Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chuyển hóa của lịch sử

Ông Cao Đức Trường cho rằng GS. Phan Huy Lê đã xoay đủ 180o trong sự quy công thống nhất quốc gia cho Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh (Văn Nghệ TP.HCM, số 500, ngày 31-5-2018). Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Giáo sư Phan Huy Lê đã phát biểu rất khác nhau về nhiều vấn đề quan trọng của lịch sử Việt Nam.

Trước khi trình bày các luận cứ, xin chú dẫn nguồn sử liệu được trích dẫn để bạn đọc tiện theo dõi:

- Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận. Phan Huy Lê. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. In lần thứ tư. H.2018. PGS-TS Phan Phương Thảo biên soạn, 1.050 trang.

- Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, từ 1771 đến 1802. Tạ Chí Đại Trường. NXB Tri thức. H.2017. 480 trang.

- Chuyện phiếm sử học. Tạ Chí Đại Trường. NXB Tri thức. H.2017. 284 trang.

- Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận, có quy mô như một Tuyển tập. Lời nói đầu do chính tác giả viết, nói rõ:

“Cuốn sách được Nhà xuất bản Giáo dục in lần thứ nhất năm 2007, Nhà xuất bản Thế giới in lần thứ hai năm 2012 với một số chỉnh lý nhỏ. Năm 2015, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội in lần thứ ba với việc biên tập rất công phu. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các Nhà xuất bản.

Hà Nội mùa thu năm Ất Mùi – 2015

PHAN HUY LÊ”

So-503--Chuyen-hoa-cua-lich-su---Anh-6

Xin nói ngay là việc biên tập cho bản in lần này là rất không công phu, chúng tôi sẽ nói sau.

Dẫn ra nguồn sử liệu có tính chính thức này và liên hệ với đánh giá của GS. Phan Huy Lê về Tạ Chí Đại Trường mà Cao Đức Trường đã dẫn, trên báo Thanh Niên, số ra ngày 16-9-2016, và được in lại trên cả bìa 4 và bìa bọc cùng với lời của Nguyên Ngọc, ở quyển “Chuyện phiếm sử học” của Tạ Chí Đại Trường, NXB Tri thức. H.2017, như sau:

“Tạ Chí Đại Trường còn là một ngòi bút thực thụ. Mỗi tác phẩm lịch sử của ông đều thật sự là một tác phẩm văn học đáng giá”.

(Nhà văn Nguyên Ngọc)

“Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học có tính độc lập và phong cách riêng trong nghiên cứu lịch sử. Ông có những công trình nghiên cứu sâu sắc trên phương pháp luận sử học nghiêm túc mà tiêu biểu là Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802. Các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường mang nặng tính suy ngẫm lịch sử, gần như một thứ triết lý lịch sử, như Những bài dã sử Việt, hay Thần, người và đất Việt. Tạ Chí Đại Trường luôn nhìn lịch sử Việt Nam với tấm lòng của một con người Việt Nam”.

(Giáo sư Phan Huy Lê)

Phía dưới còn trích lời của hai Giáo sư nước ngoài, chúng tôi xin dành để bạn đọc tiếp cận.

Cũng ở bìa gấp cuốn sách cho biết:

“Ông (Tạ Chí Đại Trường) được trao “Giải thưởng Văn hóa Phan Chu Trinh năm 2014”. Tạ Chí Đại Trường định cư tại Mỹ từ 1994 và qua đời tại Sài Gòn năm 2016”.

Khi đọc “Nội chiến ở Việt Nam” và “Chuyện phiếm sử học” rồi liên hệ với “Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận”, chúng tôi thấy GS. Phan Huy Lê không phải đã xoay đủ 180o mà rất khó nói… Trong khoảng thời gian rất ngắn, từ tháng 9-2008 đến tháng 9-2016, ông đã đưa ra nhiều quan điểm sử học rất khác nhau thậm chí đối lập nhau, phản lại nhau.

Xin cụ thể:

1/ Phương pháp luận sử học của Tạ Chí Đại Trường (TCĐT) hoàn toàn không nghiêm túc mà xuyên tạc, gian lận, dối trá, lại được GS. Phan Huy Lê (GS.PHL) đánh giá rất cao. Cụ thể sau đây:

a/ Trận Rạch Gầm – Xoài Mút:

- Về sự kiện trọng đại này, GS.PHL đã khẳng định: “Trận Rạch Gầm – Xoài Mút là một trong những trận thủy chiến lớn và lừng lẫy nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta” (Lịch sử và văn hóa… Sđd. Trg.430).

