Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chủ tịch Hồ Chí Minh với một trí thức

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại Từ Liêm, Hà Nội và mất ngày 13-6-1997. Năm 1932, ông nổi tiếng cả ở Việt Nam và Pháp vì bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ Luật học về đề tài “Cá nhân trong xã hội cổ nước Nam, tổng luận về Luật nhà Lê” khi ông mới 23 tuổi. Và chỉ 2 tháng sau, ông bảo vệ thành công tiếp luận án Tiến sĩ thứ hai về Văn chương với đề tài “Luận về giá trị trình diễn và kịch bản của Alfred Musset”.

Cho đến nay, ngay tại nước Pháp chưa xuất hiện lần thứ hai một thanh niên 23 tuổi hoàn thành hai luận án Tiến sĩ trong cùng một năm. Năm 1946, ông được tham dự cuộc Hội nghị Đà Lạt đấu tranh bảo vệ chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam trước mưu đồ trở lại xâm lăng nước ta của thực dân Pháp.

Mùa xuân 1952, ông dự Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua tại Việt Bắc. Ông Tường đã được Hồ Chủ tịch lắng nghe ý kiến và ông có nhận xét về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta.

Xin trích bài viết của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường tự kể về cuộc trao đổi đó.

Luat-su-Nguyen-Manh-Tuong
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường

“Hồ Chủ tịch hỏi tôi, Đại hội đã gây cho tôi cảm tưởng gì? Tôi trả lời Người:

“Thưa Chủ tịch, một cảm tưởng mà tôi buộc phải coi là cực kỳ đặc biệt. Làm sao tôi có thể tưởng tượng cây Người có thể sản sinh ra những bông hoa tuyệt mỹ như vậy, làm sao con người bằng xương bằng thịt có thể đạt tới đỉnh cao như vậy của chủ nghĩa anh hùng và lòng cao thượng? Và khi trong mạch máu của họ chảy cùng một dòng máu đang chảy trong mạch máu của tôi, làm sao tôi có thể cưỡng lại niềm tự hào và niềm tự kiêu dồn dập trào tới tràn ngập lòng tôi, làm tôi ngạt thở, hòa loãng tâm hồn tôi trong một cơn say mà tôi chưa hề biết tới như vậy. Trước kia tôi tưởng thời oanh liệt đã qua rồi, cho rằng Việt Nam bị nô dịch đã hơn một thế kỷ, chờ đợi mãi mà cũng chẳng có kết quả gì, việc tái sinh những anh hùng huyền thoại thời xưa sẽ chiến đấu mang lại tự do và độc lập cho đất nước.

Thế mà, những anh hùng đó đã đến: Tôi trông thấy họ xung quanh tôi, tôi chú ý nghe chiến công của họ với bao niềm vui và cảm phục. Nếu trước kia, trước khi rời đi chiến đấu, tôi đã hiến tất cả tài sản cho nhân dân, tôi mang theo trong lòng một sự thỏa mãn đã hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng với Tổ quốc, nhưng tôi không hề thấy lóe ra trong tôi một chút hy vọng nào là sẽ chiến thắng trở về từ một cuộc chiến tranh mà tôi cho rằng sẽ thua ngay từ đầu. Bây giờ, trái lại, những nam nữ anh hùng mà tôi nuốt từng lời nói đã nhóm lên trong tôi ngọn lửa của niềm tin và chiến thắng trong tương lai”.

Hồ Chủ tịch nghe tôi nói, con mắt mơ màng phóng ra đằng xa, rồi Người nhìn thẳng vào tôi với khóe nhìn lóng lánh niềm vui, và tay vuốt bộ râu cằm, Người hỏi tôi một câu:

“Con đường mà chú đã trải qua để đi đến kết luận như hiện nay quả là khó khăn và tôi ca ngợi sự thành thật của chú. Con đường đi tới một chân lý càng khó thì khi đi tới chân lý đó, người ta càng tin tưởng. Đối với những anh hùng mà chú ngưỡng mộ, và là người đã thổi vào tâm trí chú niềm tin vào chiến thắng cuối cùng, chú có thấy gì đặc biệt ở họ?”.

