Người tốt - Việc tốt

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cố vấn Vĩnh Thụy

Cụ thương con như con!

Đó là lời Vĩnh Thụy gửi về cho mẹ khi được cử làm Cố vấn của Chính phủ và được bầu vào Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Vĩnh Thụy tên húy đầy đủ là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, cũng là Nguyễn Phúc Thiển, tên gọi trong gia tộc là Mệ Vừng, sinh ngày 22-10-1913 tại Huế. Năm 9 tuổi, ông đã theo cha là vua Khải Định sang Pháp dự Triển lãm Thuộc địa tại Mácxây (Marseille). Chuyện ông vua này sang Pháp năm ấy là đề tài để rồi sau đó Nguyễn Ái Quốc viết vở kịch “Con rồng tre Annam”.

Từ tháng 6-1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng viên Khâm sứ Trung kỳ Saclơ (Jean François Eugène Charle) nhận làm con nuôi, cho sang du học ở Pháp. Tháng 2-1924, Khải Định tổ chức Tứ tuần đại khánh, Vĩnh Thụy về dự lễ rồi 9 tháng sau lại trở sang Pháp học. Ngày 6-11-1925, Khải Định mất, Vĩnh Thụy về chịu tang. Ngày 8-1-1926, Vĩnh Thụy lên ngôi vua, niên hiệu là Bảo Đại. Hai tháng sau thì trở lại Pháp và từ 1930 Vĩnh Thụy học tại Trường Science Po (Ecole Libre des Sciences politique) Paris. Sau 10 năm được đào tạo ở “mẫu quốc”, ngày 16-8-1932 Bảo Đại xuống tàu Đáctanhăng (D’Artagnan) về nước.

Ngày 19-9-1932, Bảo Đại ra Dụ số 1, tuyên cáo hồi loan và khẳng định chế độ quân chủ Nam triều. Ngày 8-4-1932, ông ban Dụ quyết định tự mình chấp chính và cải tổ nội các bằng cách sắc phong 5 thượng thư mới, xuất thân từ giới tân học và có trình độ hành chính (là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn) thay cho số đã già yếu, kém năng lực. Sau đó, ông cho thành lập Viện Dân biểu Trung kỳ. Viện được trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức Bảo hộ Pháp; đồng thời cho Hội đồng Tư vấn Bắc kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền Bảo hộ. Tháng 12-1933, ông ngự giá ra Bắc thăm dân chúng.

Tháng 3-1934, Bảo Đại cưới vợ là Nguyễn Hữu Thị Lan, người Công giáo, mang quốc tịch Pháp và lập bà làm Nam Phương Hoàng hậu, điều mà triều Nguyễn chưa có tiền lệ.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, nêu chiêu bài trao trả độc lập cho nước ta, ngày 11-3-1945 Bảo Đại ra đạo Dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Pathenôtre mà năm 1884 triều Nguyễn đã ký nhận quyền bảo hộ của Pháp. Ngày 7-4-1945, Bảo Đại ký Dụ số 5 chuẩn y Nội các Trần Trọng Kim.

Ngay sau ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Bắc bộ Phủ (19-8-1945) thành công, tiếp lời kêu gọi của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vua Bảo Đại gửi điện tín ra báo rằng: “Tôi sẵn sàng thoái vị… yêu cầu đại diện của Chính phủ sớm tới Huế để nhận bàn giao”.

Lễ “Bàn giao” đã diễn ra vào chiều 25-8-1945 tại Ngọ Môn, kinh thành Huế giữa vua Bảo Đại và đại diện của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (gồm ông Trần Huy Liệu dẫn đầu, cùng các ông Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận). Trong giờ phút lịch sử trao ấn kiếm cho đại diện Chính quyền cách mạng ấy, nhà vua đã có được câu nói để sau này mỗi khi có dịp thì sách báo nhắc tới là: “Trẫm muốn được làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước bị trị”. Từ đó, vua Bảo Đại lấy lại tên Vĩnh Thụy, công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra nhận công tác ở trong Chính phủ. Nơi ở của ông được bố trí là một biệt thự tại phố Gămbétta, với đầy đủ tiện nghi và số người phục vụ.

