Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Chuyện đời nữ giải phóng quân – Từ giao liên trở thành chiến sĩ giải phóng quân

Bé Ngô Thị Sương sinh năm 1953 tại xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Sinh ra trong gia đình, quê hương có truyền thống cách mạng, chứng kiến bao tội ác của đế quốc Mỹ và tay sai gây ra cho đồng bào ta, trong đó có những người thân yêu ruột thịt. Trong lòng cô bé Sương sớm giác ngộ tinh thần yêu nước, ý chí căm thù giặc sâu sắc. Năm 14 tuổi (1967), cô bé Ngô Thị Sương đã theo cha làm cách mạng, làm nhiệm vụ giao liên truyền tin, theo dõi hoạt động của địch, giúp cơ sở ở địa phương và Quân giải phóng nắm bắt tình hình địch. Hàng ngày, bé Sương được giao nhiệm vụ truyền đạt thông tin hoặc theo dõi tình hình hoạt động bọn mật thám, chỉ điểm và bọn biệt kích. Khi phát hiện dấu hiệu lạ thì báo ngay cho các chú, các cô cách mạng biết để kịp thời xử trí tình huống. Đã nhiều lần bé Sương dùng mưu trí giúp cán bộ cơ sở của cách mạng và các chú Giải phóng quân về địa phương thoát khỏi bàn tay kẻ thù trong gang tấc. Nghi ngờ bé Sương hoạt động cách mạng, bọn giặc có ý định bắt nhưng chúng không tìm được lý do. Đầu năm 1972, trong một trận càn bé Sương bị địch bắt cùng gia đình về quận Hiếu Xương, chúng đã giam bé Sương hơn 2 tháng nhưng cuối cùng buộc thả ra vì chẳng thể khai thác được ở cô bé lấy một lời. Để bảo đảm an toàn cho bé Sương, cách mạng đã bố trí để cô bé thoát ly lên núi. Đêm (rằm tháng 5-1972 âm lịch), một đêm trăng soi sáng cả làng mạc, núi rừng cô bé Sương ngày nào nay đã 17 tuổi xinh tươi như hoa đồng nội đã được bố trí đi cùng các thương binh của Đại đội 377, huyện Tuy Hòa 1, rời quê hương lên căn cứ cách mạng. Ngô Thị Sương chính thức trở thành chiến sĩ giao liên, niềm mong ước trở thành Quân giải phóng để trả thù cho bà con nhân dân đã trở thành hiện thực.

