Văn học nước ngoài

Chuột chũi

 

Hãy nói về mỗi buổi sáng của tôi nhé.

Tôi thức dậy sớm lắm. Thường thì đại khái là tôi mở mắt thức dậy trước cả vợ tôi.

Vào những lúc bình minh, những tia sáng mờ nhạt soi xuống từ những khe hở trên trần nhà. Tôi ườn mình trên giường ngắm nhìn những tia sáng đó một lúc lâu.

Vào những ngày mưa gió hay mây mù thì đợi mãi mà chẳng thấy có tia sáng nào cả. Vào những dịp hiếm hoi khi tuyết rơi thì dù chưa đến bình minh tôi vẫn cảm nhận được thứ ánh sáng mờ nhạt.

Trong chăn thì ấm nhưng đầu mũi tôi lại lạnh cóng. Tôi muốn dậy đi tiểu mà sao mãi vẫn không nhấc mình dậy được.

Trong khi đó thì vợ tôi thức dậy đi tiêu tiểu trước cả tôi. Nàng thức giấc nhanh nhẹn lắm, vừa ư ử ca một bài ca vừa bắt tay dọn dẹp nhà cửa và châm lửa nấu nướng ngay.

Cuối cùng thì tôi cũng dậy, vệ sinh xong xuôi. Trong khi tôi đi quanh xem xét những con người mà tôi đã lượm về đây vào hôm qua, hôm kia và cả trước đó nữa, thì trong lò sưởi lửa cháy hừng hực, ấm nước sôi sùng sục và khắp phòng nồng nàn mùi bánh mì nướng. Vợ tôi thật là tháo vát đảm đang.

Những con người tôi thu lượm được thì ở căn phòng kế bên.

Hầu hết họ nằm duỗi chân cả. Chăn gối nệm phải nói là thừa mứa. Rất ít người hỏi xin phép tôi xem có thể sử dụng chăn nệm được không. Ngay khi được đưa về đây là họ vùi mình vào trong lớp chăn chất cao ngất. Họ cố gắng đẩy những người đang nằm ngủ để chen vào lớp chăn ấm áp. Họ đi lòng vòng quanh phòng, dẫm lên những người đang nằm ngủ. Toàn một lũ như thế cả thôi.

Dù vậy sau khoảng nửa ngày, sau khi đã tìm được chỗ ngủ hay phân chia được ranh giới thì căn phòng lại trở nên yên lặng.

Mỗi sáng tôi đi một vòng đập vai lũ người dậy. Thứ nhất để xác định xem họ còn sống hay không? Thứ hai là để điều tra xem họ còn muốn ở đây hay muốn rời đi chỗ khác.

Những người đã chết rồi thì chúng tôi cứ thế mà kéo lê đi và thả xuống một cái hố được đào sâu hơn mặt đất hang này nữa. Chắc phải sâu hơn trăm mét dưới đất là ít. Tôi không đào cái hố này. Cũng chẳng phải vợ tôi. Mà là do mấy đời tổ tiên chúng tôi cứ âm thầm kiên nhẫn đào khoét mà nên.

Lúc mới được đào xong, cái hố ban đầu chỉ dùng để thả những người chết trong gia tộc chúng tôi mà thôi. Tuy nhiên qua nhiều thế hệ, họ hàng thân thích ngày một ít đi và đến bây giờ còn sống trên đời này chỉ có cha mẹ của hai vợ chồng tôi và bốn người em trai em gái của hai nhà mà thôi.

So-621--Nguoi-dan-ong-trong-chiec-hop---Vladimir-Yankilevski---Anh-1
Người đàn ông trong chiếc hộp – Vladimir Yankilevski (Nguồn: pinterest.ca).

Cả cha mẹ và anh em chúng tôi đều sống ở một nơi khá sâu dưới lòng đất ở phía Nam xa xôi hơn Kyushu nữa. Họ sống âm thầm lặng lẽ, không giao thiệp với bất cứ ai. Thỉnh thoảng mẹ vợ cũng có gửi mail đến nhưng chỉ toàn viết là hãy mau mau rời Tokyo mà về đây sống đi thôi. Có vẻ như bà sợ chuyện hai đứa em vợ tôi muốn đến sống ở Tokyo thì phải.

