Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Chú giải Truyện Kiều của hội kiều học

Xin có một vài thiển ý về việc chú giải gửi tới Quý Ban văn bản Truyện Kiều và bạn đọc quan tâm về quyển Truyện Kiều do Hội Kiều học vừa xuất bản (NXB Trẻ lưu chiểu Quý IV – 2015).

1. Chú giải những chỗ không cần phải chú

Phần này là phổ biến trong toàn bản sách. Có rất nhiều trang có đến 6 hay 7 chú giải nhưng xem vào thì chỉ đáng chú một vài. Như trang 167 từ câu 1.177 đến câu 1.192 có 7 chú giải thì chỉ đáng chú giải chữ Thị hùng ở câu 1.178. Ở phần cuối truyện trang 431, từ câu 3.241 đến câu 3.254 có 6 chú giải thì cả 6 chú giải này đều không cần. Ở trang 21 từ câu 103 đến câu 118 có 7 chú giải thì chỉ đáng chú câu 106, mấy chữ người đời sơ. Trang 61 từ câu 369 đến câu 384 có 12 chú giải thì chỉ đáng chú mấy chữ thưa hồng rậm lục ở câu 370. Trang 215 từ câu 1.543 đến câu 1.558 có 5 chú giải thì đều không cần. Trang 267 từ câu 1.955 đến câu 1.970 có 5 chú giải thì cũng không cần chú giải nào.

Tro-nhu-da-vung-nhu-dong---Tranh-HS-Ngoc-Mai
Trơ như đá vững như đồng – Tranh : HS Ngọc Mai

Ngoài những trang dẫn trên, xin nêu các trường hợp khác:

- Bộ hành, câu 46: Người đi bộ.

- Nửa chừng xuân, câu 66: Đương thì tuổi trẻ.

- Câu 1.775: Tai vách mạch rừng, do câu tục ngữ “Rừng có mạch vách có tai”, ý nói những điều bí mật dễ bị người khác nghe được, lọt ra ngoài thì sẽ nguy hiểm.

- Câu 1.969: Giông tố: cơn mưa to gió lớn.

- Câu 3.183: Tâm phúc: lòng dạ.

- Câu 3.184: Tương tri: hiểu nhau, biết nhau.

- Câu 3.248: Chữ tài: tài năng; chữ tai: tai ách, tai nạn.

- Câu 3.251: Thiện căn: gốc của điều thiện.

- Câu 1.667: Di hài: hài cốt người chết còn lại.

- Câu 1.614: Hải đạo: đường biển.

- Câu 1.462: Là lý (ngoài thì là lí song trong là tình): chỉ pháp luật, đạo lý.

- Câu 534: Hộ tang: lo liệu tang ma.

- Câu 1.187: Phụ tình: phụ bạc, phản bội tình yêu.

2. Đã không đáng chú lại chú sai

Ngay câu 1.462 nói trên, chữ lí ở đây không thể chú là đạo lí. Đạo lí là nằm ở chữ tình, không vào chữ lí (pháp luật).

- Vắt nóc (câu 950): ngồi vắt chéo chân ở chỗ cao nhất trên giường. Ý chỉ quyền uy hống hách của mụ Tú Bà.

Hiểu sai nên chú sai. Ngồi vắt nóc… là chỉ bộ dạng của loại người tai quái nanh nọc. Cái cách ngồi hiện ra cái chất người. Không thể gọi bộ dạng Tú Bà là quyền uy hống hách. Một học giả hiện đại cũng có thể có giọng quyền uy. Một tay chánh tổng hiện đại cũng phong độ hống hách lắm. Mà cũng không nhất thiết ngồi vắt chéo chân là ngồi vắt nóc. Vắt chéo khác vắt nóc! Và ở trên giường sao lại còn chỗ cao nhất?

- Mèo mả gà đồng (câu 1.731): thành ngữ. Mèo hoang ở bãi tha ma, gà tha thẩn ngoài đồng vắng, chỉ loại người lang thang, vô giáo dục.

