của D7 phải chịu tổn thất hy sinh quá lớn này. Dẫn tới nhiều hệ lụy sau chiến tranh về công tác giải quyết chính sách. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, tui cũng luôn xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với đồng chí, đồng đội đã chiến đấu hy sinh, tui nhiều lần đã làm đơn đề nghị và báo cáo gửi lên Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Quân khu 7, E88A/F302 và các cấp, các ngành ở địa phương về trận đánh của đơn vị ở Kênh Ngang và Kênh 62 năm đó. Kết quả đến hôm nay, đã tổ chức tìm kiếm, cất bốc, di dời được hơn 100 bộ hài cốt Liệt sỹ D7 vào Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Tân Hưng, tổ chức lễ khởi công công trình xây dựng Đền tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ D7/E88A, bước đầu được như zậy là mừng lắm rồi. Đây là công việc rất lớn, hệ trọng và lâu dài của toàn thể Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Long An cùng chăm lo, thiết thực góp phần vào công tác đền ơn đáp nghĩa.

Sáng hôm sau, ngày 24/4/2019, vợ chồng anh Hùng tranh thủ đưa tôi đến thắp hương kính viếng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rồi anh chị lưu luyến đưa tôi ra tận bến xe khách của thành phố Cao Lãnh và gửi tặng tôi cùng anh Trần Duy Quang một gói quà nhỏ, gồm mấy thứ đặc sản của Đồng Tháp là hạt sen, tâm sen sấy khô và quả me chua đã qua chế biến. Cử chỉ thân tình này khiến lòng tôi ấm thêm tình đồng chí, đồng đội chiến đấu cũ, tạo cảm xúc và động lực mới để tôi luôn mài sắc ngọn bút, tiếp tục viết về ký ức chiến tranh, sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí. Đến lúc xe chạy xa rồi mà tôi vẫn ngoái đầu nhìn lại, muốn lưu giữ mãi hình ảnh anh Trần Thái Hùng, một chiến sĩ Quân báo can trường năm xưa, giờ lại sống hết mình vì đồng chí, đồng đội chiến đấu cũ, xứng danh CCB Bộ đội Cụ Hồ.

Bùi Ngọc Quế
(Hội LHVHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 549

Ý Kiến bạn đọc