Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chữ Quốc ngữ và thảm họa văn hóa

 

Dư luận đang rất sôi nổi về việc ngưng lại Dự án lấy các giáo sĩ có công hình thành chữ quốc ngữ là Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina đặt tên cho hai con đường ở thành phố Đà Nẵng. Các ý kiến ủng hộ hay phản đối Dự án đều không nhắc đến vấn đề lớn nhất, cốt lõi nhất trong lịch sử chữ quốc ngữ ở Việt Nam là nạn diệt chủng về văn hóa. Cho dù những người truyền đạo Thiên Chúa đến Việt Nam từ trước và sau Cố Rhodes với ý đồ tạo ra một thứ văn tự mới cho người Việt để thuận tiện cho việc truyền đạo chỉ nhằm mục đích truyền đạo đơn thuần, mở rộng nước Chúa, nhưng tác dụng khách quan, có thể ngoài ý đồ của họ, là sự diệt chủng nền văn hóa cổ truyền của người Việt đã có từ rất lâu đời.

Hậu quả của nạn diệt chủng về văn hóa đang hiện tiền trong xã hội Việt Nam hiện nay: chữ Hán đã trở thành tử ngữ và rất ít người Việt hôm nay tiếp cận, thừa hưởng được di sản Hán – Nôm đồ sộ từ Hàn lâm, bác học cho đến dân gian. Từ kho thư tịch Hán – Nôm cho đến đình chùa đền miếu lăng tẩm, gia phả các dòng họ, hương ước trong các làng xã. Sách vở, ghi chép, hoành phi câu đối, đại tự trong các gia đình, các từ đường dòng họ… Bản thân người viết bài này đang là nạn nhân: Cụ ngoại đỗ cử nhân, làm Huấn đạo huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa) khoảng 1911, để lại nhiều ghi chép, câu đối, đặc biệt có bức đại tự khoảng mấy trăm chữ, còn ở nhà thờ nhưng con cháu ngày nay không đọc được. Chỉ biết thắp hương khấn vái mà không biết Cụ nói điều gì với con cháu.

Diệt chủng về sinh mệnh đã là một tội ác mà nhân loại không dung thứ. Diệt chủng về văn hóa thì hậu quả rất thâm độc và lâu dài. Di sản văn hóa của bao thế hệ con người, của cả một dân tộc, bị xóa đi. Đó là một thực tế. Nhà ngữ học Cao Xuân Hạo, người được giới Ngữ học Quốc tế kính trọng, cho biết:

“Hiện nay, chương trình dạy tiếng Việt của ta từ phổ thông lên là dùng ngữ pháp tiếng Pháp 100% và chuyển sang tiếng Việt… Nhưng tôi luôn nghĩ người Việt mình lẽ ra nên dùng chữ Hán mới đúng, chúng ta dùng chữ quốc ngữ chỉ có lợi là học nhanh nhưng thực sự là rất có hại vì đã tự bứt lìa với nền văn hóa cổ của mình. Người nước ngoài đến du lịch ở Việt Nam nói đa số dân Việt Nam là mù chữ, vì hướng dẫn viên du lịch không ai đọc được câu chữ Hán nào trong các di tích văn hóa đình chùa, mà chỉ đọc thuộc lòng” (Những con người những năm tháng. Ngô Ngọc Ngũ Long. NXB Hội Nhà văn – 2017. Trg.96-97-98)

So-576--Anh-minh-hoa---Chu-quoc-ngu-va-tham-hoa-van-hoa---Anh-3
Alexandre de Rhodes.