Nữ y tá giải phóng quân ngô thị sương

Với bản tính gan dạ, thông minh lại có tuổi trẻ và nhan sắc, quân nhân 17 tuổi Ngô Thị Sương thường được giao nhiệm vụ quan trọng liên lạc, chuyển tin từ căn cứ về cơ sở của ta ở đồng bằng và quận lị Hiếu Xương. Nhiều lần cô đã đưa tin trót lọt qua tai mắt của bọn mật thám, chỉ điểm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 8-1972, được cử đi học y tá, hoàn thành khóa học về nhận công tác tại Bệnh xá Đồng Tàu, đóng trên địa bàn xã Hòa Thịnh, Tuy Hòa 1. Thời điểm năm 1972, chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Không lúc nào ngưng tiếng bom rơi, đạn nổ; các bác sĩ, y tá vừa phải liên tục tiếp nhận cứu chữa thương binh, vừa phải sẵn sàng chiến đấu, vừa phải tự túc lương thực, thực phẩm. Hàng ngày tiếp xúc với những đau đớn của thương binh và những hi sinh của các chú, các anh trong điều kiện thuốc men không có, thiếu thốn trăm đường. Lòng căm thù giặc, tình yêu quê hương đất nước trong nữ y tá Sương được nhân lên gấp bội. Các bác sĩ, y tá trên chiến trường đã cố gắng hết sức mình bằng tất cả những gì có thể. Những vết thương nhiễm trùng, những ca mổ, cưa chân tay không có thuốc mê, chỉ còn là sức chịu đựng can trường của người lính. Những tiếng kêu đau nhói con tim mà chỉ biết tiêm huyết thanh để động viên về tinh thần. Hát, kể chuyện cho thương binh nghe trong tuôn trào nước mắt, dẫu không hay nhưng ấm áp tấm lòng. Chị kể: “Khổ lắm em ơi! Thương lắm em ơi! Thấy đồng đội, các chú, các anh bị thương đau đớn mà lực bất tòng tâm, không làm gì được…”. Vào đúng thời điểm chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, Bệnh xá Đồng Tàu tiếp nhận rất nhiều thương, bệnh binh, trong đó có thương binh Nguyễn Văn Xướng bị thương gãy tay từ Hòa Bình chuyển lên trong trạng thái hôn mê vì bị nhiễm trùng ttanot. Bác sĩ Măng Cư người trực tiếp cắt phần tay hoại tử và điều trị bằng kinh nghiệm dân gian. Không có thuốc ông đã giao nhiệm vụ cho hai y tá (Ngô Thị Sương và Nguyễn Thị Thương) hàng ngày chăm sóc và tìm giòi ở các hố vệ sinh, chà rửa sạch lấy phần thân còn lại bỏ vào ống sữa bò đốt lên thành tro để đắp vào vết thương và hòa nước cho thương binh uống với nước cô đặc từ cây chó đẻ (diệp hạ châu). Bằng sự kiên nhẫn của hai y tá (Sương, Thương) ròng rã hơn 6 tháng, trời đã không phụ lòng các nữ y tá, thương binh Nguyễn Văn Xướng dần được phục hồi và đã được cứu sống. Đến năm 2015 do tuổi cao, bệnh tật tái phát thương binh Nguyễn Văn Xướng đã mất tại thôn Hội Cư, xã Hòa Tân Tây. Đó là một trong những kỷ niệm cứu chữa thương binh trên chiến trường mà nguyên y tá Ngô Thị Sương kể cho tôi nghe. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ cho chúng ta hiểu được tính khốc liệt của chiến tranh, những tình cảm vĩ đại, đậm sâu mà những chiến sĩ quân y dành cho thương binh trên chiến trường. Từ những tình thương vô bờ bến đó Ngô Thị Sương đã sát cánh cùng các bác sĩ, y tá hết lòng cứu chữa được nhiều thương binh cho đến ngày kết thúc chiến tranh. Sau giải phóng, Ngô Thị Sương vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì.

Thờ hai bà Mẹ Việt Nam Anh hùng và nhiều thân nhân liệt sĩ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã giành thắng lợi hoàn toàn; song để có thắng lợi vẻ vang đó, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã anh dũng ngã xuống, để lại muôn vàn tổn thất, thương đau cho rất nhiều mái ấm gia đình. Tại ngôi nhà riêng (04/71 Lý Thái Tổ), Ngô Thị Sương đã lên chức bà nội. Tôi đến thăm nhà, bà đón tôi bằng sự nhiệt tình, niềm nở, rất vui nhưng cũng không giấu hết được những nét trầm luân, gian khổ hiện trên khuôn mặt của người phụ nữ từng trải nhiều thương đau, mất mát. Bà Sương dẫn tôi lên căn gác 2, nơi gia đình đang thờ hai Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và gần 20 liệt sĩ là thân nhân nội tộc. Đốt nén nhang dâng lên bàn thờ, bà kể tôi nghe: Bà nội chồng là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Cảnh. Mẹ có 3 con trai, 1 con dâu và 3 cháu nội là Liệt sĩ. Mẹ chồng là Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Điền, bản thân mẹ, chồng và con trai là Liệt sĩ. Mẹ Trần Thị Điền tham gia hoạt động cách mạng những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1962, bị địch phát hiện khi về bắt liên lạc với cơ sở, mẹ đang tìm cách chạy thoát khỏi vòng vây thì bị chúng bắn chết, kẻ thù đang tâm cắt đôi vú và một bên tai của mẹ hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của đồng bào ta… Lúc này con gái út của mẹ Điền chưa đầy 6 tháng tuổi. Bà Sương đã phải rất cố gắng khi kể tiếp danh sách những linh hồn liệt sĩ được thờ trên bàn thờ này. Trong số gần 20 Liệt sĩ thì có 5 Liệt sĩ hi sinh trong chiến dịch xuân Mậu Thân, năm 1968. Có liệt sĩ không thể lấy xác về, có thể đã được cất bốc chung vào mộ tập thể, mộ chưa biết tên hoặc còn nằm lại ở đâu đó… Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé, mong manh trước sự hi sinh to lớn của đại gia đình này. Bình tâm lại, bà Sương tiếp tục câu chuyện, theo bà những Liệt sĩ hi sinh được đưa về yên nghỉ, thờ cúng vẫn còn chút may mắn. Trong chiến tranh còn nhiều, nhiều lắm những cán bộ, chiến sĩ của chúng ta ngã xuống không thể lấy được xác về, không thể định danh, giờ cũng không biết còn ở đâu đó trên khắp mọi miền đất nước, trên cánh rừng, dưới lòng sông, bờ suối… Câu chuyện bà Sương kể, hình ảnh của những con người, những trận đánh đã để lại trong tôi biết bao điều linh thiêng vọng tưởng. Hình ảnh những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, mùi hương thơm trên bàn thờ vong linh các liệt sĩ lưu lại theo tôi cảm giác tiếc thương, kính trọng vô bờ.

