Văn học nước ngoài

Chuột chũi

Kỳ 2

 

Hãy nói chuyện về buổi tối của tôi nhé.

Khi rời khỏi công ty, bao giờ tôi cũng cúi đầu chào thật thấp. Những bức tường tòa nhà phủ đầy bóng tối như thể bị ướt át đi, đường nét của tòa nhà cũng trở nên mơ hồ. Những cửa sổ được thắp đèn trông như tờ giấy hình chữ nhật nổi bềnh bồng giữa không trung. Những người cùng ra về cố gắng né tránh cái cúi đầu chào của tôi. Những người đó rời khỏi công ty mà không bao giờ quay đầu nhìn lại. Giả sử như đêm nay họ có chết đi thì ngày mai đâu thể đến đây mà làm việc được nữa. Vậy mà con người cứ hấp tấp rời đi, hấp tấp trở về.

Sau khi cảm thấy cúi đầu chào đã đủ, tôi bắt đầu cất bước về hướng thành phố đêm.

Đêm mới chớm mong manh, ánh sáng mờ nhạt vây phủ đô thành.

Tôi vào một quán rượu, gọi bia tươi. Người nhân viên phục vụ trẻ thoáng kinh ngạc vì lông lá rậm rạp của tôi nhưng sắc mặt vẫn không thay đổi, mang bia tươi đến cho tôi. Sau đó, ngay lập tức mang đến một dĩa củ cải phơi khô xắt mỏng làm đồ nhắm cho tôi.

Người phục vụ trẻ chỉ thoáng kinh ngạc lúc đầu mà thôi. Sau đó anh ta quen liền rồi nhanh chóng mang các món đậu hũ chiên, mề gà nướng muối rồi canh củ cải mà tôi đã gọi.

“Nơi này có người đó không nhỉ?”, tôi hỏi người phục vụ khi anh ta mang ra bình rượu sake thứ hai.

“Những nơi như tiệm chúng tôi, người đó không đến đâu”, anh ta trả lời.

Tôi nhìn quanh cửa tiệm thấy người đó có đến hai, ba người. Có người tròng trắng đã đục ngầu, dáng vẻ vô cùng mệt mỏi; có người mắt xanh nhưng lại gục đầu chán chường. Người phục vụ trẻ cứ nghe người đó gọi món mà hầu như chẳng nhận ra điều gì, cứ tất bật chạy qua chạy lại trong quán.

Người đó khi thì bị trượt ra khỏi ghế, khi thì lắc lư đập đầu vào tường. Tôi dùng móng vuốt của mình, đột ngột móc lưng người đó lên. Sau khi bị treo vào móng vuốt tôi một lúc, người đó dần dần thu nhỏ người lại.

Đầu tiên bằng nửa người tôi sau đó nhỏ đến mức có thể đặt lên lòng bàn tay được.

Tôi nhét người đó vào túi áo khoác. Người đó chẳng kêu la hay kháng cự gì hết, cứ thế mà trượt vào túi áo tôi, như thể đã mong muốn điều này từ lâu rồi vậy.

“Dạ, của quý khách hết ba ngàn năm trăm yên”, người phục vụ trẻ mang hóa đơn đến.

“Đây cũng có khá nhiều người đó đấy”, tôi nói rồi lấy từ trong túi áo ra một người đó cho anh ta xem. Người phục vụ mắt tròn xoe nhìn người đó đã bị thu nhỏ lại.

“Trời, nơi tiệm này mà cũng có sao?”, anh ta nói và nhún vai.

“Thực ra, người đó cuối cùng là gì vậy nhỉ?”, người phục vụ vừa nhìn người đó đang nhắm nghiền đôi mắt với vẻ không thiện cảm gì mà hỏi tôi.

“Chà, tôi cũng không biết rõ lắm nhưng mà…”.

“Nhưng mà sao?”, anh ta lại giục giã.

So-622--Anh-minh-hoa---Chuot-chui---Anh-1
Tranh minh họa. (Nguồn: goodreads.com)

Tôi lại đút người đó vào túi rồi ngẫm nghĩ một lúc lâu. Những người đó đột nhiên tăng vọt trong khoảng mười năm trở lại đây. Mỗi khi cha mẹ tôi tuyệt vọng về một chuyện gì đó họ lại nói rằng “Mình không có lực sống nữa rồi”. Những người đó có lẽ đều là những kẻ mất hết lực sống rồi chăng?

