Tản văn

Chuyện lính đảo Trường Sa

Sau một thời gian công tác ở Trường Cát Lái Hải quân, tôi về Bộ Tư lệnh vùng 4 Hải quân và được biên chế vào Trung đội cảnh vệ. Hơn 2 năm sau, vào đầu năm 1988, khi Trường Sa đang có biến động, tôi được lệnh tăng cường ra đảo.

Gần 2 năm làm nhiệm vụ ở Trường Sa – quần đảo thiêng dưới ngầu ngầu bọt sóng, tôi cùng các đồng chí, đồng đội đã trải qua những thời khắc vô cùng khó khăn, gian khổ, hiểm nguy khi mà kẻ thù phương Bắc luôn rình rập, khiêu khích. Có những lúc tàu khu trục của chúng thả neo ngay sát mép đảo, nổ máy ầm ầm; cố tình gây hấn, để ta mắc mưu. Chỉ cần ta nổ một viên đạn là ngay lập tức chúng có cớ để tấn công, xâm lược. Biết vậy, anh em chúng tôi dặn nhau, tuyệt đối tránh mắc mưu khiêu khích của địch. Cán bộ, chiến sĩ trên đảo luôn đề cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, nếu chúng đổ bộ lên đảo. Có thể nói, dù không có tiếng súng nổ, không có giao tranh, nhưng không khí nơi đảo chúng tôi cắm chốt luôn “nóng”. Có lần tôi phân công đồng đội ôm AK ra ngoài sân nhà chòi, pháo cao xạ 12,7 ly cũng lên nòng, nhằm thẳng về phía tàu của chúng. Còn tôi vác B41, lắp đạn sẵn, vờ làm như sẵn sàng nổ súng, bắn vào 1/3 phía dưới đuôi tàu địch. Thế là bọn thủy thủ, sĩ quan của chúng nháo nhào vác ống nhòm ra… Tôi khà khà cười, rút đạn, kéo anh em vào nhà… mặc cho kẻ thù nhớn nhác!

Gian khổ của lính Trường Sa thì khó mà kể hết, đủ mọi sự thiếu mà thiếu nhất là nước ngọt. Thiếu đến trầm trọng. Mỗi người chỉ có 5 lít nước cho một ngày. Có lúc nước uống cạn hết, gạn chắt mãi từ phuy 220 lít ra, thấy nước đen ngòm; đem lọc 7, 8 lần mà khi nấu cơm vẫn còn đen như đổ tro vào. Vẫn nhắm mắt mà nuốt cho trôi! Rau xanh không có, cứ 2 tuần, cậu Phan Thanh Hải lại cà nhắc đi phát cho mỗi người 10 viên B1 (cậu Hải cà nhắc là do một lần chèo xuồng nhôm lên đầu B lấy nước, phải chèo đi hàng 15 cây số mới lấy được vài phuy nước thì bị phuy rơi vào, nghiến gần đứt ngón chân út). Đảo chúng tôi có vài lần được tàu tiếp tế cho rau khô, nhưng rau muống dài ngoẵng, ăn dai như nhai bìa cát-tông. Rau cải bắp khô xào lên thì nhằng nhặng, chẳng khác gì rơm! Cười bảo nhau: Chúng mình thành trâu hết cả, nhưng trâu còn may mắn vì nó còn có cỏ xanh…

Xuan-2019--Mat-bien---Nguyen-Van-Chuoc
Mắt biển – gò kim loại – Nguyễn Văn Chước.

Ngày ở Trường Sa nắng như đổ lửa, mới 5 giờ sáng mặt trời đã rừng rực nhô lên. Nóng! Cái nóng khiến cho anh em chúng tôi lúc nào cũng chỉ cởi trần, quần cộc. Quần cộc của lính ngày ấy toàn dây rút bằng vải, nếu buộc không khéo, đến lúc có nhu cầu thì… Thế là mỗi người một kiểu thắt dây rút, đến là khôi hài. Khôi hài nhất phải kể đến anh chàng y sĩ Trần Cảnh Dương, quê Hưng Công, Bình Lục. Cậu ta lấy dây cước to bằng đũa xe máy bây giờ làm dây rút, lại thắt kiểu ngõng chó; cứ lòng thà lòng thòng. Người đã nhỏ, lại lòng khòng, lúc cậu bước đi, cái dây cước cứ vắt va vắt vẻo. Một lần, tôi đang ngồi viết, cậu dạo qua dạo lại trước mặt khoe sáng kiến, tôi tủm tỉm: Ơ, hay đấy! Xem ông thắt thế nào? Và túm lấy, giật nhanh, cậu ta cuống lên, đỏ mặt ôm quần, nhảy tuốt xuống biển!