GS.PHL đã dựng lại rất chi tiết diễn biến của trận chiến, nêu bật ý nghĩa của nó đã “đưa phong trào Tây Sơn phát triển thành lên một phong trào dân tộc làm nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ…” (Lịch sử và văn hóa… Sđd. Trg.430).

Nhưng TCĐT đã lẩn tránh và xuyên tạc sự kiện này. Cho rằng từ 1783, đã có cả sứ giả của Tây Sơn ở Bangkok và Xiêm vương phải lựa chọn giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn là tùy thuộc vào vấn đề Chân Lạp. Và để phân tán lực lượng Tây Sơn, Xiêm vương đã nghĩ tới Nguyễn Ánh. “Đây là dịp may mắn cho Xiêm vương để mở rộng cương giới về phía Thủy Chân Lạp”. Và viện binh Xiêm đã được đưa sang giúp Nguyễn Ánh. Như thế, quân Xiêm chủ động tiến vào Gia Định nhằm hướng mở rộng về phía Thủy Chân Lạp (?), chứ không chỉ vì Nguyễn Ánh cầu viện.

Về chi tiết trận chiến, TCĐT viết:

“… Tháng chạp năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ kéo quân vào. Chạm trán với một kẻ địch lạ tay, Nguyễn Huệ đánh mấy lần không thủ thắng đã có ý rút quân về. Vừa lúc một hàng tướng của Nguyễn Ánh, Lê Xuân Giác, liền cho Huệ kế phục binh, đánh mạnh, bất thần, hợp với sở trường viên tướng trẻ mà đầy khả năng này.

Huệ đem lính thiện chiến mai phục ở rạch Gầm, rạch Xoài Mút rồi dụ quân Xiêm vào…” (Lịch sử nội chiến… NXB Tri thức. H.2017. Trg.122-123).

Đoạn này TCĐT đã chép lại sử nhà Nguyễn, mà chính GS.PHL đã dẫn ra trong Lịch sử và văn hóa…, trg.420 và 422.

Cần lưu ý là GS.PHL trong công trình này giành cho trận Rạch Gầm – Xoài Mút tới 15 trang in, hết lời ca ngợi “Nguyễn Huệ đã giày công nghiên cứu địa hình từ Trà Tân đến Mỹ Tho và quyết định chọn khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa quyết chiến với quân thù” (Lịch sử và văn hóa… Sđd. Trg.422).

- GS.PHL đã nghiên cứu về Tây Sơn từ lâu, riêng trận Rạch Gầm – Xoài Mút, đã có tham luận rất cao giọng từ 1984 như bài của Cao Đức Trường đã phân tích, và trong “Lịch sử và văn hóa…” càng thấy rõ. Cho đến nay, khi tái bản Lịch sử và văn hóa… đến lần thứ tư, có bài Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, GS.PHL vẫn giữ quan điểm đó – mà chúng tôi cho là rất đúng đắn. Thế mà TCĐT đã dối trá, gian lận, xuyên tạc sự kiện trọng đại đó, bỗng được GS.PHL đánh giá rất cao, như đã dẫn trên.

So-503--Chuyen-hoa-cua-lich-su---Anh-7

b/ Về chữ Nôm:

GS.PHL viết:

“Hai chính sách văn hóa, giáo dục lớn nhất của Quang Trung là đề cao chữ Nôm và chấn chỉnh lại chế độ giáo dục, thi cử.

Chữ Nôm tuy xây dựng trên cơ sở chữ Hán, nhưng đã trở thành một thứ văn tự dân tộc, ghi lại trung thành tiếng nói của dân tộc. Cùng với quá trình trưởng thành của dân tộc, chữ Nôm và văn Nôm ngày càng phát triển và phổ biến trong nhân dân. Trong quá trình khởi nghĩa, anh em Tây Sơn đã thấy rõ tác dụng của chữ Nôm nên từ tờ hịch đến các thư từ, mệnh lệnh đều viết bằng chữ Nôm. Sau khi lên làm vua, Quang Trung lại mạnh dạn đánh đổ chủ trương độc tôn chữ Hán của các triều đại phong kiến trước đây, đưa chữ Nôm lên địa vị văn tự chính thức của quốc gia. Từ chiếu chỉ, mệnh lệnh cho đến những bài văn tế thiêng liêng trong thời Quang Trung phần lớn đều viết bằng chữ Nôm. Lần đầu tiên trong lịch sử, chữ Nôm còn được Quang Trung đưa vào khoa cử. Trong các kỳ thi, quan trường phải ra đề bằng chữ Nôm và đến đệ tam trường, sĩ tử phải làm thơ phú bằng văn Nôm. Cuối năm 1791, Quang Trung thành lập Viện Sùng Chính ở Nghệ An do Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng, phụ trách việc giáo dục và phiên dịch các sách Tiểu học, Tứ thư, các kinh Thi, Thư, Dịch từ chữ Hán ra chữ Nôm. Công việc phiên dịch đang tiến hành khẩn trương thì phải bỏ dở vì sự từ trần đột ngột của Quang Trung, nhưng việc làm ấy cũng đủ nói lên một hoài bão rất lớn của Quang Trung là muốn tiến tới dùng tài liệu học tập bằng chữ Nôm trong các nhà trường và xây dựng một nền giáo dục dân tộc cả trên phương diện văn tự.

