Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Chung quanh việc đánh giá lại Phan Thanh Giản

Lts: Gần Đây, Nhiều Người Trong Giới Sử Học, Và Không Chỉ Trong Giới Sử Học, Đề Xuất Việc Đánh Giá Lại Phan Thanh Giản. Phan Thanh Giản Thì Vẫn Thế, Vẫn Còn Đó Nguyên Vẹn Những Sự Kiện Đời Ông, Quanh Ông; Nhưng Cái Nhìn Nhiều Người Về Ông Đã Khác. Lòng Người Thay Đổi Chứ Không Phải Nhu Cầu Về Sử Học Thay Đổi.

Nhiều Bạn Đọc Gửi Thư Đến Chúng Tôi, Thắc Mắc Có, Tán Dương Có, Và Đề Nghị Chúng Tôi Có Ý Kiến. Để Góp Một Tiếng Nói Vào Việc Chung, Và Để Mở Đầu, Chúng Tôi Đăng Lại Bài Của Viện Sĩ Trần Huy Liệu, Nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc Lâm Thời, Nguyên Viện Trưởng Viện Sử Học Trên Tạp Chí Nghiên Cứu Sử Học Cách Đây Gần Nửa Thế Kỷ. Đổi Mới Bao Giờ Cũng Rất Cần, Nhưng “Đổi Mới” Trong Nhìn Nhận Nhân Vật Này Thế Nào Để Vừa Công Bằng Lịch Sử, Vừa Khoan Dung, Nhân Ái, Thấu Tình Đạt Lý?

Tôi không muốn nhắc lại những tài liệu mà các bạn đã dẫn ra và những ý kiến mà các bạn đã phát biểu, mà qua cuộc thảo luận, tôi muốn đề ra một vài nét lớn trong những điểm nhận định chung.

Điều thứ nhất mà chúng tôi nhận thấy là: Trong khi bình luận một nhân vật lịch sử nào, chúng ta phải đặt người ấy vào hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Chúng ta không đòi hỏi những người sống xa thời đại chúng ta, không cùng một giai cấp với chúng ta, cũng phải có một lập trường tư tưởng như chúng ta. Nhưng để đánh giá họ, chúng ta chỉ cần xem tư tưởng và hành động của họ có phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân đương thời không? Có theo chiều hướng tiến lên của thời đại không? Đối với Phan Thanh Giản hồi ấy, chúng ta không đòi Phan phải thoát ly ý thức hệ của giai cấp phong kiến. Nhưng trong khi những nhân sĩ yêu nước trong giai cấp phong kiến và đông đảo nhân dân kiên quyết đánh Tây để giữ lấy nước, thà chết không làm nô lệ thì Phan trước sau vẫn theo chiều hướng đầu hàng, từ ký nhượng 3 tỉnh miền Đông đến ký nhượng 3 tỉnh miền Tây. Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân. Tuy vậy, trong số các bạn tham gia thảo luận, vẫn còn có bạn không phủ nhận tội lỗi của Phan, nhưng vẫn muốn “giảm nhẹ tội cho Phan một bậc” (Danh từ của pháp luật là giảm đẳng). Trước tòa án lịch sử, vị “trạng sư bất đắc dĩ” ấy viện cớ rằng: chủ trương đầu hàng không phải riêng gì họ Phan, mà là cả giai cấp phong kiến nói chung, mà người đứng đầu là vua Tự Đức, cũng như Nam kỳ và toàn bộ đất nước bị mất vào tay giặc Pháp còn vì nhiều duyên cớ khác, đâu phải chỉ vì mấy chữ ký của Phan Thanh Giản. Vậy chúng ta có muốn kết án thì phải kết án giai cấp phong kiến mà thủ phạm phải là Tự Đức, còn Phan Thanh Giản chỉ là tòng phạm thôi.