Những người có vẻ muốn rời khỏi đây ngay thường phản ứng với cú đập vai của tôi và ngước mặt nhìn lên cho nên tôi biết. Khi ngước mặt nhìn lên con người ta đều có một vẻ ngơ ngác bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Mắt họ nhìn chằm chằm vào mắt tôi và miệng cứ thầm thì lúng búng điều gì không rõ.

Tôi một lần nữa nhẹ nhàng vỗ vai những con người và mỉm cười với họ. Sau đó tôi quay trở về phòng khách có vợ tôi đang sửa soạn rồi nhóp nhép ăn thịt lợn xông khói và sữa chua phết mứt đào.

Sau khi dùng bữa xong, tôi cùng vợ mang một nồi hầm thập cẩm nóng hổi qua phòng kế bên cho con người. Vợ tôi múc đồ hầm vào bát, còn tôi cho mọi người sắp hàng theo thứ tự. Nhưng lũ người này toàn chen ngang, giống như xem chuyện xếp hàng là phiền phức lắm, rồi còn giành giật các bát súp hầm của nhau nữa. Tôi nhắc nhở từng người một và nếu như họ còn không nghe lời, tôi sẽ dùng móng vuốt của mình cào cấu để bắt họ nghe lời mà vãn hồi trật tự.

Sau khi lũ người ăn hết món hầm, căn phòng yên tĩnh trở lại. Tôi bắt đầu chuẩn bị đi đến công ty. Vợ tôi đánh chùi bồn rửa bát, máy giặt bắt đầu quay đều đều. Được vợ ra tiễn, tôi lao qua một cánh cửa sập lên mặt đất rồi đi ra đường. Sau đó tôi thong thả đi đến nhà ga. Vì là một người chịu lạnh rất kém nên tôi đã mặc áo khoác lông cừu, quàng khăn và đeo găng tay bằng da. Tôi phải đổi hai chuyến tàu điện và mất gần khoảng một tiếng đồng hồ mới đến được công ty.

Đến công ty, tôi quẹt thẻ chấm công và trong khi đợi một cô nhân viên đến pha trà cho mình, tôi liếc nhìn qua mớ giấy tờ được fax đến đặt trên bàn làm việc. Lúc mới đi làm, tôi toàn bị ném đá hay những thứ dơ bẩn vào người nhưng sau mấy năm có lẽ các bạn đồng nghiệp và cấp trên đã quen dần với sự hiện diện của tôi thì phải.

Những thanh niên trẻ mới vào công ty trong những năm gần đây dường như không nhận ra là tôi khác với bọn họ thế nào. Dường như họ cũng chẳng lưu tâm gì đến vẻ kỳ hình dị tướng của tôi chứ đừng nói là để tâm quan sát. Cũng có mấy nhận xét như “râu ria rậm rạp quá nhỉ” vậy thôi chứ tôi chẳng bị người ta giữ khoảng cách xa mà nhìn chằm chằm hay bị chất vấn hỏi thăm quê quán nơi sinh gì cả; mặc dù là khoảng 10 năm trở lại đây, số lượng người thích ngồi lê đôi mách càng ngày càng nhiều.

Tôi ngồi trước máy tính làm việc đến trưa, chủ yếu là xử lý các số liệu thống kê. Thỉnh thoảng cô nhân viên văn phòng đến nhờ tôi viết chữ lên bìa thư. Tôi viết chữ khá đẹp. Người ta nói chữ tôi viết là đẹp nhất công ty. Cho đến khi mở suất cơm hộp mà vợ tôi làm cho để dùng bữa thì tôi cũng đã lặng lẽ hoàn thành xong chỉ tiêu phần việc của mình. Trong văn phòng có bật máy sưởi nhưng vì tôi là người chịu lạnh rất kém nên đã dán thêm hai miếng sưởi Kairo loại dùng một lần vào lưng và bụng. Khi miếng sưởi trở nên nguội dần đi thì cũng đến giờ cơm trưa.

*
Để tôi kể bạn nghe giờ nghỉ trưa của tôi nhé.

Sau khi ăn hết suất cơm hộp vợ làm cho, tôi gói ghém cái hộp cơm không một cách cẩn thận, rửa tay thật sạch, tiện thể rửa mặt luôn. Khi ăn cơm tôi dùng đũa nhưng cũng sử dụng cả lòng bàn tay và móng vuốt nữa. Tay dính nhớp nhám dầu mỡ, gò má và râu ria xung quanh miệng tôi dính đầy những mẩu thức ăn thừa.

