Người tốt - Việc tốt

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức

Do sống tình nghĩa và chân thật, Chủ tịch Hồ Chí Minh thu hút được nhiều nhân tài. Nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi đã hồ hởi ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và tình nguyện đi với Người trên con đường cứu nước vẻ vang nhưng đầy gian nan, thử thách.

Ta có thể kể ngay những người nổi tiếng như cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, huân chương Sao vàng; cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Kế Toại, cụ Vi Văn Định, viện sĩ Trần Đại Nghĩa, giáo sư Tôn Thất Tùng, giáo sư Nguyễn Văn Huyên, bác sĩ Trần Hữu Tước, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh…

Các vị nhân sĩ, trí thức rất tự hào, được Bác trọng dụng và sẵn sàng nhận mọi công việc khó khăn mà Bác giao cho. Đơn cử trường hợp cụ Huỳnh Thúc Kháng, đủ cho ta thấy mọi khía cạnh của tấm lòng hào hiệp và cách dùng người xuất sắc của Bác.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng hơn Bác 14 tuổi, vậy mà Cụ một lòng yêu quý và kính trọng Bác Hồ, trung thành và tận tụy hoàn thành những công việc lớn lao do Bác phân công.

Cụ Huỳnh là một nhà nho nổi tiếng đất Quảng Nam, có bằng tiến sĩ từ lúc còn trẻ, là người yêu nước kiên cường nên bị thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ tha thiết mời Cụ làm việc, tham gia Chính phủ, nhưng Cụ không nhận lời, vì Cụ chưa biết Hồ Chí Minh là ai. Xưa nay Cụ chỉ biết và mến phục Nguyễn Ái Quốc thôi. Sau khi biết rõ Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc và thấy Bác Hồ thật lòng mời mình nên Cụ nhận lời và ngồi vào ghế Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một cánh tay đắc lực của Bác Hồ.

Tháng 5-1946, Bác Hồ bận đi thăm Pháp, Bác không ngần ngại trao cho Cụ Huỳnh chức Quyền Chủ tịch nước, trong khi Cụ không phải là đảng viên Cộng sản. Điều đó vừa cho thấy bản lĩnh của Bác vừa chứng tỏ Cụ Huỳnh là một người đáng tin cậy nhất, là sự chọn lựa xứng đáng và đúng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

So-521--Chu-tich-Ho-Chi-Minh-voi-cac-nhan-si-tri-thuc
Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu tiên, bên phải) và Chính phủ liên hiệp (2-3-1946). Ảnh tư liệu.

Có thể nói, sự gắn bó mật thiết giữa Cụ Huỳnh Thúc Kháng với Bác Hồ là một trong những mối gắn bó đẹp nhất giữa hai nhà yêu nước tiêu biểu trong sáng nhất, cao cả nhất. Đến với cách mạng, đến với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh cảm thấy hạnh phúc tột bậc, hạnh phúc của một người được thoát kiếp nô lệ nhục nhã, làm người tự do, làm dân của một nước độc lập, tự do, dân chủ thực sự, Cụ Huỳnh rất tự hào vì được góp sức với Hồ Chủ tịch để lo việc nước, được hợp tác chặt chẽ như tim với óc cùng con người mà Cụ hết lòng yêu mến và kính phục. Trong bức thư bằng chữ Hán, viết năm 1946, Cụ Huỳnh hết lời ca ngợi Bác Hồ, tạm dịch như sau:

“Người thân yêu, kính mến nhất của quốc dân đồng bào chúng ta là Hồ Chí Minh tiên sinh,

Là bậc yêu nước chân chính đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia; Chân đi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm;

Nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ”.

Hạnh phúc trong cảnh huy hoàng của nhân dân được sống trong độc lập, tự do, Cụ Huỳnh viết:

“Xiềng xích cường quyền trên tám chục năm, vó trâu chân ngựa quét sạch sành sanh;
Trò hề chuyên chế hơn ngàn năm, cánh cọp hàm ly lặng im thin thít;
Sướng ôi là sướng, thoát thân nô lệ mà làm chủ nhân ông;
Vui thật là vui, đổi quyền vua mà làm dân quốc mới”.

Cuối năm 1946, Cụ Huỳnh được Trung ương cử đi xem xét tình hình ở các tỉnh miền Trung. Sau những ngày làm việc ở Quảng Nam, sức khỏe của Cụ suy yếu nhiều. Khi ông Tôn Quang Phiệt (người cùng đi với Cụ) trở ra Hà Nội, Cụ tiễn chân ông Phiệt ra tận cổng rồi cầm tay ông Phiệt nói: “Tôi chắc không gặp lại được Hồ Chủ tịch. Ông về Hà Nội, báo cáo với Cụ công việc chúng mình đã làm từ hôm rời Hà Nội đến nay, và nói riêng giúp tôi: Tôi gửi lời chào cảm mến Hồ Chủ tịch và xin kính chúc Cụ sống lâu để lãnh đạo cuộc kháng chiến này cho đến thắng lợi, như Cụ đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công”.

