Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngọn hải đăng vĩnh cửu

 

Chừng nào biển còn thì ngọn hải đăng vẫn còn là con mắt của biển.

Ngày nào nhân loại cần lao còn tồn tại là người đời còn mong đợi ở tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quả vậy! Kể từ Các Mác, Lênin mở mắt cho những người lao động bị bóc lột dã man trên thế giới, nhân loại đã tiến những bước nhảy vọt đáng kinh ngạc. Với thành công của Cách mạng Tháng 10 (1917) vĩ đại do thiên tài Lênin lãnh đạo, Liên Xô ra đời. Một phần sáu quả địa cầu được sơn màu đỏ của hạnh phúc, ước mơ, thay vì chỉ một màu tối đen, u ám.

Nhưng số phận của các nước thuộc địa thì vẫn còn chìm trong thống khổ, tủi nhục. Cho mãi đến năm 1945, được sự lãnh đạo anh minh, trong sáng của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và chính đảng của Người, một nước Việt Nam mới mẻ, dân chủ, tiến bộ mới giành được độc lập, tự do. Sự kiện đó hết sức phi thường.

Phi thường ở chỗ, Việt Nam chỉ là một nước phong kiến, lạc hậu, đang bị quả núi chế độ thực dân Pháp thống trị hơn 80 năm, tưởng không bao giờ có thể ngóc đầu lên được. Vậy mà, khi mới 15 tuổi, Đảng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đĩnh đạc giành lại độc lập cho nước mình. Cho đến nay, đã ba phần tư thế kỷ, nền độc lập ấy vẫn vững vàng trước những thách thức khắc nghiệt nhất của lịch sử. Muốn hiểu vì sao Việt Nam bảo vệ được nền độc lập kiên định như thế, thiết nghĩ cần phải tìm hiểu cội nguồn truyền thống bất khuất của dân tộc ấy và lãnh tụ vĩ đại của họ. Nước Việt Nam không phải chỉ một đôi lần bị giặc ngoại xâm tạm thời chiếm đoạt. Nhưng kẻ thù nào cũng vậy, không sớm thì muộn, chúng cũng bị quét khỏi bờ cõi Việt Nam. Truyền thống ấy giờ đây được khẳng định hơn bao giờ hết trong khẩu hiệu thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”…

Năm 1945, là một năm hết sức phức tạp và nghiệt ngã. Ngoài Bắc thì quân Tàu tràn vào vì chúng cậy là phe đồng minh, vào tước khí giới phát xít Nhật. Bác Hồ phải khôn khéo lắm mới đẩy chúng ra được một cách hòa bình, không va chạm.

Trong Nam thì giặc Pháp quay lại để cướp nước ta lần nữa. Thế là, chỉ sau ba tuần lễ được thở không khí độc lập, nhân dân Nam bộ phải đứng lên cầm vũ khí đánh trả quân thù cướp nước. Có muốn hòa bình cũng không được. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại càng đau đầu hơn ai hết.

Đánh thì phải đánh rồi, đó là lẽ tự nhiên khi kẻ thù ngang ngược dí súng vào ngực ta, nhưng “còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách cứu vãn tình hình. Hết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 mà nhiều người nói vui là Hiệp định Mác-xít (theo lối nói lái chữ Six – mars – nghĩa là mồng 6 tháng 3), vì nó có ý nghĩa cách mạng rất sâu xa là bước dừng cần thiết để cho Nam bộ được hít thở vì quá mệt trong cuộc đọ sức quá chênh lệch với quân đội bọn thực dân Pháp. Sau Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, chính phủ ta sang Pháp để tìm một biện pháp hòa bình dài hơn, tại Hội nghị Fontainebleau, tháng 9/1946. Nhân dịp này, Bác được chính phủ Pháp mời sang thăm nước Pháp, thực tế là Bác sang Pháp để chỉ đạo phái đoàn ta ở hội nghị quan trọng này. “Thỏa hiệp án” 14/9/1946 ra đời tạo điều kiện cho quân dân miền Nam đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, đồng thời chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài và ác liệt.

