Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chúng ta sử dụng sai tiếng Việt như thế nào

Ngôn ngữ và chữ viết là công cụ giao tiếp. Viết và nói đúng văn phạm là điều bắt buộc. Những từ ta sử dụng đều là những quy ước xã hội. Từ ngữ do dùng lâu ngày thành quen. Tuy nhiên, nếu phân tích, có một số từ dùng sai.

- Chất lượng: “Chất” chữ Hán nghĩa là bản chất, tính chất (matter) chỉ sự tốt xấu: “lượng” nghĩa chữ Hán để chỉ số xe (nhất lượng = một cỗ xe). “Lượng còn có nghĩa là vật dùng để đong đo (measure, volume) chỉ sự nhiều ít. Như vậy, nếu muốn nói sự tốt, xấu của cái gì đó thì không thể nói “chất lượng” mà phải nói “phẩm chất” (quality) mới đúng. Ở chỗ khác ta lại nói “số lượng”, vậy chữ “lượng” ở đây đóng vai trò gì? “Lượng” bao giờ cũng là tính từ chỉ sự nhiều ít (số lượng).

- Ốc đảo: “Ốc” thuộc bộ thủy, nghĩa chữ Hán là tưới nước, mầu mỡ. “Ốc đảo” (oasis) là một khoảng nước có cây cối mọc xung quanh ở giữa sa mạc. Nó khác hẳn với hòn đảo (island), nghĩa là một khoảng đất đá nhô lên ở giữa sông, biển thế mà một tờ báo đặt đầu đề “sau cơn mưa, từ nhà 5 tầng biến thành ốc đảo”.

- Tựa đề: “Tựa” là dịch chữ “tự” của chữ Hán, nghĩa là bài viết ở trang đầu quyển sách nhằm giới thiệu về quyển sách đó. Nó không phải nhan đề (title) của quyển sách. Vậy mà ta vẫn nói: quyển sách có tựa đề là; bài thơ, bài hát có tựa đề là:…

- Khuyến mại: “Mại” nghĩa chữ Hán là bán, “Mãi” nghĩa là mua. “Khuyến mại” nghĩa là khuyến khích người bán. Điều này vô lý vì khuyến khích người bán để làm gì? Thực ra người bán cần khuyến khích người mua hàng bằng các chiêu thức như giảm giá, tặng thêm sản phẩm đối với người mua để tăng doanh số bán hàng. Điều này có nghĩa là “khuyến mãi” mới đúng (promotion).

- Cát tặc: “Cát” là tiếng Việt, “Tặc” là chữ Hán, nghĩa là giặc. “cát tặc”, từ này đúng để chỉ bọn khai thác bừa bãi cát ở lòng sông, gây nên sạt lở hai bờ sông.

Ta đã dùng từ “hải tặc” (cướp biển), “không tặc” (cướp tàu bay), “lâm tặc” (lấy gỗ, phá rừng), là những từ Hán-Việt rất đúng. Nay ta lại dùng “cát tặc” nửa Việt, nửa Hán rất ngô nghê. Xin nói thêm, cũng có những từ ghép nửa Hán, nửa Việt mà ta vẫn chấp nhận được vì nó mang cùng tính chất, cùng giá trị. Chẳng hạn: “xuất ra”, “nhập vào”, “di dời” (xuất, nhập, di là chữ Hán). Ta nên gọi “sa tặc” (“sa” chữ Hán nghĩa là cát) thay vì cát tặc.

- Hợp chúng quốc Mỹ: Từ xưa chúng ta đã nói “Hợp chủng quốc” Mỹ hay Hoa Kỳ. Gần đây xuất hiện từ “Hợp chúng quốc”. Vậy ta hãy phân tích: “chúng” nghĩa chữ Hán là đông, nhiều, thuộc bộ “hòa”. “Hợp” hay “hiệp”, nghĩa chữ Hán là gộp lại. Nước Mỹ từ khi lập quốc (4/7/1776) đến nay có rất nhiều giống người từ năm châu, bốn bể đến sinh sống. Vì thế mới gọi là “Hợp chủng quốc” Hoa Kỳ (The United States of America, Les États Unis d’Amerique).