Về mặt giáo dục, Quang Trung muốn mở rộng trường học xuống tận xã và chỉnh đốn lại chế độ thi cử nhằm đào tạo những quan lại có năng lực. Trong tờ Chiếu lập học, Quang Trung cho các xã lập nhà xã học, chọn những nhà Nho có học thức và đạo đức làm xã giảng dụ để dạy bảo học trò trong xã. Ở phủ, huyện có những trường học do chức Huấn đạo phụ trách. Quang Trung còn cho phép có thể mượn một số đền chùa không cần thiết làm trường học. Quang Trung tán thành ý kiến của Nguyễn Thiếp “học cho rộng rồi ước lược cho gọn, theo điều học biết mà làm”, muốn gạt bỏ lối học từ chương, khuôn sáo trước đây và thay vào đó lối học thiết thực hơn nhằm đào tạo ra những người có năng lực hoạt động thực sự. Để thanh toán những hậu quả của chế độ khoa cử thối nát thời Lê mạt, Quang Trung bắt các hạng Nho sinh, Sinh đồ trước kia phải thi lại, hạng ưu thì công nhận cho đỗ, hạng liệt bắt học lại, còn hạng “Sinh đồ ba quan” dùng tiền để mua bằng cấp thì nhất thiết bị loại trừ” (Lịch sử và văn hóa… Trg.471-472).

Còn TCĐT viết:

“… phải dịch kinh, truyện ra chữ Nôm, thi cử lời Nôm, dụ tướng sĩ bằng chữ Nôm, điếu tang viết lời Nôm. Chúng ta cũng thấy các bức thư chữ Nôm của Nguyễn Ánh, đã nghe lời dụ ban cho tướng sĩ ở Gia Định (1800), nhưng đó chỉ là phương sách tạm bợ nhất thời đối với họ Nguyễn. Trong khi đó Tây Sơn phải dùng chữ Nôm như một phương tiện diễn đạt tư tưởng chính thức, hợp với sự hãnh diện của họ. Có những tờ chiếu, sắc thần bằng chữ Hán trong triều đại là một mỉa mai cho quá khứ của họ, nhưng cái thế cô lập với ảnh hưởng phương Nam mà từ đó họ phát xuất khiến họ đi dần vào trong không khí các trào cũ” (Lịch sử nội chiến… Sđd. Trg.269).

Thế nghĩa là TCĐT đã phủ định Phan sử gia.

c/ Triều Trần và Trần Quốc Tuấn

GS.PHL giành một phần riêng cho Trần Quốc Tuấn, với tựa đề Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một nhân cách lớn (Lịch sử và văn hóa… Sđd. Trg.856 đến 866).

Trong 10 trang sách cỡ lớn này (khổ 16x24cm), GS.PHL đã hết lời ca ngợi Trần Quốc Tuấn, tựu trung trong một câu này:

“Ngày nay chúng ta suy tôn ông là một vị đại anh hùng dân tộc, một nhà quân sự kiệt xuất, một nhà văn hóa lớn” (Sđd. Trg.866).

Còn TCĐT ở tiểu mục Trần, trong Chuyện phiếm sử học có một đoạn được in nghiêng thế này:

“Điều đặc biệt: Trong thời gian an nguy của vua, vận mệnh đất nước tông tộc treo trên đầu sợi tóc, vẫn không thấy bóng dáng ông tướng “tiết chế tả hữu tướng quân thủy bộ” Trần Quốc Tuấn đâu hết” (Sđd. Trg.225).

Và đưa ra một giả định:

“Và tuy quá khứ đã thành hình nhưng ta vẫn còn muốn hỏi: Nếu quân Nguyên sang mà không có một Quốc Tuấn được đào luyện kỹ lưỡng như thế thì sao? Nếu không có quân Nguyên sang thì sao? Triều Trần có một người cướp ngôi thành công, hay sử Trần sẽ có thêm một dòng khó hiểu: Tên Tuấn bị chém ở…/ bị sung làm khao giáp… miễn tịch thu gia sản vì ngày trước có công lớn…” (Sđd. Trg.230).