Giáo sư Hà Minh Đức cho biết Cố GS. Đặng Thai Mai – người Thầy yêu kính của ông – khi hội họp thường dùng chữ Hán để ghi chép. Được hỏi, Giáo sư cho biết dùng chữ Hán thì số chữ ghi chép ít hơn mà nội dung hàm súc hơn. Trong các nhà văn Việt Nam có được bao nhiêu người như nhà văn Liệt sĩ – Anh hùng Chu Cẩm Phong, rất say mê câu của chí sĩ Trần Bích San, được chép trang trọng ở trang đầu Nhật ký chiến tranh: Văn vô sơn thủy phi kỳ khí / Nhân bất phong sương vị lão tài! Ngày nay những áng thiên cổ hùng văn của văn hóa dân tộc như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi… ít người đọc được bằng nguyên văn chữ Hán mà đều phải qua bản dịch. Khi thực dân Pháp bắt phải chấm dứt thi chữ Hán, năm 1919, thì, nói như Cố GS. Trần Văn Giàu, chữ Hán đã bị bức tử, đồng nghĩa với di sản văn hóa cổ truyền cũng bị bức tử mà nhà thơ Tú Xương đã kêu lên:

Thôi có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè ông Cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò!

Có tác giả biện hộ cho Cố Rhodes rằng các Cố đến truyền đạo trước khi người Pháp xâm lược Việt Nam khoảng 400 năm. Không phải các Cố dọn đường cho hành động xâm lược. Rằng không có tôn giáo thực dân mà chỉ có những kẻ lợi dụng tôn giáo vào mưu đồ thực dân. Nói như vậy chỉ đúng một nửa. Tôn giáo không thực dân về đất đai, lãnh thổ nhưng có “thực dân” về con người, về tinh thần hay không? Những cuộc Thập tự chinh thời Trung cổ có phải là biểu hiện tính chất “thực dân” của tôn giáo hay không? Nếu tôn giáo thực sự vô tư thì cần gì phải bành trướng tôn giáo, phải đi truyền đạo, phải đi chinh phục xứ này xứ kia. Nếu là một tôn giáo thực sự cao quý, cứu vớt được con người thì hữu xạ tự nhiên hương, bốn phương sẽ tìm đến. Huống gì ý đồ chinh phục các nước phương Đông mở rộng nước Chúa lại do chính Cố Rhodes khởi xướng khi gửi thư cho Hoàng đế Pháp xin cử cho ông những chiến sĩ để ông có thể chinh phục vùng đất xa xôi này. Mà tại sao Nhà thờ lại phải xin Nhà nước (Hoàng đế Pháp) chi viện cho việc chinh phục linh hồn con người ở những xứ sở xa xôi như vậy. Lẽ ra đấy là việc của Vatican và nếu Cố Rhodes có thỉnh cầu là thỉnh cầu lên Giáo hoàng. Đây là sự rất nhập nhằng giữa tôn giáo vô tư và tôn giáo thực dân. Có một thực tế là Nhà thờ không có chiến hạm, không có đội thương thuyền riêng. Các Cố muốn đến phương Đông truyền đạo cho nhanh chóng, phải dựa vào Nhà nước, vào các Hoàng đế. Đó là sự hợp tác, bắt tay, hai bên cùng có lợi. Nên rất khó rạch ròi giữa tôn giáo thực dân và tôn giáo không thực dân.

So-576--Anh-minh-hoa---Chu-quoc-ngu-va-tham-hoa-van-hoa---Anh-4

Ý đồ “thực dân” về tinh thần bằng công cụ ngôn ngữ – văn tự là chữ quốc ngữ, với Cố Rhodes, ban đầu chỉ là để cho việc biên soạn, truyền bá Kinh thánh, nay còn Phép giảng tám ngày là một minh chứng. Nghe nói tác phẩm tôn giáo bằng quốc ngữ đầu tiên này đang được lưu giữ trong một nhà thờ ở Việt Nam. Đang kêu gọi tài trợ bảo quản để không bị bán ra nước ngoài. Từ ý đồ của Cố Rhodes đến Trương Vĩnh Ký, người thừa hành trung thành, tận tụy, mẫn cán giữa Nhà thờ với Nhà vua Pháp và Nhà vua An Nam đã trở thành một chủ trương, đường lối hiện thực. Đó là dùng giáo dục để đồng hóa người Việt Nam theo văn hóa Pháp. Chính Trương Vĩnh Ký đã thừa nhận toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông là nhằm mục đích đồng hóa văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam theo văn hóa Pháp. Những giá trị học thuật của Trương Vĩnh Ký, như góp phần truyền bá chữ quốc ngữ, chỉ là ý nghĩa khách quan, không phải ý đồ chính của họ Trương. Chữ quốc ngữ trong tay họ Trương cũng như cây súng trong tay người lính. Trau chuốt hoàn thiện vũ khí cho một mục đích hành động là quy luật của đời sống con người. Như con dao trong tay người thợ rừng. Như cái cày cái cuốc trong tay người nông dân vậy thôi.