Sáng ngày 5-9-1945, ông Vĩnh Thụy đến gặp Hồ Chủ tịch. Khi ông vừa tới, Bác Hồ thoải mái trong bộ đồ vải kaki bước ra trước cửa phòng khách, mỉm cười niềm nở, đưa hai bàn tay rộng mở như đón chờ một người quen đi xa vừa trở về. Hồ Chủ tịch ân cần thăm hỏi cả nguyên Mẫu hậu Hoàng Thị Cúc và nguyên Hoàng hậu Nam Phương. Cử chỉ của vị Chủ tịch nước đã làm cho ông Cựu hoàng xúc động và cảm thấy mình thật may mắn.

Buổi gặp diễn ra khoảng một tiếng đồng hồ. Sau đó, ông Vĩnh Thụy được Bác Hồ tiễn ra trước cửa chính của Bắc bộ Phủ. Sau khi bắt tay, chờ cho ôtô đón khách lại chuyển bánh, Người mới vẫy chào một lần nữa với nụ cười thật ấm áp.

Ngồi trên xe, ông Vĩnh Thụy nhẩm nhẩm: “Theo hẹn, 15 giờ hôm nay, Cụ Hồ sẽ đến thăm mình!”.

Có lẽ vì chịu ảnh hưởng ở sự ân cần, trọng thị trong việc tiếp khách của Hồ Chủ tịch do ông Vĩnh Thụy vừa khoe khi trở về mà chiều hôm ấy, tại phố Gămbétta cả những nhân viên nấu bếp, lái xe và làm công tác bảo vệ đều cùng xin ra đón Người. Tất cả đã sẵn sàng. Họ sắp hàng hai bên lối đi. Ông Vĩnh Thụy đứng sẵn giữa tam cấp, nơi cửa chính của ngôi biệt thự. Rồi khách và chủ cùng bước ngang hàng, đi lên phòng chính. Lại những lời trao đổi ân cần về sự đoàn kết, cùng chung sức xây dựng chính quyền mới, nhằm giữ nền độc lập, thống nhất non trẻ của Tổ quốc và lo cho đời sống nhân dân.

Đoạn, hai người lại trở xuống, bước tản bộ trong vườn. Hình như ý của khách muốn những lời trao đổi của cả hai cùng có trời đất và cảnh vật thiên nhiên chứng giám.

Sau đó Hội đồng Chính phủ họp, cử ông Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao của Chính phủ và chọn ông vào Ủy ban Dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm 7 thành viên, do Cụ Hồ Chí Minh đứng đầu.

Qua một số buổi làm việc, ông Đặng Thai Mai cũng là thành viên của Ủy ban Dự thảo Hiến pháp nói với viên sĩ quan hầu cận của vị cố vấn: “Tưởng Vĩnh Thụy chỉ là người ăn chơi nhưng không ngờ ông ấy có những hiểu biết khá rộng về pháp lý và có những ý kiến hay”. Chỉ có thể chế Dân chủ Cộng hòa mà đứng đầu là Hồ Chủ tịch thì mới khai thác được mặt tích cực tiềm ẩn như thế ở con người Vĩnh Thụy. Ngày 6-1-1946, qua Tổng tuyển cử, ông Vĩnh Thụy được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bấy giờ, Vĩnh Thụy gửi thư về Huế, kể với mẹ rằng: “Cụ Hồ tốt lắm. Con ra đây được Cụ Hồ thương lắm. Cụ thương con như con. Ả (tức mẹ) cứ yên tâm, không phải lo gì cho con cả”.

Hồ Chủ tịch cũng đã có lời mời bà Nguyễn Hữu Thị Lan (vốn là Nam Phương Hoàng hậu) đưa các con ra Hà Nội đoàn tụ với ông Cố vấn Vĩnh Thụy. Bà trả lời: “Rất biết ơn cụ Chủ tịch nhưng sợ như vậy sẽ tốn kém thêm cho Nhà nước trong khi Chính phủ còn đang nghèo, phải lo trăm chuyện”.

Ngày 16-3-1946, Vĩnh Thụy được cử vào Phái đoàn đại diện cho Chính phủ ta sang Trùng Khánh, thăm viếng Trung Hoa, bắt đầu việc giới thiệu về chính thể Dân chủ Cộng hòa của Việt Nam với thế giới và đề nghị họ công nhận nền độc lập cũng như đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Việc mời một vị cựu hoàng đi trong Phái đoàn tuyên truyền cho công việc ấy là một thiện chí và là ý tưởng tốt đẹp của Cụ Hồ, mong tạo điều kiện để Vĩnh Thụy quen biết với trường ngoại giao quốc tế, nhằm đóng góp cho đất nước được nhiều hơn.