Nếu cứ bỏ mặc những người đó, họ sẽ dần dần trở nên trống rỗng. Chính bản thân họ, nơi họ cư ngụ, những thứ xung quanh họ đều trở nên trống rỗng. Họ làm mọi thứ trở nên phi thực.

Ta có thể nghĩ rằng nếu đã trống rỗng như thế, thì tại sao lại không chết đi? Nhưng chuyện đời không phải thế.

Để chết được chí ít có lẽ cũng phải cần chút sức lực thực sự.

Họ là những người không chết cũng không sống, chỉ đơn thuần có mặt ở đó và ăn mòn mọi thứ xung quanh. Và ăn mòn chính bản thân mình. Đó đích thực là bản chất của những người đó.

Lần đầu tiên khi người đó rơi xuống chỗ tôi đang sống là lúc nào nhỉ? Tự nhiên nghe một tiếng huỵch, tôi chạy đến nhìn xem thì thấy có người nơi căn phòng bên cạnh rồi. Đó là một người hoàn toàn xa lạ. Cho đến lúc đó thì chỉ có hai vợ chồng chúng tôi sống âm thầm trong lòng đất, không hề giao tiếp gì với lũ con người.

“Sợ quá”, người đó cất tiếng.

“Sợ cái gì mới được chứ?”, tôi với vợ đồng thời cất giọng hỏi. Người đó vẫn chăm chú nhìn vào khoảng không mà trả lời “Sợ tất cả mọi thứ”.

Từ đó về sau, cứ một tuần có một người, rồi đến năm ngày một người rồi ba ngày một người, mật độ rơi càng lúc càng ngắn và cuối cùng thì cứ khoảng một ngày lại có một người rơi xuống căn phòng kế bên.

Thời gian đầu thì tôi chỉ việc chờ con người rơi xuống thôi. Họ sống trong căn phòng đó một thời gian rồi quay trở lên mặt đất.

Khi tôi hỏi “Sao, giờ trở về à?” thì hầu hết đều trả lời “Vâng, tôi về đây”. Dường như con người sau khi ở trong lòng đất một thời gian đều có thể quay trở lên mặt đất thì phải.

Có đủ hạng người rơi xuống chỗ tôi. Những đứa trẻ chân tay dài ngoẵng teo tóp cũng có, những ông già yếu ớt suy kiệt cũng có, những thanh niên khỏe mạnh cũng có luôn. Người nào cũng lầm lì ít nói, làn không khí hoang dại vây phủ khắp thân hình của họ.

Lúc đầu, khi những người rơi xuống đây bị chết, tôi với vợ đào một cái hố nhỏ riêng biệt để chôn cất họ cẩn thận. Về sau chúng tôi nhớ ra cái hang mà tổ tiên đã đào và mang quẳng họ xuống đó. Con người khi chết đi sẽ lạnh và cứng lại. Dòng họ chuột chũi chúng tôi khi chết cũng sẽ lạnh và cứng lại. Đối với con người, họ sẽ khóc khi có đồng loại mất đi nhưng chúng tôi không khóc. Chúng tôi chỉ khóc khi có chuyện đau buồn hay tiếc nuối mà thôi. Cái chết là lẽ tự nhiên nên chúng tôi không buồn. Cũng không nuối tiếc. Tuy nhiên con người khi có đồng loại mất đi, dù bình thường thì thờ ơ lạnh lùng chẳng quan tâm gì đến, vậy mà lúc đó lại tập hợp lại rồi cùng khóc rống lên ở căn phòng kế bên đó. Họ khóc với điệu bộ như thể tiếng khóc làm họ dễ chịu đi vậy. Tôi chẳng thể nào hiểu nổi con người.

*
Để tôi kể cho bạn nghe chuyện đêm khuya của tôi nhé.

Hằng đêm, sau khi thu lượm xong hết con người thì tôi mệt lả.