Rất tiếc là một chuyên gia văn học Pháp ở Khoa Ngữ văn Đại học KHXH&NV Hà Nội lại cho rằng không có chữ quốc ngữ làm sao có thể có được cuộc cách mạng trong văn hóa, văn học, trong đời sống xã hội. Một trăm năm Pháp thuộc đã tiến nhanh hơn cả nghìn năm Bắc thuộc… Một tác giả khác trên mạng cũng cho rằng không có chữ quốc ngữ thì không có giao lưu gặp gỡ văn minh phương Đông và phương Tây…

Đây thực sự là tâm lý nô lệ mà GS. Nguyễn Văn Trung gọi là tâm tình thuộc địa. Cái gì cũng là người Pháp khai hóa cho. Lại văn sĩ nói trước khi người Pháp đến, Việt Nam chưa có một mét đường ô-tô, xe lửa. Đúng quá. Nhà hát Lớn Hà Nội (làm năm 1911), cầu Đu-me (cầu Long Biên, làm năm 1902) hay Cảng Nhà Rồng, Tòa Đốc Lý (Thành phố Hồ Chí Minh)… là do người Pháp làm cả đấy chứ. Nhưng tiền và công sức là của dân Việt Nam đấy. Chính Toàn quyền Pôn Đu-me đã thừa nhận xứ Đông Dương phải vay của chính quốc bao nhiêu trăm triệu Phật-lăng để làm cầu cống, đường sắt. Cũng không phải dành cho người Việt Nam mà, chính Đu-me nói người Pháp phải giữ lấy những đất đai ở Đông Dương và Nam Trung Hoa mà họ “khai thác” được và phải đưa người Pháp sang sinh sống, sinh đẻ, phát triển nòi giống Pháp ở Đông Dương vì khí hậu ở Côn Minh (Nam Trung Hoa), Xiêng Khoảng (Lào), Đà Lạt (Việt Nam)… rất giống ở Pháp, hợp cho người Pháp sinh sôi nảy nở (Pôn Đu-me. Xứ Đông Dương. Hồi ký. NXB Thế giới – 2018).

Người Việt Nam sao lại chỉ nhờ có chữ quốc ngữ mới được như thế. Xin các Thầy nhớ lại phong trào Duy tân, Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ trước; xin nhớ lại Tân thư và phong trào tìm đọc Tân thư của sĩ phu Việt Nam. Bài Văn minh tân học sách do Đông Kinh nghĩa thục phổ biến là bằng chữ Hán đấy. Tác giả Nhân đạo quyền hành, Cụ Hồ Phi Thống, nhạc phụ của GS. Đặng Thai Mai, một bậc Hán học thông Thiên – Địa – Nhân, nhờ đọc Tân thư mà hiểu được triết học phương Tây, và chính Phạm Quỳnh cũng phải thừa nhận các nhà Nho Việt Nam qua đọc Tân thư rồi dịch sang tiếng Việt mà có các từ ngữ mới (Thượng Chi văn tập). Và hãy nhìn rộng ra một chút. Người Trung Hoa từ Tân thư từ Lương – Khang (Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi) đến nay; người Nhật Bản từ Duy tân đến nay. Ngay cả hai miền Triều Tiên hiện nay, có nhờ chữ quốc ngữ không mà họ tiếp thu văn minh phương Tây thành công đến như vậy.