- Thưa Chủ tịch, đó là nguồn gốc nông dân của họ. Từ trước cho tới cuộc kháng chiến này, tôi đã sống chốn thị thành, giờ tôi thấy xấu hổ và thừa nhận rằng tôi chẳng biết tí gì về nông thôn và về người nông dân. Chút hiểu biết gì về nông thôn và nông dân tôi đã thu nhận được chỉ là sách vở và méo mó. Chính ở chiến khu, hành nghề luật sư và đi khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung, tôi đã được sống trong môi trường nông thôn, được tiếp xúc với người nông dân và được hiểu biết họ, bù đắp lại những chỗ hổng, sửa chữa những sai lầm và thành kiến của tôi, đưa lại cho bản thân tôi một hình ảnh trực diện, đầy đủ và đúng đắn về dân tộc mà tôi tự hào là thành viên dân tộc đó. Mới gần đây thôi, hình ảnh nhân dân mà các tình huống trong cuộc sống đặt ra trước mắt tôi đã bị cắt xén, gây tổn thương, què quặt, tầm nhìn của giai cấp tiểu tư sản hạn chế con mắt tôi, che mắt tôi không thấy rõ sức mạnh vô biên của quần chúng nông dân. Bây giờ cái nhìn của tôi về Tổ quốc mình và những người con của Tổ quốc đó, đã được hoàn toàn thiết lập lại trong thực tế đầy đủ của nó. Một sự cân đối đã được hình thành trong tâm trí tôi và đem lại cho tôi những thú vị mới, chưa hề biết tới và vô giá.

Nhưng thưa Chủ tịch, tôi phải thú nhận rằng những người nông dân này mà tôi quý mến đức độ và bỏ qua những thiếu sót, tôi không thể tưởng tượng sao họ có thể nâng cao khả năng đến mức thực hiện được những chiến công như chúng ta đã biết. Vậy mà những hiện tượng phi thường đó đã diễn ra và tôi hoàn toàn ngạc nhiên. Tôi xin gửi đến Chủ tịch và Đảng của Người lòng tôn kính đã có khả năng nhóm lên ngọn lửa yêu nước của nông dân mà cả nước đang chờ mong những kết quả kỳ diệu”.

- Tôi sung sướng được nghe ý kiến của chú. Bây giờ, theo chú ta nên hướng chính sách của ta như thế nào?

- Đó là một vấn đề cực kỳ tế nhị, tôi sẽ chỉ dám đề cập đến vấn đề đó, nếu được Chủ tịch cho hoàn toàn tự do tư tưởng. Về nội dung, tôi có nhiều ý kiến theo hướng của Chủ tịch, nhưng có những điểm quan trọng tôi cầu mong Người có những suy nghĩ mới.

Chúng ta cùng một điểm xuất phát: quần chúng lao động bao gồm nông dân, công nhân, trí thức, cấu thành hầu hết dân số nước ta. Tất cả mọi chính sách không tính đến sự thật quá rõ ràng đó, chắc chắn sẽ thất bại ngay từ đầu. Lợi ích của nhân dân lao động phải là mối quan tâm thường xuyên của chúng ta. Mà họ không đòi hỏi cái không hề có, họ chỉ mong muốn được thỏa mãn ở mức tối thiểu những nhu cầu của một con người văn minh, nhu cầu về cơ thể, về trái tim, về khối óc, và tất nhiên nhờ lao động chân tay hay trí óc của họ. Họ chỉ chờ đợi ở công quyền được phép sống một cuộc sống của con người.

Việc làm để họ có phương tiện sống một cuộc sống của con người, phải được đề cập tới trên hai phương diện. Việc làm đó phải làm tự do, không cưỡng bức, chỉ có việc làm tự do mới đem lại hiệu quả cho người lao động và cho xã hội. Ngoài ra, người lao động không phải để chơi, mà phải có lợi. Lợi đó là phải được hưởng thụ thành quả lao động của mình. Trước mắt là để chi tiêu về ăn uống, may mặc, nhà ở, học hành, văn hóa. Về tương lai là để đề phòng mọi rủi ro trong cuộc sống mà đáng lo ngại là thất nghiệp, bệnh tật và tuổi già. Nhưng cũng để đảm bảo cho con cháu, trong chừng mực có thể, những điều kiện thuận lợi để có khởi đầu tốt đẹp bước vào đời. Tiền tiết kiệm dành ra được từ lao động không những kích thích sự hoạt động cần cù của con người, mà còn dạy cho người ta ý thức dự phòng, tôn trọng tiền bạc kiếm ra một cách lương thiện, và tốt nhất là tăng cường và phát triển sự đoàn kết gia đình, tình yêu sáng suốt của bố mẹ với con cái.

Quyền tự do lao động, quyền sở hữu cá nhân về tài sản do lao động kiếm ra một cách hợp pháp, đó là hai nguyên tắc người lao động rất quan tâm.