Tôi bước đi âm thầm không tiếng động trên con đường dài trải nhựa tối tăm. Trong túi áo khoác tôi chất đầy người. Đôi lúc tôi vỗ nhẹ vào túi để chắc chắn rằng không ai bị rơi ra.

Đến cổng nhà, tôi mở cánh cửa sập rồi chui xuống lòng đất. Vợ tôi vẫn còn thức đợi chờ tôi. Mặc dù tôi đã nói là em cứ ngủ đi không phải đợi anh làm gì, nhưng nàng nói là đang ngủ mà thức dậy thì còn khó ngủ lại hơn nữa; nên nàng mặc một chiếc áo len dày ngoài bộ áo ngủ rồi vừa uống ca cao nóng hay sữa nóng mà đợi chờ tôi.

“Mình đã về à”, nàng cất giọng trìu mến. Thật là một con chuột có giọng nói dễ thương. Dòng họ bên vợ tôi ai cũng đều thế cả. Nhạc phụ và em trai vợ tôi cũng có giọng nói dịu dàng còn nhạc mẫu và em gái vợ tôi thì có giọng nói y hệt như vợ tôi. Tuy vậy khuôn mặt của mọi người thì lại không giống nhau lắm.

“Anh có cần dùng thêm món gì lót dạ không?”, nàng vừa hỏi vừa đứng sau giúp tôi cởi chiếc áo khoác rồi treo lên móc rất nhanh chóng gọn gàng. Túi tôi căng phồng lên. Vợ tôi dùng móng vuốt đâm vào chỗ phồng lên đó rồi lôi từng người ra. Vừa đếm 1, 2, 3… nàng vừa đặt từng người lên bàn.

Lũ người vẫn cứ yên lặng như vậy. Một lúc lâu sau, vài người khỏe nhất trong số đó mới bắt đầu nhúc nhích. Càng cử động mạnh thì con người càng lớn trở lại như kích thước ban đầu. Khi con người đã trở nên khá lớn thì tôi với vợ khiêng họ sang phòng kế bên để cho họ hoàn toàn phục nguyên lại dáng vẻ ban đầu.

Những con người đã đến từ trước đó dù thấy sự biến hình từ nhỏ bé đến cao lớn ấy mà vẫn không có chút gì kinh ngạc, mắt vẫn trống rỗng mơ hồ. Nói chung những người tôi nhặt về đều có vẻ trống rỗng mơ màng như vậy cả. Cho dù nhìn thấy sự bất bình thường hay kì diệu thế nào đi chăng nữa thì lũ người đó vẫn không bao giờ thôi trống rỗng mơ màng. Chỉ đến khi có một đồng loại của mình bị chết thì chúng mới khóc lóc hay sụt sùi nước mũi mà thôi.

Sau khi đám người đã trở về lại kích thước ban đầu hết thì tôi với vợ quay trở lại bàn và nhấm nháp một tách trà lúa mạch ấm nóng. Đôi khi tôi cũng dùng thêm hai ba cái bánh khô senbei. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện về con người. Cũng không nói chuyện công ty. Chúng tôi nói về hàng giảm giá trong siêu thị ngày hôm nay, về con Chiro ở tiệm thuốc đã sinh em bé. Từ sau khi sinh con, Chiro thường hay sủa nhặng xị với vợ tôi. Vừa nhấm nháp trà lúa mạch, vợ chồng chúng tôi nói về những chuyện như thế.

Ở căn phòng kế bên, lũ người trườn vào trong đống chăn nệm. Thỉnh thoảng bọn họ nói chuyện với nhau. Tôi với vợ áp tai vào bức tường ngăn với căn phòng bên mà nghe ngóng giọng nói của con người. Giọng con người thật dịu dàng. Cả giọng những người rơi xuống đây lẫn giọng của những người tôi nhặt về đều dịu dàng cả. Còn giọng nói của những người trong công ty thì không có chút nào dịu dàng êm ái cả.

“Sợ quá đi mất”, đám người nói.

“Sợ quá đi… bên hiên nhà cũ bây giờ, chỉ có dương xỉ đợi chờ mà thôi, lòng ta tiếc nhớ bồi hồi, huy hoàng một thuở của đời vinh hoa” (*).

