Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Một điều vĩ đại khác

 

Chúng ta vô cùng biết ơn các vĩ nhân. Họ như ánh sao trong đêm tối, như ngọn hải đăng trên mặt biển mịt mùng. Họ định hướng cho những người ở phía sau tiến bước giống như trái tim Đan Kô bất diệt trong đêm đen giữa rừng sâu, đang tuyệt vọng. Hoặc nói có sách, mách có chứng, ta hãy lấy hai con người có tên có tuổi hẳn hoi mà nhà triết học hoàng gia Anh B. Rutxen đã từng nói. Đó là Lênin và Einstein.

Bectơrăng Rutxen bảo: “Chúng ta có thể đinh ninh rằng thế kỷ XX đang bước dưới dấu chân của hai con người, đó là Lênin và Einsten”. Rõ ràng, thế kỷ XX đã chứng minh và xác nhận cho sự thật ấy. Nhưng thế kỷ XX không chỉ có thế. Thế kỷ XX còn vô số những điều vĩ đại khác tiếp theo sau Lênin và Einstein.

Dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười Nga 1917 của Lênin và nhân dân Nga vĩ đại, Cách mạng tháng Tám 1945 của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam anh hùng đã giành lấy thắng lợi huy hoàng.

Giống như một chuyện tưởng tượng, mấy ai nghĩ rằng nhân dân một nước Việt Nam nhỏ bé như thế lại có thể xoay trời chuyển đất làm cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công kỳ diệu đến như thế. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và chính Đảng tiên phong của Người (lúc phát động cuộc Cách mạng tháng Tám, chỉ có 5.000 đảng viên) đã tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc như lũy thép thành đồng xung quanh Đảng, lật đổ được ách thống trị từ tay phát xít Nhật, vượt qua âm mưu tái chiếm của thực dân Pháp, giành lại được độc lập cho Tổ quốc mình.

Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên như một ngôi sao sáng trên bầu trời châu Á. Khi Đảng của Người mới được 15 tuổi, với 15 tuổi ngắn ngủi, Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập một kỷ lục đáng tự hào nhất trong lịch sử ngàn đời của dân tộc. Trong cùng một thời cơ như nhau khi Thế chiến thứ II kết thúc, với đại thắng lợi của Liên Xô, nhưng xung quanh đây chỉ có Việt Nam chiếm lĩnh được cơ hội vàng, lập được một nhà nước thực sự dân chủ, tiến bộ nhất.

So-558--Chu-tich-Ho-Chi-Minh-Mot-dieu-vi-dai-khac
Bác Hồ với các anh hùng, dũng sĩ miền Nam. Nguồn: baothaibinh.com.vn

Nhắc đến vĩ nhân, người ta thường nói đến hai tiếng “khổng lồ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người mảnh dẻ, không to tát như người ta tưởng. Người giống một ông thầy giáo, một nhà thơ hơn là một vị tướng quân. Thế nhưng, bên trong con người mảnh dẻ ấy là cả một ngọn núi lửa đang hừng hực cháy. Người không ngán ngại mọi phong ba trong cuộc đời mình và cuộc đời của cả dân tộc. Người chịu đựng được mọi gian khổ, kể cả cực hình vì một lòng trung với nước, hiếu với dân. Và sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Người là một công lao khổng lồ. Và Người trở thành khổng lồ một cách thuyết phục nhất.

Ai đã trải qua Cách mạng tháng Tám 1945, rồi kháng chiến chống bọn thực dân Pháp và đỉnh cao nhất là đánh bại đế quốc Mỹ (cũng là một kẻ chưa ai đánh bại được) mới hiểu thế nào là chất thép Hồ Chí Minh – một thứ thép không rỉ, không chảy và không biến dạng, trước thử thách va chạm.