Từ cô bé Ngô Thị Sương ngây thơ, vô tư đã sớm chứng kiến cảnh chiến tranh tàn khốc, từng trải qua những mất mát thương đau hun đúc nên tình yêu gia đình, quê hương mãnh liệt, hình thành phẩm chất đạo đức trong sáng biết hi sinh, cống hiến, thủy chung với đồng đội thật đáng trân trọng.

 

Những thân nhân của đại gia đình bà Ngô Thị Sương đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta:

1. Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Cảnh (Mẹ của mẹ chồng bà Sương). Thôn Nam Bình, Hòa Vinh, Đông Hòa, Phú Yên.
2. Liệt sĩ Nguyễn Miên, con trai mẹ Lê Thị Cảnh (chồng Mẹ VNAH Trần Thị Điềm), hi sinh năm 1962.
3. Liệt sĩ Nguyễn Tỷ, con trai mẹ Lê Thị Cảnh, hi sinh năm1968.
4. Liệt sĩ Nguyễn Ẩm, con trai mẹ Lê Thị Cảnh, hi sinh năm 1968.
5. Liệt sĩ Nguyễn Thạch (Nhiên) con trai Liệt sĩ Nguyễn Miên, hi sinh 27-6-1961.
6. Liệt sĩ Nguyễn Ngân, con trai Liệt sĩ Nguyễn Ẩm, hi sinh năm 1973.
7. Liệt sĩ Nguyễn Quanh, con trai Liệt sĩ Nguyễn Tỷ, hi sinh 1972.
8. Liệt sĩ Nguyễn Khanh, cháu nội của mẹ Lê Thị Cảnh (con của con trai thứ 7 của mẹ Cảnh).
9. Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Liệt sĩ Trần Thị Điềm, Hòa Vinh, Đông Hòa, Phú Yên (vợ Liệt sĩ Nguyễn Miên), hi sinh 1962.
10. Liệt sĩ Ngô Xạo (Sáu Hậu), anh chồng mẹ Lê Thị Cảnh.
11. Liệt sĩ Ngô Tài, anh chồng mẹ Lê Thị Cảnh.
12. Liệt sĩ Ngô Ơn, em chồng mẹ Lê Thị Cảnh.
13. Liệt sĩ Nguyễn Thị Mai, vợ của Liệt sĩ Ngô Xạo (Sáu Hậu).
14. Liệt sĩ Võ Đạt, cậu của mẹ Lê Thị Cảnh.

Ngoài ra còn nhiều Liệt sĩ thuộc dòng họ, bà con thân thích gần gũi khác.

 

Nguyễn Bá Thuyết
(TP. Tuy Hòa – Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 486

Ý Kiến bạn đọc