Không biết có phải vì người ta không thích nhìn thấy cảnh tôi ăn hay là người ta không muốn ở trong công ty vào giờ nghỉ trưa mà trong văn phòng bộ phận chúng tôi chỉ còn lại mình tôi và cô nhân viên trực điện thoại mà thôi. Văn phòng trở nên yên ắng và hơi lạnh lẽo.

Vì lạnh quá sức mà tận dụng nốt thời gian nghỉ trưa, tôi ra công viên trước nhà ga đi dạo. Trong công viên có rất nhiều người vùi mình trong cái hộp giấy, tôi quyết định chui vào một trong những cái hộp giấy có vẻ ấm áp nhất trong số đó.

“Này, cậu đâu phải là người?”.

Khi tôi vừa lẻn vào thì người vô gia cư đó vừa nhìn lom lom tay chân mặt mũi tôi mà nói vậy. Người này còn quan sát tôi kỹ lưỡng hơn đám trẻ trong công ty nữa.

“Dĩ nhiên không phải là người rồi”, tôi ưỡn ngực ra mà nói. Người vô gia cư mỉm cười.

“Cái con vật này kiêu ngạo quá thể”.

“Cái gì, cái gì, con người không phải là một loài động vật hay sao?”.

“À, thì đúng là như vậy”.

Cuộc nói chuyện chấm dứt ở đó. Người vô gia cư khá kiệm lời. Những người tôi nhặt về cũng khá là ít nói. Xét về tổng thể thì dân Tokyo ăn nói kín kẽ, ít lời.

Khi dựa lưng mình vào lưng người vô gia cư, tôi dần cảm thấy ấm hơn. Cho dù trời mưa gió hay thậm chí là tuyết rơi đi nữa, thì dựa vào lưng con người như thế này luôn ấm áp hơn ở trong công ty. Nhưng dường như con người không hay dựa lưng nhau lắm thì phải. Tại sao con người lại lạnh lùng xa cách như vậy thì tôi thật tình không sao hiểu nổi.

Tôi không bao giờ nhặt về những người vô gia cư. Tôi chỉ lượm về những người còn bất trắc, bấp bênh hơn nhiều.

Rời khỏi chiếc hộp giấy của người vô gia cư, tôi đi dạo trên con đường nằm phía sau những tòa nhà chính quanh nhà ga. Những con người bất an, bấp bênh không có trên đường. Ngược lại, họ thường ở những nơi tươi sáng, rộng rãi hơn. Chẳng hạn trong các cửa tiệm nơi nhà ga, trong quán cà phê có cửa kính lấp lánh hay trong những cửa hàng.

Trên đường có mèo. Nhìn thấy tôi lập tức chúng xù lông lên và kêu “Meo, meo”. Vì con người thích mèo nên khi nghe chúng kêu gào, họ cảm thấy bị phiền lòng. Tôi vừa đi dạo vừa cố gắng tránh lũ mèo.

Cuối con đường đôi khi có những cái lỗ. Tuy nhỏ thôi nhưng nếu chui vào đó ta sẽ đụng lớp đất mềm. Tôi dùng móng vuốt đào sâu hơn vào đất mềm đó. Khi hứng chí lên có lúc tôi đào thẳng một đường hầm về đến nhà. Cái áo khoác lông dê vợ cất công chuẩn bị cho bị lấm lem đầy đất cát nên vợ tôi cằn nhằn. Tôi hôn vợ rồi quay ngược trở lại về cái hang của mình.

Khi lên khỏi mặt đất, ánh mặt trời rất chói chang. Cho dù là ngày mây mù đi nữa mà vừa ra khỏi lòng đất mắt tôi vẫn chưa quen ngay, mãi mà không mở mắt ra được. Tôi cảm nhận được ánh sáng trên mí mắt khép chặt. Ánh sáng rất lạnh. Cho dù là ánh sáng mặt trời nhưng vẫn lạnh. Vợ tôi nói là mặt trời cách quá xa trái đất đó mà. Trong lòng đất thì gần với lõi mắc ma nên ấm áp hơn trên mặt đất nhiều. Những người mà tôi nhặt về khi nằm ngủ sóng soài trong căn phòng kế bên đó trông cũng có vẻ ấm áp hơn trên mặt đất bao nhiêu.