Như thế là chưa hiểu câu thành ngữ và hàm nghĩa của nó. Dân gian lấy tính chất của con vật hoang để hàm ý chỉ tính cách một loại người. Mèo, gà đã đi hoang thường tinh quái (mèo già hóa cáo)… Đây hàm ý tai quái gian trá. Chú như trên là sai. Câu này sẽ phân tích sâu hơn ở phần phong cách văn chú giải.

- Thân lươn bao quản lấm đầu (câu 1.147): do câu thành ngữ «Thân lươn chẳng quản lấm đầu». Lươn là cá nước ngọt, sống trong bùn. Nghĩa là đã sống nơi bẩn thỉu, thấp hèn thì sợ gì phải làm việc xấu xa, mất tư cách. Ý nói Kiều chịu làm gái lầu xanh.

Lươn là cá nước ngọt, sống trong bùn thì như đánh đố người đọc. Hãy viết như thế này xem có được không: Lươn là loài sống trong bùn. Lời chú giải tiếp theo cũng không đúng ý câu thành ngữ, không đúng cảnh ngộ của Kiều. Thành ngữ không nói lấm đuôi hay lấm thân là có ý. Con lươn chui nhủi trong bùn nhờ cái đầu của nó. Đã phải chui nhủi trong bùn thì còn quản gì lấm đầu. Kiều đã bị lừa, bị đẩy vào cảnh ngộ đó thì còn dám giữ gìn riêng tư gì nữa. Nguyễn Du mượn cảnh tượng của thân phận con lươn mà nói cảnh ngộ của Kiều. Cho rằng đã sống ở nơi bẩn thỉu, thấp hèn thì sợ gì phải làm việc xấu xa mất tư cách… là rất sai tinh thần văn bản. Nguyễn Du viết là «xin chừa» sao lại chú là sợ gì phải làm việc xấu?

- Nghĩ rằng «giận ghẻ hờn ghen» (câu 1.609): giận vì bị ghẻ lạnh, hờn dỗi vì ghen tuông.

Có phải là chữ được phục nguyên không? Câu thành ngữ ngứa ghẻ hờn ghen thiết tưởng cũng không phải chú vì đã quá quen thuộc. Nhưng chú giải câu thơ của Nguyễn Du như trên thì còn hời hợt quá. Bởi chữ giận có nhiều cách nhiều mức chữ hờn trong tiếng Việt rất hay, rất nhiều cách dùng. Hờn dỗi thì còn nhẹ lắm. Hờn, khóc hờn (trẻ con) hờn dỗi, bã hờn, hờn giận, hờn căm… đến hờn ghen thì khủng khiếp lắm. Xưa nay bao nhiêu án mạng từ nhẹ đến tàn bạo man rợ bởi hờn ghen: Đánh thuốc độc, tạt axít, rạch mặt, thuê côn đồ đâm chém… Cũng như gãi ghẻ, người bị ghẻ mà đến giờ ghẻ ăn, tầm nắng lên… thì khiếp lắm. Khổ sở lắm, càng gãi càng ngứa, loét da chảy máu vẫn càng ngứa thêm. Hờn ghen cũng vậy, trò đánh ghen xưa nay chẳng hay ho gì, chỉ để cho thiên hạ đàm tiếu. Hoạn Thư rất biết điều đó. Đọc câu tiếp thì rõ lắm: Hổ chàng mà có ai khen chi mình… Ả ngảnh mặt làm thinh nhưng đã có mưu cao ác nghiệt làm cho Kiều phải «bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay…».

Sự phục nguyên từ ngứa ghẻ thành giận ghẻ. Như vậy làm cho ý thơ trong văn bản (chưa phục nguyên) trở nên nhẹ bẫng đi.

3. Chú rất vô lí

Câu 1.531: Duyên Đằng: duyên may mắn. Do tích Vương Bột từ Đằng Vương các sang Giao Chỉ, nhờ thuận gió mà chỉ một ngày đêm đã đến nơi…

Vậy thì Đằng Vương các ở vào khoảng nào? Giao Chỉ ở vào khoảng nào? Thuận gió, một ngày đêm thuyền vượt biển được bao dặm? Chú như thế cũng như không chú.