- Dân tộc Mỹ: Như trên đã phân tích, ta không thể gọi “dân tộc” Mỹ. Bởi vì dân tộc là một tập đoàn người cùng cư trú trên một khu vực địa lý, có cùng nguồn gốc lịch sử, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ… Cho nên ta không thể gọi dân tộc (folk) Mỹ, mà phải gọi người Mỹ hoặc nhân dân Mỹ (American people).

- Cái đài: Đó là cách gọi của người miền Bắc về một dụng cụ để nghe đài phát thanh. Người Trung Quốc gọi là “thu âm cơ” (máy thu thanh). Tiếng Anh, Pháp gọi là radio. Ta nên gọi theo hai cách trên. Cũng như vậy, người miền Bắc trước đây gọi ti vi là cái vô tuyến, màn vô tuyến, rồi gọi tắt là cái màn. Bây giờ mới gọi đúng là ti vi là do viết tắt 2 chữ T.V (television) để chỉ máy thu hình.

- Trình độ văn hóa: “Văn hóa” là những giá trị tinh thần mà con người tạo ra trong lịch sử nhân loại. Hiểu theo nghĩa đó thì không thể gọi một người có bằng tiến sĩ là có trình độ văn hóa (cultural) cao, mà phải gọi là học vấn (education) cao.

- Tuổi tin: “Tin” là phép đếm trong tiếng Anh, chỉ đứa trẻ ở độ tuổi từ 13 đến 19 (thirteen – nineteen). Xin tham khảo thêm tiếng Pháp, từ “nourrisson” để chỉ trẻ em từ trên 1 tháng tuổi đến dưới 2 tuổi. Từ “enfance” để chỉ trẻ em từ 2 tuổi đến dưới 15 tuổi. Cho nên có tiệm bán đồ chơi trẻ em dưới 13 tuổi mà gọi là đồ chơi tuổi tin là sai.

- Tiên hay Tiền: Ta hãy xét hai câu đầu bài thơ “Đăng U Châu đài ca” của nhà thơ đời Đường, Trần Tử Ngang (661 – 702): “Tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả” (trước không thấy người xưa, sau không thấy người nối tiếp); và câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” (trước tiên phải học lễ, tức học làm người rồi sau mới học “văn”, tức học kiến thức). Ta thấy như sau: “Tiên” nghĩa là đằng trước, phía trước về mặt không gian, đông, tây, nam, bắc; “Tiền” là trước về mặt thời gian, năm tháng, quá khứ, hiện tại, tương lai.

- Chúa ba ngôi: Có một vị giáo sư, tiến sĩ giảng nghĩa Chúa ba ngôi là các ngôi quá khứ, hiện tại và tương lai. Xin thưa ngay, vị này giải thích hoàn toàn sai. Theo Kinh thánh thì Chúa ba ngôi là Đức chúa cha, Đức chúa con (tức Jesus Christ) và Đức chúa thánh thần. Ba ngôi này tuy ba nhưng là một, tuy một nhưng là ba, không ngôi nào cao hơn ngôi nào. Đó là quan niệm của người theo đạo Thiên chúa.

- Chung cư: Có người nói “chung cư” là cái nhà cuối cùng vì người này viện dẫn “chung”, nghĩa chữ Hán là cuối cùng. Nhưng ví thử, tôi mua căn nhà chung cư ở một thời gian, tôi bán đi mua chỗ khác thì sao? Tôi có thể thay đổi nhiều lần như vậy trong cuộc đời. Vậy chung cư không phải căn nhà cuối cùng mà nguyên thủy tên gọi của nó là “chúng cư” (“chúng” nghĩa chữ Hán là đông, nhiều) tức là ngôi nhà nhiều tầng, chia nhiều phòng, mỗi phòng cư trú một gia đình. Về sau người ta đọc chệch thành chung cư (Appartement – tiếng Pháp, Apartment – tiếng Anh).

(Xem tiếp kỳ sau)

Hoàng Chí Quang
(Huyện Lục Ngạn, Bắc Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 456

Ý Kiến bạn đọc