Năm 1945, sau khi nhân dân ta hít thở được không khí độc lập, tự do chỉ mới 21 ngày thì thực dân Pháp quay lại. Ngày 23-9-1945, chúng nổ súng để cướp lại đất Nam bộ. Nhân dân Nam bộ đã đáp trả kẻ thù một cách hiên ngang, sòng phẳng, dù biết rằng về vũ khí, tiền bạc, mình kém xa kẻ thù. Từ đó, những bài ca cứu nước hào hùng đã ra đời, vừa xúc động vừa quyết tâm:

“Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai, nhưng thân trai nào kém oai hùng”… Cùng với những bài hát kháng chiến như những lời thề son sắt, như “ra đi, ra đi bảo tồn sông núi; ra đi ra đi thà chết chớ lui”…, ta lại nghe những bài ca đầy lòng tin và yêu thương Lãnh tụ không bờ bến, khiến người nghe thật ấm lòng: “Dân Nam ơi, biết ơn Cụ Hồ đời đời! Bao nhiêu năm sống trong nguy nan, điêu linh! Dân Nam ơi, biết ơn Cụ Hồ là người vì đời đành hi sinh tấm thân quên mình”… Những bài ca ấy là một thứ vũ khí đặc biệt, giúp các chiến sĩ đánh giặc không nao núng, khi mà súng đạn của quân ta có đáng gì đâu!

Giặc Pháp muốn đánh nhanh, thắng nhanh vì chúng cậy vào vũ khí tối tân và tiền bạc. Hải, lục, không quân, chúng đều có đủ, chọi với một đạo quân “nhà quê, thiếu vật chất, thiếu cả huấn luyện. Nhưng, mấy ai như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người tiên đoán:

“Nay tuy châu chấu đá voi
Nhưng mai, voi sẽ bị lòi ruột ra!”

Tưởng đâu đấy chỉ là lời động viên lạc quan của Lãnh tụ, nào ngờ nó là một bài học vô giá về nhận định chiến tranh, nhất là với một cuộc chiến tranh nhân dân không hề sợ hãi bất cứ kẻ thù nào của nhân dân Việt Nam.

Nhưng rồi, nào đã yên. Thực dân Pháp rút lui thì đế quốc Mỹ nhào tới. Chúng dựng nên một bộ máy tay sai ngông cuồng phá hoại Hiệp định Genève, cự tuyệt tổng tuyển cử, cự tuyệt thống nhất đất nước. Một lần nữa, Tổ quốc lại đứng trước hiểm họa tồn vong. Điều đáng nói là sức mạnh của đế quốc Mỹ hơn Pháp gấp trăm lần. Dân ta lại phải đương đầu với một kẻ khổng lồ thực sự. Cả thế giới nín thở chờ đợi cuộc đấu trí, đấu lực to lớn nhất lịch sử hiện đại giữa một nước nhỏ và một siêu cường.

Hồi tưởng lại những năm tháng dạn dày chống Mỹ, chúng ta không khỏi rùng mình, kinh ngạc vì sức chịu đựng và sáng tạo, ý chí anh hùng của dân tộc mình. Đó là thứ vũ khí mạnh hơn mọi lực lượng vật chất để thắng giặc. Lòng kiên định của nhân dân Việt Nam được thể hiện khắp nơi, từ chị Út Tịch “còn cái lai quần cũng đánh”, đến anh đặc công ngày đêm chung sống với tử thần, khiến cho địch hồn xiêu phách lạc từ Rừng Sác đến Củ Chi, từ người chiến sĩ “nắm thắt lưng địch mà đánh” ở Núi Thành đến các anh hùng ở Thành cổ Quảng Trị, buộc giặc phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Paris và ảo vọng của chúng tan tành thực sự sau trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội cuối năm 1972, với lũ pháo đài bay B52 bị bắn rơi như sung rụng.