Xin dẫn để bạn đọc tham khảo. Trong Toàn tập Nguyễn Du, ấn phẩm kỉ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du do Mai Quốc Liên – Nguyễn Minh Hoàng biên khảo, cùng xuất bản trong năm 2015 – ở tập 1 trang 155 chú: Duyên Đằng: do điển Vương Bột (648-675) người đời Đường, khi đang ở Giao Chỉ đi thăm cha ở gác Đằng Vương, dựng trên cửa sông Chương (Giang Tây) bằng thuyền buồm, đường biển rất xa nhưng nhờ thuận gió nên kịp đến dự tiệc và làm bài Đằng Vương các tự nổi tiếng. Tô Đông Pha đời Tống có câu «Thời lai phong tống Đằng Vương Các» (Gặp thời gió đưa tới gác Đằng). Văn học trung đại Việt Nam rất nhiều truyện Nôm theo điển này để chỉ duyên may: Đưa duyên nhờ gió gác Đằng/ Đành ra con tạo nhắc bằng đồng cân (Trinh thử). Gác Đằng Vương mấy dặm khơi/ Có duyên đành đã gió trời thổi đưa (Bích câu kỳ ngộ).

Câu 726: Keo loan: loại keo (giao) nấu bằng máu chim loan, nối dây đàn rất bền. Đào Cốc đời Tấn có làm bài ca từ gửi cho người yêu: Tỳ bà bát tận tương tư điệu, tri âm thiểu, đãi đắc loan giao tục đoạn huyền, thị hà niên» (Đàn tỳ bà đã gẩy hết khúc tương tư, người tri âm ít, đợi được keo loan để nối dây đàn đứt, biết là năm nào?)…

Máu chim mà nấu được keo là sự lạ. Vì máu huyết động vật khi ra không khí sẽ đông lại. Mà nấu chín thì thành cục thành tảng. Nấu nữa thì cháy thành than… người Việt biết nấu keo từ da trâu (keo trâu) ngưng da khác máu.

Xin bạn đọc tham khảo trong Nguyễn Du toàn tập, điển này được chú: Keo loan chữ Hán (… chúng tôi không chép phần chữ Hán), loan giao: Trong truyền thuyết cổ đại, có một thứ keo làm bằng mỏ con chim phượng hoàng (chim loan) và sừng con kỳ lân. Nấu nhừ thành cao, dùng để dán dây đàn hoặc dây cung bị đứt, dính lại như mới. Hán Vũ ngoại truyện (…) viết: Tây hải tiến loan giao. Vũ Đế huyền đoạn, dĩ giao tục chi, huyền lưỡng đầu toại lưỡng trước. Chung nhật xạ, bất đoạn. Đế đại duyệt» (… chữ Hán). (Tây Hải dâng hiến keo loan. Cung của Vũ Đế đứt, lấy keo nối lại, hai đầu dây cung bám chặt nhau. Suốt ngày bắn không đứt. Hán Vũ Đế vô cùng thích thú. Đào Cốc (…) thời Hậu Chu (… 951-959) trong Phong quang hảo có chép câu: Tỳ bà bạt tận tương tư điệu, tri âm thiểu. Đãi đắc giao loan tục đoạn huyền, thị hà niên?). (Đoạn dịch như bản trên nên không chép lại).

Nói thêm: Bài ca từ là thế nào? Nghĩa hiện đại, ca từ là phần chưa phổ nhạc của một ca khúc. Đời Tấn đã có bài ca từ ư? Chữ bát tận và bạt tận có khác nhau không?

Buồm gió lèo mây (câu 1.623): Buồm và dây lèo. Gió mây là cách nói cho đẹp, buồm căng để đón gió, dây lèo buộc vào đỉnh cột buồm cao như buộc vào mây.

Chú như thế là chưa hiểu cả câu thơ của Nguyễn Du lẫn sự vật cụ thể là cái buồm của thuyền buồm.