Tháng 4-1947, khi đang công tác tại Quảng Ngãi, bệnh Cụ trở nặng. Biết mình không qua khỏi, Cụ đọc cho ông Lê Nhiếp (con rể và cũng là thư ký riêng của Cụ) ghi bức điện gửi Bác Hồ:

“Kính gửi Hồ Chủ tịch,

Tôi bệnh nặng, chắc không qua khỏi.

Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng.

Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc.

Chào vĩnh quyết.

14-4-1947”

Khi Cụ Huỳnh Thúc Kháng tạ thế, trong thông điệp gởi đồng bào, ngày 29-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng những từ đẹp nhất để ca ngợi người quá cố như sau:

“Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao, rất rộng. Vì lòng yêu nước mà trước đây Cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ Huỳnh chẳng những không sờn, lại thêm kiên quyết.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.

Cả đời Cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời, Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Trí thức là nguồn vốn quý báu của nhân dân, có tác dụng lớn cho sự phát triển về mọi mặt của đất nước. Phải trọng dụng họ và chân thành dìu dắt họ để họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Công việc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thực hiện một cách hoàn hảo. Không có nhà trí thức nào mà không thấy vinh dự, không thấy vui sướng khi được tiếp xúc với Bác Hồ. Nhà bác học, bác sĩ mổ gan hàng đầu của Việt Nam và thế giới kể như sau:

“Một hôm, tôi được gọi gấp đến thăm bệnh cho một lão đồng chí. Bước vào Bắc Bộ Phủ, tôi gặp một ông già gầy, xanh, nhưng có đôi mắt rất sáng. Đó là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Và từ cuộc gặp gỡ đầu tiên đó, tâm hồn tôi đã chuyển biến theo cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”.

Luật sư Phan Anh thì “xúc động và cảm kích trước tấm lòng nhân hậu và bao dung của Bác, vì “Bác không lấy việc tôi đã tham gia chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật làm điều, mà vẫn cho tôi là một trí thức yêu nước và trọng dụng”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng – một trí thức yêu nước, có uy tín lớn trước Cách mạng Tháng Tám – đã tâm sự:

“Chí thành, năng động, tấm lòng thành của Cụ Hồ làm đá cũng phải chuyển hướng…”.

Giáo sư Phạm Huy Thông rất thích thú được theo phục vụ Bác, làm thư ký riêng cho Bác, khi Bác sang thăm Pháp năm 1946. Là một trí thức thông thạo tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ, nhưng một hôm được Bác giao cho thảo một bài nói chuyện, giáo sư Phạm Huy Thông được Bác uốn nắn tinh tế như sau. Bác nói: “Chú viết văn Pháp có vẻ bóng bẩy đấy. Nhưng đây là một bài nói. Chú có định cho người ta kịp nghe, kịp hiểu không mà viết câu dài hàng kilômét thế này?”. Lời nhắc nhở ấy của Bác, được giáo sư Phạm Huy Thông in đậm vào lòng, lấy đó làm bài học quý giá cho nền tảng học vấn của mình.

Luật sư Trịnh Đình Thảo nổi tiếng, dù phải sống trong sự kềm kẹp của chế độ Mỹ – ngụy ở miền Nam Việt Nam, vẫn hướng về Cụ Hồ bằng cả tấm lòng thành kính. Trong khu vườn rộng rãi của Luật sư, có mở nhiều con đường theo ý thích của ông, trong đó có đường Hồ Chí Minh. Khi Luật sư ra thăm miền Bắc, Bác Hồ đã đến thăm và thân mật hỏi: “Alléè Hồ Chí Minh (đường Hồ Chí Minh) trong vườn Luật sư có còn không?”. Luật sư rất cảm động, được Bác Hồ quan tâm tỉ mỉ như vậy.

Sở dĩ Bác Hồ chiếm được trọn vẹn tình cảm và niềm tin của người trí thức là vì chính Người cũng là trí thức. Cho nên Người đủ sự thông cảm con đường khổ ải của học vấn, thi cử và ước muốn sâu xa của người trí thức. Người yêu thương, quý trọng người trí thức rất thật lòng, thẳng thắn, chân thành, không cần giữ kẽ, không cần giấu dốt. Như có lần Bác đã xin ý kiến cụ Bùi Bằng Đoàn, xem có thể đổi bài điếu văn Cụ Hồ Tùng Mậu thành thể văn tế được không? Vì Bác chưa từng viết văn tế. Thật là một thái độ hiếm có đối với một vị đứng đầu quốc gia.

Hơn thế nữa, Bác còn là một nhà văn hóa lớn.