Nhưng khi sang đó ít lâu, Vĩnh Thụy tách ra sống riêng rồi không về nữa! Từ Trùng Khánh, Vĩnh Thụy đến Côn Minh rồi tới Hồng Kông. Ở những chặng dừng chân ấy, Vĩnh Thụy đều được người Pháp rồi người Mỹ tiếp xúc, họ vẫn gọi ông là Bảo Đại, bàn việc lập chính phủ riêng do ông ấy đứng đầu, hợp với lợi ích của họ. Biết về những điều không khó xẩy ra đối với ông Cố vấn, Hồ Chủ tịch đã viết thư (sau này La Couture dẫn trong sách “Hồ Chí Minh” Le Seuil, 1967): “… Ngài chớ quên rằng, ngài là đại diện cho nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Ngài phải làm thế nào để đời sống của ngài xứng đáng với cái tên mà ngài đang mang, xứng đáng với Tổ quốc chung, với nền Độc lập của chúng ta đến nay mới giành lại được”.

Theo bà Mộng Điệp, vợ thứ của Bảo Đại thì trước ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Hồ Chủ tịch đã cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đem tiền và vàng sang Hồng Kông cho ông Vĩnh Thụy tiêu. Tuy nhiên, còn cần rất nhiều đôla để cho cả mỹ nữ, Vĩnh Thụy đã phản lại quyền lợi của đất nước và nhân dân.

Ngay sau khi cùng trao đổi, tướng Mácsan (George Marchall) đại diện Mỹ đã đem bản giao ước thỏa thuận được với Bảo Đại về trình Tổng thống Truman (Harry S. Truman). Còn Bảo Đại thì viết thư gửi về nước, xin từ chức “Cố vấn tối cao” trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!

Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp Đông Dương là Cút-xô (Cousseau) đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền. Cái đó được gọi là “Giải pháp Bảo Đại” của người Pháp nhằm dập tắt cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta và đè bẹp phong trào đòi trao trả độc lập ở các thuộc địa khác. Còn Mỹ thì muốn hỗ trợ cho người Pháp thắng trong cuộc chiến này rồi ép họ phải rút khỏi Đông Dương! Đến một lúc thấy Bảo Đại không còn là con bài đắc dụng nữa thì Mỹ thay bằng con bài khác! Đấy là câu chuyện còn kéo dài cho đến khi Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm thay thế, phải sống lưu vong ở nước ngoài!

Đức lớn của Hồ Chủ tịch là tin vào lương tâm của con người. Mọi người dân Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, đó là điều Người tin. Tháng 8-1947, trả lời một nhà báo về trường hợp Vĩnh Thụy, Người nói: “Nhiều thành viên trong Chính phủ và bản thân tôi, tất cả đều là bạn của ông Cố vấn Vĩnh Thụy. Chúng tôi rất mong muốn gặp lại ông Cố vấn và cầu mong ông sớm trở về để cùng nhau lo việc nước” (Philippe Devillers “Lịch sử Việt Nam 1940-1952”, Seuil 1952).

Bảo Đại là ông vua cuối cùng và sống thọ nhất của triều Nguyễn. Từ ngày nhận thoái vị, nộp ấn kiếm cho Cách mạng đến buổi cuối đời ngồi cô đơn bên tách cà phê tại một góc phố ở thủ đô nước Pháp, mỗi khi nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Vĩnh Thụy luôn giữ một niềm kính phục. Đến tuổi già, ngẫm lại sự thất thế của mình, Vĩnh Thụy càng nhiều lúc nhớ về Tổ quốc, nhớ Cụ Hồ.

Vào cuối năm 1997, Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) được tổ chức tại Hà Nội, Vĩnh Thụy có nhận lời là sẽ về tham dự. Nhưng không kịp nữa, ông đã mất tại Paris vào ngày 8-8 năm ấy, thọ 85 tuổi.

Chu Trọng Huyến
(TP. Vinh – Nghệ An)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 519

Ý Kiến bạn đọc