Tôi chẳng hiểu lấy một chút gì lời họ nói. Những con người được nhặt về đều nói một ngôn ngữ như thể một cái máy bị hư. Chỉ lặp đi lặp lại “Sợ quá, sợ quá” rồi gào khóc “Ôi, trời ơi!”.

Từ mà con người nói nhiều nhất đó chính là “sợ hãi”. Điều gì làm con người sợ hãi thế nhỉ? Với giọng dịu dàng cùng với vẻ mặt trống rỗng vô hồn, con người cứ lặp lại không ngừng cái câu “Sợ quá, sợ quá đi”. Cái điều làm họ sợ hãi đến thế là gì nhỉ? Và nếu đã sợ như thế sao trông họ lại không có vẻ gì là rúm ró hãi kinh hết nhỉ? Tôi thật không thể hiểu nổi con người.

Trước khi đi ngủ, vợ chồng tôi đi sang phòng bên xem con người thêm lần nữa. Chúng tôi bắt chuyện với họ vài ba câu như chà, cái mũ đó hợp với anh lắm đấy, anh thích món ăn nào hay anh đã có chăn nệm rồi à… đại khái là như vậy. Đám người trả lời câu hỏi của chúng tôi một cách rõ ràng đáng ngạc nhiên dù bọn họ hầu như không nói chuyện với nhau bao giờ theo đúng nghĩa cuộc trò chuyện. Tôi thích ăn cá nhất, đặc biệt là cá mú đá, khi tôi ngồi câu cá mú bên bờ biển thì có con mèo đi đến, đó là con mèo tam thể vằn trắng đen và nâu, ngày xưa tôi cũng từng giết mèo ăn nhưng thịt mèo không ngon lắm. Họ cứ nói huyên thuyên những điều như thế.

Hai vợ chồng tôi nhanh chóng lên giường và chìm vào giấc ngủ sâu.

Nơi căn phòng kế bên tiếng kêu gào và tiếng thở dài vang vọng suốt đêm. Lúc ban đầu, hai vợ chồng tôi không thể nào quen được với thanh âm đó nên không thể nào ngủ được còn bây giờ thì chúng tôi ngủ ngon lành.

Vợ tôi ngáy nhè nhẹ. Dường như tôi cũng ngáy khá lớn khi ngủ say.

*
Bây giờ kể cho bạn nghe chuyện lúc rạng sáng nhé.

Lúc rạng sáng là thời điểm dòng họ chuột chúng tôi sinh con.

Cho đến bây giờ vợ tôi đã sinh được 15 đứa con. Những đứa bé hoạt bát, lông lá mịn màng. Nhưng sau khi sinh chẳng được bao lâu, chúng nó chết hết. Không sống được đứa nào. Chúng tôi đào một cái hố và chôn cất riêng từng đứa cẩn thận.

Lũ người khi biết chuyện những đứa con của chúng tôi chết cũng khóc thút thít. Có người còn khóc lớn tiếng hơn cả khi có đồng loại của mình chết nữa. Vì cái chết là lẽ đương nhiên nên cho dù đứa con tuy mới sinh ra mà chết đi thì vợ chồng tôi cũng không khóc. Trong số đám người mà tôi nhặt về hình như cũng có người đã siết cổ con mình đến chết vậy mà lại khóc lớn nhất, rồi còn quằn quại thân mình trong đau khổ. Tôi thật chẳng thể nào hiểu được con người.

Không chỉ có loài chuột mà con người cũng thường sinh con vào lúc rạng sáng.

Khoảng đâu 10 năm trước có hai người đã sinh con ở đây. Một người sinh con trai, một người sinh con gái. Cả hai đều bé nhỏ, hoạt bát và có lông tóc mịn màng. Tuy là con của người nhưng lại giống y hệt như con của chuột vậy. Cho dù người nào sinh con thì đám người xung quanh cũng chẳng quan tâm gì đến. Con người khi thấy chết thì gào khóc vậy mà khi thấy đứa bé được sinh ra thì làm ra vẻ bàng quan đến độ cả một phát rắm cũng tiếc vậy.