So-569--Chu-tich-Ho-Chi-Minh-Ngoc-hai-dang-vinh-cuu
Hồ Chủ tịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Hoàng Minh Giám cùng các thành viên
Chính phủ lâm thời, năm 1945. (Nguồn: anninhthudo.vn).

Là một nhà chính trị lão luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ mình phải làm gì để đón cơn giông tố sắp ập đến đất nước mình. Người chuẩn bị, tích lũy lực lượng bằng mọi cách. Người vận động các nhà trí thức tài ba về cứu nước. Với uy tín và đức độ cao quý, Hồ Chủ tịch đã được họ tình nguyện theo về góp phần xương máu với quê hương, như Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước…

Bác Hồ về nước không lâu thì cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra theo logic của nó. Trong lời kêu gọi quốc dân, Người nói rất rõ:

“… Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa… Chúng ta không bao giờ chịu mất nước, không bao giờ chịu làm nô lệ…”. Chúng ta muốn hòa bình, nhưng không phải là thứ hòa bình hèn nhát, hòa bình cúi đầu. Hạ quyết tâm đánh đuổi bọn thực dân Pháp bằng biện pháp cuối cùng – biện pháp chiến đấu vũ trang – Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào lịch sử như một huyền thoại của thế kỷ XX. Người đã làm “tan tành” một đế quốc lớn đầy tham vọng và hống hách. Đó là một mốc son của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ dọn lên Việt Bắc từ năm 1947 để lãnh đạo cuộc kháng chiến, Việt Bắc trở thành “Thủ đô kháng chiến”, “Thủ đô gió ngàn”, là trái tim của Tổ quốc, nơi nhân dân đặt trọn niềm tin mà nhà thơ Tố Hữu đã viết rất hay:

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc, Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”

Và trong hoàn cảnh khó khăn của lực lượng vũ trang, Bác đã dày công vận dụng cách đánh du kích thiên biến vạn hóa để chống lại đạo quân nhà nghề của Pháp một cách hiệu quả vô cùng. Bác soạn cả một quyển sách dạy cách đánh du kích rất công phu và sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng mang cấp bậc quân hàm nào, nhưng ai cũng công nhận Người là thầy của tất cả các vị tướng, vì Người dìu dắt họ, dạy dỗ họ suốt đời. Người là một nhà quân sự lỗi lạc, trải qua 24 năm làm Chủ tịch nước – Tổng Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang, mọi thắng lợi của quân dân ta đều in đậm dấu ấn của Người. Người lãnh đạo quân đội một cách toàn diện và khoa học nhất. Người phát hiện rất sớm âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và dạy cho quân đội cách đánh lại chúng. Người am hiểu mọi mặt của lĩnh vực quân sự và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Ví dụ, cuối năm 1944, Người cho thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nhỏ bé (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam). Người nói rõ vì sao có hai chữ “Tuyên truyền” – vì nhiệm vụ chính của nó lúc bấy giờ chưa phải là chiến đấu, mà là tuyên truyền và làm cho nó lớn mạnh. Mong cho nó có nhiều đội quân đàn em khắp nước.

Đó là nhãn quan chính trị của Bác về quân đội. Một quân đội chỉ thực sự mạnh và bách chiến bách thắng khi nào nó trung thành với nhân dân và được lãnh đạo bởi một đường lối chính trị đúng đắn, ở nước ta, quân đội phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Ngay như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những băn khoăn cuối cùng của Đại tướng đã nói rõ sự nghiêm túc của quân đội đối với Đảng. Sau khi Bác và Bộ Chính trị giao nhiệm vụ đánh Điện Biên Phủ cho Đại tướng, Bác hỏi: “Bây giờ, chú còn lo điều gì nữa không?”. Đại tướng thưa: “Chỉ lo ở xa, không xin được kịp thời ý kiến của Bác và Trung ương”. Bác bảo:

“Tướng quân tại ngoại, cho chú được trọn quyền”.