Lời bào chữa của vị “trạng sư” kể trên có lý không, có đứng vững được không? Chúng ta không phủ nhận giai cấp phong kiến nhà Nguyễn hồi ấy đã hết sứ mạng lịch sử và đường đi theo chiều hướng thỏa hiệp và đầu hàng. Nhưng một sự thực mà chúng ta không được phép chối cãi là: trên bước đường phân hóa, chính trong giai cấp phong kiến lúc ấy cũng còn có phái chủ chiến và phái chủ hòa (nghĩa là phái đầu hàng). Chưa nói đến sự cố lúc ấy: giặc Pháp mới để chân đến Nam kỳ, các tầng lớp nhân dân đương hăng hái đánh giặc cứu nước, mà ngay chính Tự Đức, một tên vua phải đứng “trước vành móng ngựa” về tội làm mất nước ta, cũng từ chỗ lưng chừng đến chỗ đầu hàng, chớ chưa phải đã cam tâm dâng nước cho giặc từ đầu. Nếu ngày nay, trước từng sự kiện lịch sử phải tìm ra trách nhiệm, cái gì cũng đổ chung cho giai cấp phong kiến theo lối “hầm bà là” cả, vậy thì làm thế nào để phân biệt những người yêu Tổ quốc, theo chính nghĩa, giết giặc cứu nước với những kẻ hàng giặc dâng nước cho giặc? Làm thế nào có thể phân biệt những người giữ thành chết theo thành như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Thúc Nhận… với những người dâng thành hiến đất cho giặc theo kiểu Phan Thanh Giản? Không. Chưa nói đến bản án lịch sử muôn đời, dư luận nhân dân đương thời biểu hiện trong 8 chữ đề cờ của dân quân Tân An Gò Công mà thủ lĩnh là Trương Định cũng đã rõ ràng lắm. Nó kết án giai cấp phong kiến mà triều đình Huế là đại diện đã “bỏ dân” và kẻ trực tiếp phụ trách là Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp đã ký nhượng đất nước cho giặc. Dư luận nhân dân rất sáng suốt cũng như bản án rất công minh. Nếu vị “trạng sư” nào còn muốn bào chữa cho một bị cáo đã bị bắt quả tang từ non 100 năm trước thì chỉ là tốn công vô ích!

Nói cùng mà nghe, ngay đến Tự Đức, một người đứng đầu trong hàng ghế bị cáo, đã có lúc trước những yêu sách của địch đã phải than: “Theo họ thì có nước như không, đã chịu nhục mà đời đời bị vạ…” và khi nghe tin Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp ký nhượng 3 tỉnh miền Đông đã phải nói: “Hai tên kia không những là tội nhân của bản triều, mà còn là tội nhân của thiên cổ”… Thì ra, trên bước đường đầu hàng của giai cấp phong kiến nói chung, Phan Thanh Giản còn bước mau, bước trước hơn Tự Đức và trước dư luận phẫn khích của nhân dân. Tự Đức cũng không dám thốt ra những câu nói ngược lại ý chí của họ. Như vậy, trong giai đoạn đau thương của Tổ quốc, kẻ làm mất nước ta là bọn phong kiến đầu hàng mà đứng đầu là Tự Đức. Nhưng trước từng sự kiện lịch sử, mỗi người lại có trách nhiệm riêng tùy theo cương vị của mình. Vị trạng sư nào ngụy biện đến đâu cũng không thể lập luận hồ đồ, đem giai cấp phong kiến và Tự Đức làm cái “bung xung” để che giấu tội lỗi của Phan Thanh Giản đã dâng toàn bộ lục tỉnh Nam kỳ cho giặc được!

Điều thứ hai mà chúng tôi nhận thấy là: trong khi qui định trách nhiệm của Phan Thanh Giản trước lịch sử, chúng ta đã phân tích rõ ràng với những án từ phân minh. Tuy vậy, còn có người viện những đức tính liêm khiết của Phan ra để mong được “chiếu cố” và “thông cảm”. Cũng có người còn cho Phan là một nhà ái quốc và thức thời, chỉ vì thương dân, muốn tránh nạn binh đao nên đã chủ trương hòa hiếu với giặc. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại điều kiện chủ quan và khách quan bấy giờ để chứng minh rằng: Nếu vua tôi nhà Nguyễn biết dựa vào nhân dân để kiên quyết kháng chiến thì nước ta hồi ấy sẽ không bị mất; tôi chỉ nhấn mạnh vào cái quan niệm về đạo đức tư cách của con người thế nào cho đúng. Những người có lòng chiếu cố đến Phan Thanh Giản chỉ mới nhìn vào tư đức của ông mà không nhìn vào công đức của ông. Ở vào thời thế nước ta hồi ấy, mỗi người công dân còn có cái đạo đức nào cao hơn là yêu nước thù giặc, hy sinh quên mình, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trái lại, còn cái gì xấu hơn là theo giặc, chống lại cách mạng, phản lại quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Đối với Phan Thanh Giản, công đức như thế là đã bại hoại rồi; mà công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể? Trong số các bạn tham gia thảo luận, có bạn còn viện những chứng cớ tỏ ra rằng ngay cả đến tư đức của ông cũng không có gì đảm bảo. Nói thế thôi. Điều này không quan trọng lắm. Chúng ta đánh giá con người của Phan không phải nhìn vào những đức tính thông thường, mà chính là nhìn vào tiêu chuẩn đối với dân, với nước của Phan.

Ở đây còn một điểm phải trang trải nữa là Phan có yêu nước không? Những người thương Phan còn muốn cố cắt nghĩa rằng: Phan chủ trương sai lầm nhưng không phải không có lòng yêu nước. Thực ra, yêu nước không phải là một danh từ trừu tượng, mà phải biểu hiện một cách cụ thể. Trong lúc quân giặc bắt đầu giày xéo lên Tổ quốc, bao nhiêu văn thân nghĩa sĩ, hào lý cùng các tầng lớp nhân dân đều lao mình vào cuộc giết giặc cứu nước, bài phú “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh” vang lên, vậy mà riêng Phan Thanh Giản 3 lần dụ Trương Định bãi binh, 4 lần làm môi giới cho Pháp, đưa thư của giặc cho Trương và khuyên nhân dân không nên “bội nghịch” với giặc, vậy chúng ta có thể tặng hai chữ yêu nước cho Phan cả về mặt khách quan lẫn chủ quan được không? Phạm vi “yêu nước” cũng rất rộng, nhưng danh từ ái quốc không thể chứa một nội dung phản quốc. Một người đã có “thành tích” như Phan, dù ai muốn nhìn theo cách nào chăng nữa, cũng không thể lạm dụng hai chữ ái quốc để gắn vào một cách dễ dàng, vì như thế chẳng những hồ đồ trong việc nhận thức Phan mà còn là nhòa nhoẹt cả ý nghĩa yêu nước nữa.

Điều thứ ba mà tôi muốn nhấn mạnh vào là cái chết của Phan. Thật ra, với những hành động kể trên, nếu Phan không kết thúc bằng một cái chết khá “đặc biệt” thì có lẽ dư luận đối với Phan cũng không có gì phức tạp lắm vì hành động của Phan đủ để nói lên Phan là người thế nào rồi. Theo tôi, chủ trương của Phan đã dẫn Phan đến chỗ bế tắc mà chỉ có thể kết cục bằng một cái chết. Nói một cách khác, cái chết của Phan là tất nhiên, là rất biện chứng trong chỗ bế tắc của Phan. Tuy vậy, có người vẫn ca tụng Phan là không tham sống sợ chết. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại những cái “ngoắt ngoéo” trong giờ phút cuối cùng của Phan mà nhiều bạn đã vạch ra để chứng tỏ là Phan không phải không tham sống sợ chết. Tôi chỉ đặt câu hỏi là: Có những trang hào kiệt không tham sống sợ chết để làm nên một việc gì tốt đẹp thì cái không tham sống sợ chết ấy mới có ý nghĩa; còn Phan Thanh Giản nếu quả có không tham sống sợ chết chăng nữa thì để làm nên cái gì? Nói rằng Phan chết để giữ trọn tiết nghĩa chăng? Thì, cái sống của Phan đối với dân, với nước đã mất hết tiết nghĩa rồi, còn nói gì cái chết. Nói rằng Phan chết để giữ trọn đạo lành (tử thủ thiện đạo) hay làm nên điều nhân (sát thân thành nhân) theo câu châm ngôn của Nho giáo mà Phan là một tín đồ chăng? Thực ra, cái chết của Phan khác với cái hy sinh của các bậc nghĩa liệt khác, không phải để giữ “đạo lành” cho đến chết, cũng chẳng phải liều chết để làm nên một điều “nhân” vì cái gọi là “đạo lành”, là điều “nhân” lúc đó là giết giặc cứu nước, là theo nguyện vọng của nhân dân, trái lại là đạo dữ, là bất nhân, là phản bội. Thôi chúng ta hãy làm một việc ngay thẳng là trả cái chết của Phan Thanh Giản lại cho Phan Thanh Giản, cái chết do chính “tác giả” tạo ra, qua một quá trình dài lâu dẫn đến chỗ không lối thoát. Dầu sao, cái chết của Phan cũng chỉ có thể chấm dứt con đường bế tắc của Phan, chớ không thể xóa được tội danh của Phan trước tòa án dư luận nhân dân và lịch sử.

Điều thứ tư mà chúng ta không thể bỏ qua được là: trong khi kết án Phan Thanh Giản, chúng ta một mặt không để Phan trốn tránh trách nhiệm do Phan trực tiếp phụ trách; một mặt khác, chúng ta cũng không quên gắn liền Phan với triều đình Huế mà Phan là đại diện, với giai cấp phong kiến mà Phan là tiêu biểu. Như mọi người đều biết, khi thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm nước ta thì cũng là lúc giai cấp thống trị tức giai cấp phong kiến nước ta đã hết nhựa sống, đương hãm vào thế bí. Do đó, trước nạn ngoại xâm, tư tưởng thỏa hiệp đầu hàng đã dần dần thấm vào tầng lớp trên của giai cấp phong kiến. Mặc dầu trong quá trình phân hóa còn có phái chủ chiến, nhưng tư tưởng đầu hàng vẫn ngày càng phát triển và trở thành tư tưởng chủ đạo của giai cấp phong kiến. Bị uy hiếp trước uy vũ của văn minh Tây phương, luận điệu cầu an của Phan Thanh Giản nhắc lại chuyện cũ như “Hán Văn Đế hòa với Hung Nô” hay “Tống Chấn Tôn hòa với Khiết Đan” đã nói lên tư tưởng của giai cấp thống trị bấy giờ một mặt thì tự kiêu, cho những nước ngoài đều là mọi rợ; trái lại, một mặt khác lại tự ti sợ địch, dọn sẵn con đường đầu hàng. Thật thế, nếu triều đình Huế kiên quyết kháng chiến, Tự Đức không có những chỉ thị “nước đôi” thì Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp sẽ không dám tùy tiện dâng đứt 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho giặc. Chẳng những thế, sau khi Phan Thanh Giản đã ký nhượng 3 tỉnh miền Đông, trước sự công phẫn của nhân dân, Tự Đức cũng đã phải kết án Phan. Lâm là “tội nhân của thiên cổ”, nhưng rồi Phan vẫn là người tín nhiệm của triều đình Huế, được triều đình giao cho trọng trách, để rồi một lần nữa, dâng nốt 3 tỉnh miền Tây cho giặc. Như thế, Phan Thanh Giản phải chịu trách nhiệm trực tiếp những việc mà ông đã làm, nhưng cũng quán triệt tinh thần và đường lối đầu hàng của triều đình Huế mà ông là đại diện. Ấy là chưa kể sau khi 6 tỉnh Nam kỳ đã mất và Phan Thanh Giản đã chết, triều đình Huế vẫn đi theo chiều hướng đầu hàng cho đến khi nước ta bị mất hoàn toàn về tay giặc Pháp. Như vậy, kết tội Phan Thanh Giản phải gắn liền Phan với triều đình Huế và bản án Phan Thanh Giản là nằm trong hồ sơ bản án hàng giặc bán nước của triều Nguyễn.

Xung quanh Phan Thanh Giản còn “viền” nhiều sự việc khác của giai đoạn lịch sử chồng chất những sự biến phức tạp. Nếu chúng ta không nhằm vào khâu chính của sự vật, không dùng phương pháp khoa học để phân tích đặng nhận rõ người và việc thì không thể giải quyết được vấn đề.

8/1963

Giáo sư – Viện sĩ Trần Huy Liệu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 463

Ý Kiến bạn đọc