Tản văn

Chụp chim

Anh chụp. Chụp miết. Và anh giải thích: Về hưu rồi, không biết làm chi, nên chụp thôi! Vậy đó! Là chụp mấy con chim ấy mà! Bởi vì, “khẩu súng” của bạn tôi là một chiếc máy ảnh thuộc loại xịn.

Đi chụp chim cũng khá vất vả công phu. Phải lăn lóc không nề hà nắng mưa lầy sình, bụi bờ gai góc. Phải quên đi cả những cuộc hẹn hò thú vị, một khi đã lỡ theo… con chim.

Có được những tấm ảnh đắc ý, anh gửi cho bằng hữu xem. Một cô bạn rắn mắt hỏi: Anh còn chụp cái con chi nữa không? Anh bạn thật thà: À, còn chụp cu xanh nữa. Đẹp lắm! Hôm nào tôi gửi cho xem. Cô bạn tiếp tục đùa dai: Sao chỉ chụp cu màu xanh, mà không có cu màu chi… đậm đậm hơn chút chút???

Thiệt tình!!!

Nói chuyện chim chóc, thì việc nhắc nhớ đầu tiên là thói quen phóng sinh chim – cá của những tín đồ một vài tôn giáo. Có người đã… không OK việc này, bởi vì họ lý luận: Do có người bày đặt ra việc mua chim – cá để thả nên mới khiến xui có người đánh bẫy – giăng lưới! Nói thế, không phải không có lý. Nhưng mà, phóng sinh cũng “góp phần” tạo nên lòng hiếu sinh, chẳng phải sao? Và nếu nhìn rộng rãi hơn, thì việc “thả” chẳng tốt hơn chuyện… bắt giam sao?

Tiếp tục lan man, thì sẽ dẫn dắt đến những… loài chim trong kinh sách. Ví như khổng tước, bạch hạc trong kinh Phật là loài chim có giọng hót êm tai, được ví với người thuyết pháp hay. Chim anh vũ kể chuyện bằng tiếng người. Ca-lâu-la là chim thần trong Ân giáo. Chim công là biểu tượng cho 5 con đường của hàng Bồ-tát trong Phật giáo nhưng lại “hóa thành” sự bất tử dưới góc nhìn của Thiên chúa giáo; hoặc là các ngôi sao trong đạo Hindu. Chim ưng là hình ảnh của sự tự tại phóng khoáng trong hạnh bố thí; là con vật mà thần Vishnu (đạo Hindu) cỡi bay…

Nhờ cái tính siêng năng “chụp” mà anh bạn dần dần trở nên một chuyên gia về… cà kê chuyện trò chim chóc. Rằng trong Nam hoa kinh của Trang Tử có đoạn miêu tả con chim bằng có đôi cánh to đến mức khi bay lên thì che kín cả bầu trời. Rằng, về dáng hình thì có sáo mỏ gà, chim cánh cụt…; về màu lông thì có khướu bạc má, chích chòe lửa…; về tập tính sinh hoạt thì có chim gõ kiến, chim bói cá, chim sâu… Thôi thì vô thiên lủng những “kiến thức chim”! Chuyện đến lúc cao hứng, thì tất nhiên là kéo qua việc truy tìm “ý nghĩa cuộc đời… chim”. Tỉ như, anh dẫn ra cái nhìn bất nhị khi nói về căn bệnh nan y của loài người là thói quen so sánh chuyện này chuyện nọ đã dẫn đến chỗ gây nên nhiều mâu thuẫn không cần thiết; hoặc dẫn trưng câu ca mà… ai cũng biết: chim khôn kêu tiếng rảnh rang… /người khôn nói tiếng nhẹ nhàng dễ nghe, đểminh chứng cho quan niệm ái ngữ của nhà Phật trong quan hệ giao tiếp giữa người với người…

Chuyện chim thì có nói… ba ngày cũng chưa hết, nên phải “nói túm lại” nhanh nhanh thôi. Rằng, đi “chụp” như vậy, có được lợi lạc chi không? Anh bạn hiền từ quay lại hỏi: Vậy sống là để làm chi? Lao tâm khổ tứ phải chăng chỉ để có được bạc tiền xủng xoẻng và danh vọng tót vời hay thôi sao? Hoặc, sống là kiếm tìm… hạnh phúc? Cũng có nghĩa, được… sướng. Mà sướng là chi, nếu không phải để có được niềm vui và tình yêu?

Không biết anh muốn dẫn dắt tới đâu, nhưng tôi cứ đoán mò rằng, cái “tình yêu” mà anh muốn nói liên quan đến chuyện… bay lên. Như chim. Nghĩa là phải dần dần rời bỏ những trói buộc của tập quán, để tiến gần đến sự tự do trong đời sống tinh thần…

Mà, muốn được như thế, thì một trong những việc đầu tiên cần phải làm là: giảm bớt “lý sự”, đừng “cãi” nữa!

Để ngắm chim. Đang bay. Đang đậu trên cành. Đang… ngủ.

Chẳng phải như thế sao?

8-2015
 NGUYỄN ĐÔNG NHẬT