Trong lĩnh vực công cộng, cơ chế Nhà nước phải tôn trọng những nguyên tắc khác để đảm bảo việc thực thi tốt chức năng của Nhà nước. Nguyên tắc thứ nhất là tôn trọng luật pháp. Một sự lẫn lộn tai hại đang diễn ra giữa quyền lực và quyền. Tất cả các cơ quan từ cấp phường xã đến cấp trung ương đều tưởng mình có quyền làm tất cả, nhất là xâm phạm quyền tự do của công dân, và có quyền sử dụng những khoản tiền khổng lồ của công quỹ. Tôi không nói những vi phạm luật pháp khác mà tính chất vi phạm rất rõ nét, ở đó những sự phản kháng là vô tội không được chú ý nghe như trong các trường hợp ranh giới giữa quyền lực và quyền không rõ ràng. Vì vậy, nguyên tắc chung cần phải công bố là tất cả mọi người, kể cả những người có một chút quyền lực, đều phải tuân theo pháp luật, đó là ý nguyện của nhân dân và là công cụ giữ gìn trật tự công cộng.

Nguyên tắc đó bao giờ cũng kèm theo hậu quả tất yếu của nó là: Tất cả mọi vi phạm pháp luật phải dẫn tới trách nhiệm không chỉ chính trị (khai trừ Đảng), hành chính (cách chức, hạ chức, cho nghỉ việc), mà còn cả hình sự (tịch thu, phạt tiền, án tù). Phải quyết định trách nhiệm bao giờ cũng là cá nhân, vì trách nhiệm tập thể là vô nghĩa. Mọi quyết định đều mang một chữ ký, người ký tên chính là người phải đưa ra xét xử.

Thưa Chủ tịch, tôi xin lỗi đã lạm dụng sự kiên nhẫn của Người. Nhưng tôi đã được Chủ tịch cho phép. Vì tôi thiết nghĩ sẽ không còn bao giờ tôi có dịp nói chuyện với Chủ tịch về những vấn đề mà tôi cũng như Chủ tịch đều quan tâm vì nó liên quan đến hạnh phúc và số phận tương lai của nhân dân và vì thời gian nói chuyện với Chủ tịch không bị hạn chế, tôi tranh thủ có được vinh dự này để trình bày với Người một số ý kiến xuất phát từ đầu óc một người trí thức yêu nước và chăm chú theo dõi quá trình những biến đổi đang diễn ra trong đất nước ta. Như Chủ tịch đã nhận thấy những suy nghĩ của tôi không phải bắt nguồn từ một học thuyết có giá trị và nổi tiếng như thế nào. Tôi không bị giam mình trong một đảng phái chính trị nào, không bị gò bó trong một giáo lý cứng nhắc nào, tôi có thể giữ được độc lập suy nghĩ của mình và để tâm nghiên cứu tình hình hiện nay, để rút ra những chỗ không hay cần kịp thời sửa chữa trước khi nó có thể gây ra tác hại xấu và dẫn đến hành động phá hoại. Với tất cả tấm lòng chân thành và thiện ý, tôi đã đề nghị một số biện pháp điều trị về chính trị và xã hội. Những biện pháp đó không mang dấu ấn lý thuyết chính thống hiện nay và có thể làm cho không ít những người đang nắm quyền lực bị sốc và bực dọc. Mặc kệ, thưa Chủ tịch, dù là phượng hoàng bay lượn trên trời cao, hay con giun bò trên mặt đất, tất cả đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước lịch sử”.

Tôi quan sát Chủ tịch trong khi Người ngồi sâu trong chiếc ghế bành bằng mây, thỉnh thoảng hít một hơi thuốc lá, nghe tôi nói với một sự chú ý làm tôi cảm động. Con mắt Người mơ màng, tưởng như bay bổng xa nơi trần thế. Điếu thuốc lá tàn, Người tựa tay lên thành ghế bành, một tay vuốt ve chùm râu nhỏ. Suốt buổi thuyết trình của tôi, Người không tỏ một sự phản ứng nào, hoặc tán thành, hoặc không tán thành. Có lẽ Người muốn cân nhắc sự suy xét của Người, chọn lọc cái hay và cái dở, giữ một thái độ trung lập và khách quan, một thái độ cẩn thận và kín đáo, để phân tích tốt hơn nội dung những lời tôi nói, để thấu hiểu ý nghĩa đã diễn tả rõ ràng, và cả những ẩn ý trong từng câu, từng chữ – Trước mặt tôi là một nhân vật quan trọng hiểu rõ giá trị một cử chỉ, một ý định, và trên cương vị một lãnh tụ, chịu trách nhiệm về số phận của cả một dân tộc, mà vì vậy không tự cho phép mình, qua một giọng nói nào, một nét mặt nào, một động thái nào của con mắt hoặc bàn tay, biểu thị một dấu hiệu vội vã, nhẹ dạ, tự phát, thiếu suy nghĩ, không tự kiềm chế được và bật ra từ bề sâu tình cảm. Nhân vật đó giữ được tự chủ một cách tuyệt vời và có một bản lĩnh hoàn hảo” (*).