Nóng, lại hiếm nước, lấy đâu nước gội đầu. Gội bằng nước mặn, tóc cứng quèo, đỏ như râu ngô. Thế là chẳng ai bảo ai, đều… cạo trọc. Cạo xong nhìn nhau ha ha. Rồi, gọi nhau là “sư cụ”! Dần dần chỉ gọi Cụ! Lâu hơn thấy nhàm, thành… Cu! Lại ha ha, khà khà, há há…

Đầu năm 1989, đầu A Đá Lớn của chúng tôi nhận tăng cường mấy sĩ quan, có chàng mới từ Lục quân chuyển sang, đầu tóc lúc nào cũng óng mượt; nhưng ở đảo được gần tháng, chàng ta cứ gãi đầu xoành xoạch. Hóa ra là có chấy! Chẳng cậu nào dám nằm gần. Nhắc: Cạo trọc đi! Không, mái tóc đẹp thế này mà cạo thì phí! Nhưng, chấy hoành hành thì tóc đẹp mà làm gì? Gãi mãi, tức mình, chàng làm nửa cốc xăng dội lên. Chưa đầy nửa phút, mắt chàng ta long lên sòng sọc, rồi hét ầm lên: Nóng! Nhảy xuống biển lặn ngụp cả tiếng đồng hồ mới trồi lên, mất béng một mảng tóc, từ đó chàng ta mới ngoan ngoãn: trọc đầu!

Lại có cậu Nguyễn Văn Tới – quê Hải Phòng, miệng rộng ngoác, nói bậy thành thần. Cứ một câu là ít nhất có một từ! Nhiều lúc, đang “anh, em” ngọt xớt, cậu ta lại ráo hoảnh đệm thêm vài từ bậy bạ vào khiến cho ai cũng bực. Nhắc, thì: Em quen rồi! Vì là lính Lục quân mới chuyển sang nên cậu ta bơi chưa thạo. Nắm được điểm yếu này của Tới, tôi rủ đi đánh cá. Cậu ta háo hức: Vâng, em sẵn sàng!

Ngồi xuồng cao su, chèo ra biển, trong lúc một người bơi trước dò cá, cậu ta cứ huyên thuyên bậy bạ; tôi tức mình huých cho một cái, cậu ta tòm xuống biển. Xuồng được chèo hết tốc lực (tôi đã bố trí sẵn anh em trị tội nói bậy), còn Tới ta thì chộp chộp bơi, được một lúc thấy có vẻ đã… no nước, xuồng chúng tôi mới quay lại vớt cậu ta lên. Lên xuồng, nằm oặt ra thở dốc. Rồi: Em oán anh, anh chơi xỏ em! Tôi cười: Rửa ruột cho chú bằng nước biển để chú bớt nói bậy.

Thuốc lá là bạn không thể thiếu của lính Trường Sa thuở ấy. Nhưng hàng nửa năm mới có tàu ra tiếp tế, lại phải chia theo chế độ. Hết thuốc, thèm kinh khủng, nhưng biết làm sao? Một hôm, trước khi đi đánh cá, cậu Nhung – quê Nghệ An nói vu vơ: Mình nhớ là ở góc nhà có bịch thuốc rê, hôm chuyển gạo vào đè lên, nhưng mình không hút thuốc nên quên nhắc mọi người. Khi anh em xuống xuồng chèo đi, tôi với cậu Súy – người Thái Bình ở nhà hì hục khuân 10 tấn gạo ra khỏi góc nhà. Suốt từ 6 giờ sáng đến 11 giờ trưa mới xong, mũi mồm tranh nhau thở. Nhưng khi đống gạo như quả núi con được khuân sang một bên xong, nhìn vào góc nhà: chỉ là vài mẩu thuốc lá, thuốc rê. Gạn mãi mới quấn được nửa điếu thuốc. Hít khà vài cái, nấu cơm; ăn xong lại hì hục khuân gạo xếp vào chỗ cũ. Chiều tối, xuồng đánh cá về còn cách nhà đến hàng vài chục mét, Nhung ta đã oang oang:

- Anh Dương ơi, có tìm thấy thuốc rê không?

Vậy mà đã 30 năm rồi! Nhớ lại

kỷ niệm ngày là lính đảo, mà mắt cứ rưng rưng. Tôi nhớ lắm, nhớ lắm, Trường Sa ơi!

Một ngày cuối năm 2018

Nguyễn Vĩnh Nguyên
(Trường THPT Ngô Quyền – Nam Định)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc