Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Chữ vuông và tư duy thị giác

Có mấy câu nói về tâm sự của một chị nông dân hát lên khi đi cấy:

Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa trông gió
trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng!

Tưởng cũng chỉ là câu hát nghêu ngao giãi bày tâm sự thông thường vậy thôi. Nhưng vào tay một nhà vừa uyên vừa bác như ông Phan Quí Bích thì lại là một minh chứng cho một nhận định mang tầm triết luận. Vốn là người say mê nhìn ngắm thứ chữ vuông của người Hán để phát hiện ra nhiều thứ kỳ lạ về thứ chữ gọi là “biểu hiệu”, ông nâng tầm lên một thứ tư duy thị giác của tổ tiên ta (người Việt!) khi “sáng tạo” (!) và sử dụng thứ chữ vuông đó và thứ chữ nôm (đứa em còi cọc của nó). Cùng với có đến cả mấy vạn chữ tung ra trên đủ loại báo chí để cấp tập đưa ra những kết quả nghiên cứu hoành tráng của mình trong chừng mấy tháng cuối năm 2005, là đoạn phân tích bình chú về đoạn ca dao trên. Đại ý là thế này:

Mấy câu này cho thấy trong thế giới Hán hóa của chúng ta, cái tư duy thị giác rất quan trọng. Người ta hoàn toàn có thể tiếp cận chân lý không cần đến lời nói. Người ta chỉ cần “trông tất cả mà hiểu được sự đời, mà yên tấm lòng”. “Trời có nói gì đâu” – đó là lời Khổng Tử. Cái nghĩa rằng Trời không dùng công cụ ngôn ngữ giao tiếp của người. Nhưng nhìn vào những vết chân chim, những vết nứt trên lưng con rùa thì Thương Hiệt đã tạo ra chữ. Cho nên… cô gái này mới “trông” nhiều thứ như thế.

Thật ra ông Phan không hiểu đầy đủ các nghĩa của chữ “trông”. Với tất cả các chữ trông ở câu hát, đâu chỉ là một thứ trông – thị giác, bằng mắt. Nếu có dùng mắt mà “trông” thì cũng chỉ có thể “trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông gió” thôi. Đến “trông ngày, trông đêm” thì đã không thể “trông” bằng mắt nữa rồi! “Trông cho chân cứng đá mềm” thì càng không thể trông bằng mắt được. Nên nghĩ đến cái nghĩa thứ tư ở Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ. Đó là cái nghĩa ”hướng đến với lòng hi vọng, mong đợi” nằm trong các từ ghép trông chờ, trông đợi, trông mong khác với từ trông trong các từ ghép trông chừng, trông coi, trông nom… (*)

Lại phải nói đến cái ý mà ông Phan nói đến hai thứ tư duy của người Việt khi chuyển từ hệ chữ vuông sang hệ chữ Quốc ngữ. Ông khẳng định là khi dùng chữ vuông thì người ta nghĩ bằng hình chữ, khi dùng chữ Quốc ngữ ghi âm người ta nghĩ bằng lời nói âm thanh… Đó là điều phát hiện ông rất tự hào và triển khai sang cả lĩnh vực nghiên cứu văn học! Rất tiếc nó không đem lại vinh dự gì cho ông vì ai cũng thấy thực tế không phải vậy! Cái dẫn chứng về câu thơ đùa bạn của Hồ Xuân Hương “Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc” không chứng minh thi sĩ họ Hồ “nghĩ” bằng chữ Hán! Càng không phải từ chữ ấy người ta đã triết luận rằng “chồng” (chữ “phu”) là do Trời (chữ “thiên”) đem lại! Bà Hồ Xuân Hương chỉ “nhìn” vào chữ “phu” để đùa thôi. Cũng như sau này cụ Bùi Bằng Đoàn căn cứ vào việc đánh vần chữ Quốc ngữ để đùa một ông lính tập đọc chữ Quốc ngữ còn phải đánh vần bằng một câu đôi chữ Hán “xịn”:

Tiếp tiệp, hoan hoàn,
tê ư tư sắc tứ
Binh bình thoái thoại,
hát ô hô huyền hồ

Có nghĩa là: Nhận tin thắng trận, vui vẻ trở về, đứng đấy mà nghĩ đến ơn vua

Việc binh được yên, lui về kể chuyện, kêu lên hai tiếng ô hô và treo cây cung.

Tất nhiên chuyện này cũng hơi cũ. Nhưng thiết nghĩ cũng nên nhắc lại để… rút kinh nghiệm.

Lê Dâ

—————————-
(*) Giá mà đọc được văn bản Hán Nôm câu ca dao này do một vị túc nho ghi lại chắc sẽ biết các cụ ghi chữ Trông bằng cái chữ nho nôm nào? Các chữ nho nôm đều dùng Long chỉ âm, còn để chỉ ý có chữ Mục (nghĩa nhìn) có chữ Vọng (nghĩa trông mong). Nhưng điều đó chưa chắc thuyết phục được nhà nghiên cứu khi ông quan niệm Chữ ra đời không phải là để ghi lời nói mà để cúng ông bà, để bói toán!

Ý Kiến bạn đọc