Những chiến thắng oanh liệt và lớn lao ấy không thể có nếu thiếu bàn tay chỉ đạo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã nằm gai nếm mật với dân tộc không thiếu một ngày, một tượng đài bất diệt của phẩm giá con người, với câu nói nổi tiếng nhất mọi thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hạ quyết tâm đánh Mỹ là một quyết định vĩ đại nhất trong lịch sử nước nhà. Một trong những điều kỳ diệu và thú vị nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là óc sáng tạo đáng ngạc nhiên của Người. Ra đi tìm đường cứu nước từ hai bàn tay không, Người đã không ngừng phát huy trí sáng tạo để tồn tại và chiến đấu, bền bỉ xây đắp cho mình từng bước để tạo nên một con đường độc đáo mang dấu hiệu Hồ Chí Minh không lẫn với ai hết. Từ việc lớn đến việc nhỏ, chuyện gì ta cũng thấy rõ dấu ấn sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước nạn đói thê thảm do giặc gây ra năm 1945, Người đau lòng nhưng rất bình tĩnh tìm cách vượt qua, cái cách mà chỉ có những bậc chân tu, những vị thánh mới có được. Đó là “tích cực lao động sản xuất, làm ra lúa gạo, sắn khoai và nhường cơm sẻ áo cho nhau bằng những nắm gạo cứu đói chan chứa nghĩa tình. Thay vì hô hào vang dội, Người thiết thực chắt chiu từng hạt gạo, từng miếng ăn để cứu giúp đồng bào đói khó. Có lần Người hỏi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng: “Tuyên truyền Đời sống mới, chú làm thế nào?”. Nhà văn thưa: “Cháu phổ biến khẩu hiệu dân tộc, khoa học, đại chúng!”. Bác cười: “Mấy ai hiểu được dân tộc, khoa học, đại chúng”, rồi Người chỉ vào bụng mình và bảo: “Trước hết phải có cái này, phải ăn cái đã”.

Với giặc dốt, trước cảnh dân ta hầu hết là mù chữ, Bác phát động phong trào xóa nạn mù chữ có một không hai trên đời này. Bác giao cho giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ trách xóa nạn mù chữ bằng một câu nói mộc mạc rất tình cảm: “Chú phải chia chữ cho dân”. Vì “chú” được học nhiều rồi, chú đang thừa chữ, mà dân ta thì thiếu chữ. Một lời khuyên của Lãnh tụ hàm chứa biết bao điều, khiến cho giáo sư Nguyễn Văn Huyên không quản ngày đêm, khó khăn cản trở, làm tròn nhiệm vụ lịch sử, trong một thời gian rất ngắn, đại đa số dân ta đã biết đọc biết viết để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình.

Còn với giặc ngoại xâm? Người kiên định dựa vào dân tuyệt đối. Người kêu gọi toàn dân: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Lời kêu gọi bất hủ ấy chính là nguyện vọng cứu nước cháy bỏng của nhân dân ta, bất chấp đầu rơi máu chảy, bất chấp tàu chiến, đạn đồng của giặc.

Muốn phát động một cuộc kháng chiến toàn quốc, điều cốt lõi là lòng dân. Dân có ưng, có hưởng ứng, có đồng tình thì họ mới tự giác gánh lấy trách nhiệm cứu nước của mình. Bằng sự kiên trì thuyết phục và gương mẫu hiếm có, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khiến dân tin dân yêu và một lòng bước theo Người, đánh giặc đến cùng để cứu nước. Bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại mãi mãi là thứ vũ khí vạn năng không có của cải vật chất nào sánh được, một thứ bảo bối của dân ta để giữ vững nền độc lập của nước mình. “Làm gì cũng phải hỏi dân”. Câu nói đơn sơ ấy của Bác đã giữ cho đất nước trường tồn, giữ cho chế độ bền vững. Ai vi phạm tư tưởng ấy là sai trái, là gây hại cho đất nước.

Trước những công lao hiển hách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn, nhà báo, nhà sử học người Pháp Jean Lacouture đã dành những câu đánh giá thấu đáo nhất, tuyệt vời nhất cho Người mà ít có ai nói được. Jean Lacouture viết: “Nhà hoạt động tài ba (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh – NV) dựa trên những trải nghiệm của chính mình, người kiến tạo lịch sử đã làm hồi sinh một dân tộc, lập nên một Nhà nước, dắt dẫn hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, về thực chất là cuộc chiến của những người bị áp bức. Cuộc kháng chiến chống Pháp của ông làm tan tành một đế quốc thuộc địa lớn. Cuộc kháng chiến chống Mỹ do ông chỉ đạo làm bộc lộ giới hạn của sức mạnh kỹ thuật khi chống lại con người”.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 558

Ý Kiến bạn đọc