Cuối cùng mắt tôi đã quen ánh sáng để mở ra, tôi phủi bụi trên áo khoác, quàng lại chiếc khăn bị lệch và quay trở lại công ty. Giờ nghỉ trưa vừa hết, trong văn phòng đầy người. Tôi bật màn hình máy tính, trích xuất vài hàng chữ số từ ổ cứng máy tính ra. Một nhân viên nữ rót cho tôi một ly trà nóng. Tôi dùng móng vuốt cầm tách trà, từ từ nhâm nhi từng ngụm trà.

Đôi khi móng vuốt của tôi bị trượt khiến tách trà rớt xuống sàn. Những cô nhân viên lập tức đến quét dọn những mảnh vỡ tách trà trong im lặng. Những cô gái này không có ý nhìn vào mặt tôi. Không ai trong công ty có ý định nhìn vào mặt tôi cả. Họ cũng chưa bao giờ thử bắt chuyện với tôi.

Tôi hướng về máy tính, bắt đầu gõ bàn phím lạch cạch.

*
Để tôi kể cho các bạn nghe về buổi chiều.

Buổi chiều ánh nắng chiếu vào văn phòng, khiến tôi cảm giác ấm áp hơn chút. Có 3 chậu cây sung cao su được đặt cạnh nhau nơi chỗ tiếp tân. Trên đường đi ngang qua nhà vệ sinh, tôi thường hay thổi bụi bám trên lá cây sung cao su. Lá cây sung cao su đúng là thứ dễ bám bụi. Chỉ khoảng nửa ngày thôi mà lá cây đã bám một lớp bụi mỏng của những người qua lại nơi đây.

Tôi bước vào căn buồng nhỏ trong nhà vệ sinh. Vì tôi nhỏ hơn người bình thường nên không với được tới bồn tiểu. Chiều cao của tôi chỉ bằng 2/3 người bình thường nên lúc nào tôi gắng sức đi vào bồn tiểu là y như rằng nước tiểu lại văng tứ tung.

Nhân tiện đi vệ sinh thì tôi thường bắt chuyện với những người lao công trong tòa nhà. Vào buổi chiều, thường những nhân viên lao công tụ tập nơi cầu thang thoát hiểm giữa tầng 2 và tầng 3. Ai cũng im lặng dựa vào tường.

“Hôm nay ở ngoài tòa nhà có “người đó” đấy”, đôi khi những người lao công chỉ cho tôi như vậy.

“Người đó” chính là loại người mà tôi nhặt về.

“Người đó hôm nay có vẻ hơi nguy hiểm”.

“Nguy hiểm sao?”.

“Như thể muốn nhảy từ trên sân thượng xuống đấy”.

“Ghê quá vậy”, những người lao công bàn tán với nhau. Hồi nào đó, có gã đã nhảy xuống thật luôn, tôi đã nhìn thấy đấy. Con người vừa nói như vậy vừa cười ha ha. Tôi không thể hiểu được sao họ có thể cười vào lúc nói chuyện đó được nhỉ. Tôi không cười. Tôi chỉ cười lúc nào vui thôi. Dường như con người không phải chỉ vui vẻ mà cười hay sao ấy. Tôi không hiểu được con người.

Tôi lấy ra quyển sổ tay, ghi vào vị trí có “người đó”.

Quay trở lại văn phòng, tôi lại chăm chú vào máy vi tính, cô gái văn phòng pha trà cho tôi. Trà pha buổi chiều bao giờ cũng nguội. Có lẽ đến buổi chiều thì con người trở nên mệt mỏi chăng? Nếu mệt thì cứ ngủ đi cũng được vậy mà con người cứ mặc quần áo nghiêm chỉnh, tuy mệt mỏi mà cứ ngồi trên ghế hay đi vòng vòng quanh văn phòng.

Tôi mà buồn ngủ thì cho dù ở trong phòng, ngoài hành lang hay bất cứ nơi đâu đi nữa, tôi đều có thể lăn ra ngủ ngay. Lấy áo khoác lông cừu làm chăn, tôi đánh một giấc ngon lành. Con người gắng hết sức đi vòng quanh để không dẫm lên người tôi. Vì tôi đã cố nằm sát vào trong tường nên con người có thể bước qua mà không để ý gì cũng được, vậy mà họ cứ đi vòng quanh như không muốn lại gần tôi chút nào hết, làm vang lên tiếng lộp cộp của giày dép, ra vẻ như mình bận rộn lắm ấy.