Rõ ràng chữ quốc ngữ là một lợi khí. Nhưng lợi khí như thế nào là do con người sử dụng nó. Văn hóa Hán – Nôm đã đạt tới đỉnh cao nhân loại với Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Và những danh nhân văn hóa dân tộc từ Chiếu dời đô (1010) đến Ngục trung nhật ký (1943); những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Văn Hưu, Lê Quý Đôn đến Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu và về sau này, chứng tỏ rằng con người sử dụng văn tự là quyết định. Chữ viết hay đến đâu cũng là nhờ con người cầm bút, cho nên đừng nhìn một chiều. Bút lông hay bút sắt, chữ Hán hay chữ quốc ngữ. Vấn đề là viết ra cái gì. Chuyện đó ai mà chẳng biết. Xã hội Việt Nam được như hôm nay để bàn về chữ quốc ngữ và công lao của các Cố Rhodes, Pina… là nhờ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công, nước được độc lập. Người Việt Nam dùng công cụ văn hóa là chữ quốc ngữ để xây dựng văn hóa Việt Nam. Nó khác với chữ quốc ngữ của Cố Rhodes , của Trương Vĩnh Ký, của Phạm Quỳnh… Giá trị công cụ của chữ quốc ngữ là có tính khách quan, là mặt đối lập trong khối mâu thuẫn thống nhất. Từ ý đồ truyền giáo và xâm lược trở thành vũ khí của phía đối lập nay đã trở thành chủ đạo, chủ thể. Đó là sự phát triển hợp quy luật triết học và lịch sử mà con người Việt Nam với lý tưởng Độc lập – Tự do là động lực chính. Chỉ tán dương vũ khí quốc ngữ mà tách rời chủ thể động lực quyết định lịch sử chữ quốc ngữ là chỉ nhìn thấy giò chả mà không nghĩ đến nuôi heo. Đó là cái nhìn phiến diện, siêu hình. Vì thế không thể đạt được sự đồng thuận trong xã hội. Cất công sang tận xứ Ba Tư viếng mộ Cố Rhodes sao bằng tưởng nhớ đến những con người đã dùng cả chữ quốc ngữ lẫn chữ Hán làm vũ khí đấu tranh giành lại mảnh đất sống cho mình hôm nay. Hóa ra uống nước nhớ nguồn cũng lắm điều hay!

Công dụng của chữ quốc ngữ là không thể phủ nhận. Dù là ngoài ý đồ truyền giáo vô tư thì cũng phải thừa nhận thiên tài ngôn ngữ học của Cố Rhodes ở chỗ đã phân biệt được âm độ của tiếng Việt và ký hiệu hóa nó bằng các dấu. Từ có đủ đến cho đụ mà không nhờ Cố Rhodes thì thành án mạng. Chính Phạm Quỳnh cũng phải phiên âm Đu Me mà người phường Cờn có thể đọc ra Đù Mẹ thành Đô Mỹ (Cầu Đô Mỹ tức cầu Đu-me, tức cầu Long Biên). Vì thế, cho dù chữ quốc ngữ là một thảm họa không thể hoán cải (Cao Xuân Hạo), ta cũng nên tưởng nhớ công lao của các Cố. Nhưng không phải xếp các Cố ngang với các danh nhân văn hóa dân tộc bằng cách dựng tượng hay đặt tên đường. Chúng tôi đã từng kiến nghị, nên xây dựng Bảo tàng chữ quốc ngữ với quy mô quốc gia. Trong đó, có chỗ tôn vinh Cố Rhodes và các Cố khác một cách đúng mức. Biết người biết ta. Có lý có tình. Không nên tự xỉ vả và xỉ vả lẫn nhau là vô ơn, bạc bẽo này kia nếu không dựng được tượng cho các Cố. Công của các Cố là to lớn nhưng tội của các Cố còn to lớn hơn. Gây ra một thảm họa cho văn hóa dân tộc Việt mà hậu quả còn hiện tiền hôm nay đâu phải là chuyện nhỏ. Bao nhiêu xương máu của dân tộc mới có được chữ quốc ngữ của người Việt hôm nay, sao lại chỉ biết cúi đầu trước những người đã khởi đầu cho thảm họa văn hóa dân tộc!

(Còn tiếp)

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 576

Ý Kiến bạn đọc