Lời bình:

- Không chỉ đối với ông Nguyễn Mạnh Tường mà với nhiều trí thức khác, Bác Hồ tiếp xúc, luôn lắng nghe ý kiến của họ một cách trân trọng. Chính cách cư xử của Bác đã thuyết phục rất nhiều trí thức theo Người, chấp nhận hy sinh, gian khổ trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ kéo dài 20 năm mới giành thắng lợi hoàn toàn.

- Với ông Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức không đảng phái đi kháng chiến từ năm 1945, ông nhiệt tình phục vụ cách mạng cho tới ngày giành nửa nước trở về Thủ đô. Do có những bài viết trong tạp chí Nhân văn Giai phẩm, phát biểu tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội vào ngày 30/10/1956. Sau bài phát biểu ấy ông phải ngừng ngay mọi hoạt động chuyên môn. Tháng 7/1958 thì bị cắt chức Giáo sư Đại học và chuyển về Bộ Giáo dục. Tháng 12/1970 thì chính thức nghỉ hưu. Ông Nguyễn Mạnh Tường phải chịu đựng khó khăn sau khi nghỉ hưu từ năm 1970 đến 1990. Thời gian này ông đã viết 4 quyển sách về nền văn minh nhân loại trải dài đến thời hiện đại mà Việt Nam mới chỉ có thể được tiếp xúc với các hậu duệ của nó là chủ nghĩa thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, đến đầu thế kỷ XX thì các trí thức Nho học ở ta mới biết đến, để có được phương sách và phương tiện cứu nước.

Một lần ông nói: phát biểu về vấn đề dân chủ của ông đúng, nhưng không đúng lúc. Chính thấy điều này nên ông không bất mãn như những người khác.

- Mỗi con người kể cả trí thức ai cũng có điểm yếu, hạn chế do chưa có điều kiện nhận thức toàn diện, nhất là vấn đề chính trị, giai cấp. Chỉ những người được rèn luyện trong đấu tranh Cách mạng, được tổ chức Đảng, tập thể giáo dục, rèn giũa thì mới có được quan điểm sâu sắc về chính trị. LS Nguyễn Mạnh Tường không vào Đảng khó tránh khỏi hạn chế đó. Cuộc đời của LS Nguyễn Mạnh Tường chịu nhiều sóng gió, thiệt thòi, ông không phải là đảng viên nhưng sự trung thành với con đường đã chọn, hơn nhiều người là đảng viên cùng diện trí thức, nhưng không giữ được như ông. Cuối đời ông vẫn là người thủy chung với chế độ.

Năm 1989, LS Nguyễn Mạnh Tường có một chuyến trở lại Pháp, sau 60 năm. Cuối năm 1989 chính là lúc thế giới Đông Âu đang sôi sục những cuộc chính biến, rồi dẫn tới sự tan rã của phe xã hội chủ nghĩa. Ông được nhiều nhà báo phỏng vấn, trong đó có câu: “Việt Nam rồi sẽ ra sao?”. Và ông đã trả lời: “Tôi không làm nghề chiêm tinh học, và cũng không bói bài. Kiên tâm, kiên tâm trong không trung! Mỗi nguyên tử của yên lặng sẽ là cơ may cho một quả chín” (Patience, patience/Patience dans l’azur/Chaque atome de silence/Est la chance d’un fruit mur).

Và sau đó, cuối năm 1994, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã đến thăm ông ở nhà riêng.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một con người trung trực, cương nghị, tự trọng, luôn giữ cho mình đúng là một trí thức đáng cho mọi người nể trọng.

Nguyễn Xuân Ba (giới thiệu)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 395

______________

(*) Trích Hồi ký của LS Nguyễn Mạnh Tường “Con đường đi tới một chân lý càng khó thì khi đi tới chân lý đó, người ta càng tin tưởng”, Tạp chí Xưa & Nay, số 286, tháng 6/2007.
Phần bình luận có sử dụng tư liệu trong bài “Nguyễn Mạnh Tường – một chân dung và một hành trình như tôi hiểu” của GS Phong Lê, Tạp chí Xưa & Nay, Tết Canh Dần 2010.

Ý Kiến bạn đọc