Khi thức dậy, tôi thấy thân thể mình lạnh cóng. Chẳng thể nào khác được vì tôi nằm trực tiếp dưới sàn nhà mà. Thấy tôi thình lình thức dậy, nhiều con người có một khoảnh khắc kinh động. Cũng không phải là kinh động mà không khí có chút xáo trộn thế thôi. Tôi hiểu rõ điều đó.

Con người rất ghét giống loài chuột chúng tôi. Từ xa xưa đã thế rồi. Cho nên chắc các cụ tiên tổ nhà tôi không bao giờ nghĩ được rằng đến ngày tôi lại sống chung mỗi ngày với con người như bây giờ cả. Chứ ngày xưa con người rất ghét họ chuột chúng tôi, chỉ cần thấy bóng dáng là họ lấy súng ra bắn, lấy xẻng mà đâm, lấy thuốc độc mà rải chết, thật là khổ sở trăm đường.

Bây giờ những người có ý định tấn công tôi rất ít. Dường như con người bây giờ không hiểu rõ là mình ghét hay thích điều gì nữa. Trong sâu thẳm tâm tư thì họ ghét tôi nhưng vẫn để cho tôi làm việc ở công ty bình thường. Con người bảo với nhau rằng họ để tôi làm tại công ty vì họ cần tôi. Tuy nhiên với đại đa số người, tôi chẳng có sự cần thiết nào cả. Đối với nhiều người, dòng họ chuột sống dưới lòng đất như chúng tôi chỉ thuần túy là vật gây hại mà thôi.

Tôi chầm chậm đi qua những tiếng ồn ào lạnh lẽo, quay trở lại chiếc máy tính của mình rồi cầm tách trà nguội mà cô nhân viên văn phòng đã pha cho. Tôi kiểm tra hộp thư điện tử của mình, thấy có mấy bức thư viết là đã bắt gặp “người đó” ở chỗ này, chỗ kia. Sau khi viết toàn bộ vị trí của “người đó” vào sổ tay, tôi xóa hết những bức thư đó đi.

Những bức thư ngày một nhiều thêm. Tiếng thì thầm của con người nghe về tôi từ đâu đó như một cái rễ cây vươn lên xuyên bờ đá không ngừng vươn đến nhắm vào con người tôi.

Sau khi uống tách trà nguội, tôi đánh rơi tách trà xuống sàn. Đôi lúc tôi cố tình đánh rơi tách trà như thế xem sao. Con người chất đầy sự căm ghét nơi mình nhưng không phát tán sự căm ghét đó ra, mà vừa gieo rắc cái không khí đen tối vừa quét dọn thu gom những mảnh vỡ của tách trà.

Tôi làm bộ mặt như chẳng có chuyện gì xảy ra, tiếp tục nhìn vào những con số nơi màn hình vi tính. Ánh nắng hồng buổi chiều chiếu xuyên qua cửa kính văn phòng. Nắng chiều trải rộng khắp bầu trời. Thứ ánh nắng mạnh mẽ bao phủ khắp bầu trời Tokyo.

Tôi bắt đầu viết vào sổ tay thứ tự đi thu gom những “người đó”.

(Từ nguyên tác Ugoromochi)

(Còn tiếp)

 

So-621--Hiromi-Kawakami---Anh-1
Kawakami Hiromi. 

Lời người dịch:
Hiromi Kawakami sinh năm 1958, là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng của Nhật Bản. Bà đã giành được nhiều giải thưởng văn học như giải Akutagawa, giải Tanizaki và Yomiuri…
Trong bài “Các nhà văn nữ Nhật Bản, một cuộc đảo chiều tinh tế”, Rieko Matsuura đã viết như sau: “Với Hiromi Kawakami, thế giới thường nhật diễn ra trơn trụi và buồn tẻ, nhưng nó sẵn sàng chuyển hóa tức khắc thành một thế giới khác, nơi mà con người trở thành những con vật, bị ám ảnh bởi sự gia tăng số lượng từ những kẻ đến sau, chúng ta có thể ví von đó như là một dạng âm bản của “Alice ở xứ sở diệu kỳ”.
Đây là lần đầu tiên một truyện mang phong cách đặc trưng của Kawakami được dịch ra Việt ngữ. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

Kawakami Hiromi (Nhật Bản)
Hoàng Long (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 621

Ý Kiến bạn đọc