Ngay khi vừa sinh con xong, người mẹ ấy nhìn đứa bé đầy lông tóc rồi quẳng đi ngay. Rồi người mẹ lại chui vào trong chăn và ngủ tiếp. Khoảng hai ngày sau, người mẹ quay trở lên mặt đất, để mặc lũ trẻ dưới này. Đám người nhìn đứa trẻ lông tóc rậm rạp vậy mà chẳng tỏ vẻ quan tâm chút nào.

Hai vợ chồng tôi nuôi đứa bé do loài người sinh ra. Chúng mọc móng vuốt và chỉ 3 năm sau đã trưởng thành, tốc độ trưởng thành nhanh chóng khác hẳn loài người. Khi thả chúng lên mặt đất, đứa bé trai và bé gái chạy đi đâu mất. Sau đó tôi chẳng nghe tin tức gì về chúng cả.

Khi bình minh đến, ánh nắng nhẹ xuyên vào nhà từ khe hở của trần nhà. Tôi ườn mình trên giường ngắm nhìn những tia sáng đó một lúc lâu. Vào những ngày mưa gió hay mây mù thì đợi mãi cũng chẳng thấy có tia sáng nào. Vào những dịp hiếm hoi khi tuyết rơi thì dù chưa đến bình minh mà tôi vẫn cảm thấy được thứ ánh sáng mờ nhạt.

Trong chăn thì ấm nhưng đầu mũi tôi lại lạnh cóng. Tôi muốn dậy đi tiểu mà sao mãi vẫn không nhấc mình dậy được.

Trong khi đó thì vợ tôi thức dậy đi tiêu tiểu trước cả tôi. Nàng thức giấc nhanh nhẹn lắm, vừa ư ử ca một bài ca vừa bắt tay dọn dẹp nhà cửa và châm lửa nấu nướng ngay.

Cuối cùng thì tôi cũng dậy vệ sinh xong xuôi. Trong khi tôi đi quanh xem xét những con người mà tôi đã lượm về đây vào hôm qua, hôm kia và cả trước đó nữa, thì trong lò sưởi lửa cháy hừng hực, ấm nước sôi sùng sục và khắp phòng nồng nàn mùi bánh mì nướng.

Lũ người chất đầy căn phòng bên kia. Những người chết, chúng tôi khiêng thả xuống hố, phân biệt những người muốn ở lại đây và những người muốn trở lên mặt đất, rồi sau đó chia món hầm cho mọi người.

Đám người chẳng có sức sống gì cả, khuôn mặt đơ ra như đã chết rồi. Tuy nhiên lại chưa chết. Tuy không chết nhưng cứ lặng lẽ ăn mòn mọi thứ xung quanh, ăn mòn chính bản thân mình. Trong cái hang của chúng tôi, họ không thể biến thành chuột được mà cứ mãi là con người, chờ đợi ngày trở lại mặt đất.

Có những người chết đi trước khi kịp quay trở lên mặt đất. Thế là khi ấy những người khác lại gào khóc, quằn quại thân mình. Trên những khuôn mặt như đã chết rồi ấy chợt bừng sáng lên trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.

(Từ nguyên tác Nhật ngữ)

Kawakami Hiromi (Nhật Bản)
Hoàng Long (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 622

————————–
(*) Nguyên văn là câu “Nokiba no shinobu” (軒端の忍ぶ) vốn lấy ý từ bài thơ thứ 100 trong tập “Bách nhân nhất thủ” 百人一首 của Thiên Hoàng Juntoku 順徳院 : 百敷(ももしき)や 古き軒端(のきば)の しのぶにも なほあまりある 昔なりけり.
Chúng tôi tạm dịch thơ như sau: “Bên hàng hiên cũ gió mưa qua, dương xỉ mọc đầy lá với hoa, thật nhiều như lòng ta tiếc nhớ, một thời thịnh trị đã trôi xa”. Trong bài thơ này có sự chơi chữ rất hay là từ shinobu vừa chỉ cây dương xỉ shinobugusa 忍草 vừa chỉ lòng nhớ mong shinobu 偲ぶ. Bản trong truyện là phiên bản dịch thơ thứ hai của chúng tôi (HL).

Ý Kiến bạn đọc