Khi chiến dịch biên giới năm 1950 nổ súng, Bác đã có mặt nơi súng nổ, quan sát bộ đội chiến đấu một cách chăm chú nhất và cảm hứng cao độ, Người xuất thần làm một bài thơ rất hào hùng:

“Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta thế mạnh nuốt Ngưu Đẩu
Thề diệt xâm lăng, lũ sói cầy”

Khi Điện Biên Phủ được giải quyết xong, Đại tướng lên báo cáo với Bác. Bác vui vẻ nói: “Chúc chú thắng trận trở về. Nhưng đây mới là bắt đầu. Ta còn phải đánh Mỹ nữa!”. Lời nói giản dị, rõ ràng mà xác quyết của Bác đã vượt trên suy nghĩ của mọi con người lúc bấy giờ. Đại tướng vô cùng xúc động và kính phục Bác. Đại tướng bảo: “Chỉ có những thiên tài mới nói được câu đó”. Vì Bác đã thấy trước mọi việc rồi sẽ xảy ra, và thực tế nó đã xảy ra đúng như lời Bác báo trước. Nhân dân ta còn phải trải qua gian nan gấp 10 lần và kéo dài hàng 20 năm để đánh thắng đế quốc Mỹ hung hăng, tàn bạo nhất. Như vậy, rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn hải đăng đáng tin cậy nhất, chỉ cho ta hướng đi chính xác nhất.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ là một bài học lớn của lịch sử nước ta và các nước nhỏ yếu bị lũ khổng lồ áp bức. Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Lê Duẩn nhất trí với nhau, Cách mạng Việt Nam chỉ có một con đường để đi tới thắng lợi sau cùng là “chống Mỹ bằng vũ trang, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà”.

Từ ngày 8/3/1965, khi quân Mỹ đổ vào miền Nam, cục diện chiến trường chuyển sang màu sắc khác. Mỹ dồn toàn lực hỗ trợ quân viễn chinh của chúng. Cách mạng miền Nam lại một phen chịu áp lực hết sức nặng nề. Nhiều người ngơ ngác hỏi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm sao đánh Mỹ được? Đại tướng ung dung trả lời: “Trước hết, phải hỏi có dám đánh không cái đã. Nếu dám đánh thì xắn tay áo bước ra. Cứ đánh, rồi thực tế sẽ dạy cho ta cách đánh”. Liền sau đó, trận Núi Thành diễn ra vô cùng ngoạn mục. Ta quần nhau với quân Mỹ và tiêu diệt chúng mà máy bay, pháo binh của chúng không thể can thiệp được. Từ đó, kinh nghiệm “nắm thắt lưng địch mà đánh” ra đời. Thế là thực tế đã dạy ta cách đánh nhau trực tiếp với quân đội Mỹ một cách ngắn gọn nhất.

Theo đề xuất của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Bác và Bộ Chính trị thống nhất quyết tâm làm một cuộc đổi thay lớn trên chiến trường. Thế là Chiến dịch bão táp Tết Mậu Thân 1968 nổ ra cùng một lúc khắp miền Nam, làm cho Mỹ – Ngụy chới với, không ngờ. Thắng lợi của chiến dịch Tết Mậu Thân vượt quá mong đợi. Đó là sự rút lui không kèn không trống của quân viễn chinh Mỹ mãi mãi ra khỏi miền Nam. Thế là khẩu hiệu “Đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được quân dân ta thực hiện có kết quả lớn lao bước đầu. Nhớ mãi hình ảnh cảm động Bác ngồi chủ trì cuộc họp vô cùng quan trọng của Bộ Chính trị để quyết định đánh Tết Mậu Thân 1968 trong không khí giá rét lúc bấy giờ!

Trước khi đi xa mãi mãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết kế sẵn con đường đi đến thắng lợi cuối cùng cho đất nước. Và toàn dân ta đã một lòng trung thành với di huấn của Người, đưa đất nước lên đỉnh cao của một quốc gia được bạn bè trên thế giới tin yêu và hết lòng ủng hộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi vẫn là ngọn hải đăng bất diệt cho sự trường tồn của đất nước Việt Nam.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 569

Ý Kiến bạn đọc