Xin nhờ GS.PHL giải đáp cho TCĐT, cho lịch sử dân tộc và bạn đọc. Chỉ xin chú giải đoạn này: không có một Quốc Tuấn được đào luyện kỹ lưỡng như thế, là nói Trần Liễu đã đào luyện cho con, Quốc Tuấn, để trả mối thù bị cướp vợ…

TCĐT giành hẳn mục TRẦN hay Trilogy Trần với một chủ định rõ rệt: “Lịch sử triều Trần, lịch sử thời đại này, do đó, xứng đáng được hưởng một lối nhìn khác, không giản dị như của sử thần xưa về một triều đại riêng biệt, hay của sử gia mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa được nâng cấp lên đến đỉnh cao trong cuộc chiến vừa qua mà thật ra vẫn loay hoay trong một khung cửa hẹp” (Chuyện phiếm… Sđd. Trg.213).

Nhưng băng ra khỏi khung cửa hẹp này, nhà sử học đã đi vào lịch sử như thế nào?

Chúng tôi thấy nhà viết sử này không phải viết sử một cách nghiêm túc, khoa học mà chỉ kể chuyện lịch sử với cái nhìn từ phía sau, từ dưới rốn… đem lại cho người đọc những thứ quái dị, với một giọng văn móc mỉa độc địa. Nguồn gốc của nhà Trần là dân chài lưới, sông nước. “Cứ suốt ngày, suốt đời nhảy từ thuyền này qua thuyền khác thì không thể lấy người ở xa được, không cần tìm gái ở xa. Rồi thành thói quen…” (Chuyện phiếm lịch sử… Sđd. Trg.216). TCĐT chủ ý khai thác chuyện hôn nhân nội tộc của triều Trần thời đó, cứ trở đi trở lại chuyện “thù nhà” của cha con Trần Liễu – Trần Quốc Tuấn; rồi Trần Quốc Tuấn cũng “ăn nem” nhà đối thủ để trả thù… Cố miêu tả triều Trần như một thị tộc thời nguyên thủy…

Không chỉ với triều Trần, mà với triều Lê và Lê Lợi thì đó là một Phụ đạo Mường Mán, một thứ tập nhóm và TCĐT tỏ ra rất gian hiểm, qua những câu chuyện tưởng như là dã sử, là chuyện phiếm, gài vào một nội dung phản lịch sử: “Sức mạnh thiểu số đơn lẻ không làm họ thành đạt cao hơn nhưng khi gặp cơ hội phối hợp với các lực lượng khác thì có kết quả khả quan đến tột đỉnh. Đó là trường hợp thành công của nhóm Mường Thái Lam Sơn trong công cuộc chống ách đô hộ nhà Minh, kết thúc vào năm 1428” (Lịch sử nội chiến… Sđd. Trg.280). Trong khi GS.PHL ở công trình dẫn trên, giành cho triều Lê và Lê Lợi hai lần với khá nhiều trang, ca ngợi đến hết lời (xem Khởi nghĩa Lam Sơn, trg.267 đến 335; Lê Lợi, con người và sự nghiệp, trg.866 đến 888; và Nguyễn Trãi (1385-1442) – 500 năm sau vụ án Lệ Chi viên, trg.889 đến 895).

Nhưng sự xuyên tạc lịch sử rõ nhất của TCĐT là ở cuối Lịch sử nội chiến… cho rằng “Sự hiện diện của những người như họ (Bá Đa Lộc và những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh) ở vùng đất này là nguyên nhân của những đảo lộn dữ dội hơn trong ba mươi năm qua (1771-1802), còn kết thúc của họ lại như là minh chứng cho sự thất bại của lớp người mà họ đã góp phần đánh đổ (phong trào Tây Sơn). Nhưng cuối cùng mầm mống họ đã gieo vẫn còn đó trong đất nước phức tạp của Gia Long, như một sự nhức nhối chờ đợi những đổ vỡ lớn lao hơn” (Lịch sử nội chiến… Sđd. Trg.430-431).

Như thế thì những nghiên cứu của GS. Phan Huy Lê và toàn bộ giới sử học Việt Nam về giai đoạn lịch sử từ 1771 đến 1945 có phải là vô nghĩa không?

(Còn tiếp)
Hà Nội, tháng 6-2018

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 503

Ý Kiến bạn đọc