Ai đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh mới hiểu thế nào là sức hút diệu kỳ của một vĩ nhân rất bình dị, của một con người hoàn hảo. Bác Hồ không dùng quyền lực để nói chuyện với trí thức, mà mềm mỏng thuyết phục, cầu hiền đãi sĩ.

Khi lần đầu Cụ Huỳnh từ chối, không nhận làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho Chính phủ, Bác ôn tồn giãi bày với Cụ. Bác nói: “Tuy cách mạng đã thành công, nước nhà đã độc lập, nhưng dân tộc ta đang phải đối phó với nhiều thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm), do đó, các bậc chí sĩ cần chung vai gánh vác việc nước với toàn dân. Ngày xưa, tuy đỗ đại khoa nhưng nhất quyết không ra làm quan, vì lúc đó làm quan là tiếp tay cho thực dân áp bức, bóc lột người dân, còn nay, Cụ tham gia Chính phủ Dân chủ Cộng hòa là góp phần giúp dân, cứu nước”.

Và Bác Hồ kết luận: “Trên con đường tranh đấu giành độc lập, Cụ đã đi được 99 dặm, chỉ còn 1 dặm nữa. Xin Cụ đừng thoái thác. Cụ vui lòng giúp tôi”.

Có thể nói không quá, Bác Hồ đã nài nỉ Cụ Huỳnh Thúc Kháng chứ không ép buộc gì hết. Do đó, Cụ Huỳnh được cảm hóa thực sự và vui vẻ nhận lời, ra giúp nước, không mảy may vụ lợi.

Biết bao nhiêu trí thức đã tự nguyện từ bỏ cuộc sống sung túc ở nước ngoài, ở vùng tạm bị địch chiếm để đi vào kháng chiến, vật chất thiếu thốn, vì yêu mến Bác, tin tưởng Bác như viện sĩ Trần Đại Nghĩa, giáo sư Tôn Thất Tùng, bác sĩ Trần Hữu Tước, giáo sư Hoàng Xuân Nhị, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, giáo sư Đặng Minh Trứ, giáo sư Trần Văn Hanh, giáo sư Nguyễn Văn Chì, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, bác sĩ Nguyễn Thiện Thành, luật sư Phạm Ngọc Thuần, luật sư Lê Đình Chi, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nhà nông học Lương Định Của, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát… Những vị ấy đã đi theo cách mạng đến cùng. Hầu hết họ đã trở thành đảng viên Cộng sản. Riêng trường hợp Bộ trưởng Giáo dục, giáo sư Nguyễn Văn Huyên đã phấn đấu tận tụy và đủ tư cách để kết nạp vào Đảng, nhưng Bác khuyên: “Chú nên ở ngoài Đảng. Ở ngoài Đảng, chú sẽ cống hiến cho cách mạng được nhiều hơn, để người ta hiểu rằng cách mạng không hẹp hòi, không phe phái, các bộ trưởng không nhất thiết phải là đảng viên”.

Ngay Cụ Phan Kế Toại, làm Phó Thủ tướng mà nguyện vọng tha thiết nhất cũng là được vào Đảng, vì Cụ rất tự hào nếu được là đồng chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Làm sao có thể khác được, khi trước mắt các nhà trí thức là một tấm gương quá lớn, một ngôi sao tuyệt vời đang soi đường dẫn lối cho mình bước đi.

Quên sao được khi mùa đông ở Paris giá lạnh mà Bác không có lò sưởi, phải nướng một cục gạch rồi bọc lại trong các tờ giấy báo để giữ ấm cho giấc ngủ. Quên sao được những ngày ở hang Pắc Bó, chỉ sống với “cháo bẹ, rau măng”, mà vẫn lạc quan, thấy “Cuộc đời cách mạng thật là sang!”. Nếu không có đức hi sinh một lòng vì nước, vì độc lập, tự do của nhân dân thì làm sao Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn, thử thách trên đường đời. Đó là chưa kể chuyện tù đày, chuyện bền chí học hành, phấn đấu… mọi mặt, Cụ Hồ đều hơn hẳn chúng ta. Vậy tại sao Người không hề do dự giữa yên thân và xả thân, dứt khoát từ bỏ mọi cám dỗ để đi con đường gian truân vì dân, vì nước. Thế thì, tại sao ta lại không dám noi gương Người, học theo Người, để làm một người tốt, một người học trò trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Mà một khi đã quyết làm người học trò của Bác thì người trí thức cũng tình nguyện dấn thân vì dân vì nước.

Thực tế cho thấy, những trí thức đi theo Bác đều trở thành những người tốt nhất, giỏi nhất, có uy tín nhất, như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Thọ, Lương Định Của… Họ xứng đáng với câu ví danh giá nhất: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, họ góp phần đắc lực làm cho đất nước phát triển, làm cho dân giàu nước mạnh.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 521

Ý Kiến bạn đọc