Đã biết đặc trưng của văn học trung đại mà rất rõ ở Truyện Kiều là tính ước lệ. Các điển dù cụ thể đều mang tính ước lệ. Giải cái ước lệ ra cái cụ thể là tình hình chung của bản Truyện Kiều này.

Buồm gió lèo mây không phải để nói cho đẹp mà là cách nói ước lệ, nói sự sắm sanh chuẩn bị thuyền buồm cho thật chu đáo, thật tốt. Phương tiện vật dụng phải chuẩn bị đã đành mà đám người đi bắt Kiều (Khuyển, Ưng lại chọn một bầy côn quang cũng được dặn dò chỉ bảo, nói như bây giờ, là từ đầu chí cuối, từ A đến Z… Nguyễn Du đã viết rất rõ: Dặn dò hết các mọi đường (câu 1.625). Lại càng thấy Hoạn Thư cao mưu như thế nào! Đúng là Nói điều ràng buộc thì tay cũng già (câu 1.534).

Người chú giải chưa hiểu đầy đủ về cây buồm. Buồm căng để đón gió! Dân chài không nói thế. Nếu trời nổi gió, mà thuận, thì nói căng buồm, kéo buồm, dương buồm… Ngược lại là hạ buồm, cuộn (cuốn) buồm. Còn buồm căng tức đã no gió rồi, đón gió gì nữa.

Dây lèo là bộ phận quan trọng nhất của cây buồm, để điều chỉnh hướng gió, lượng gió cho tối ưu. Thường nói lèo lái là có ý ấy. Cũng như nói chèo chống… Dây lèo buộc vào sào buồm. Còn dây gì buộc vào đỉnh cột buồm để dành phần cho Quí ban. Xin hỗ trợ một địa chỉ: ông Ngói, một ngư dân lão luyện ở vùng biển Sầm Sơn có thể cho biết rất nhiều chuyện về thuyền bè sông nước tôm cá. Ông là hội viên Hội Văn nghệ Thanh Hóa, số điện thoại di động 0983 753 377. Qua ông Ngói, quí vị biên soạn Ngữ văn 9 sẽ rõ cá thu cá song ở tầng nước nào vùng nước nào. Thuyền ra khơi bao nhiêu sải thì chỉ còn trời với biển, thấy được mặt trời xuống biển như hòn lửa!

- Chín chữ cao sâu (câu 1.253). Đặc sắc của lời chú câu này là chú ra thành… mười chữ: Đây là nguyên văn lời chú: Chín chữ cao sâu: chỉ chín chữ: sinh (mang thai), cúc sinh (đẻ ra), cúc (nâng niu), phủ (vỗ về), súc (bú mớm), trưởng (nuôi lớn), dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục (săn sóc), phúc (che chở). Chín chữ mà đếm đi đếm lại vẫn là mười chữ. Xem trong Nguyễn Du toàn tập thì điển này lấy trong Kinh Thi, có chín chữ: sinh (sinh đẻ), cúc (nâng đỡ, nuôi nấng), phủ (vuốt ve, chiều chuộng), súc (cho bú), trưởng (nuôi lớn), dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục (theo tính nết mà dạy), phúc (che chở)…

Tính từ khi sinh ra chín chữ là cao nhất rồi. Nếu lại tính từ khi mang nặng… (mang thai) thì mười chữ sao đủ. Thì phải theo người Việt: cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể/ con nuôi cha mẹ con kể từng ngày…

Thêm bớt một chữ mà sinh ra nhiều chuyện như vậy đó!

Vâng, ngoài bốn trăm (câu 648): Chịu mua với giá bốn trăm lạng bạc. Nhiều bản quốc ngữ chú là vàng (vàng ngoài bốn trăm), không rõ theo bản Nôm nào?

Hai điều đáng lưu ý:

Lẽ ra, quí ban phải làm rõ câu hỏi này. Bản quốc ngữ nào ghi là vàng? Những bản đó căn cứ vào đâu?

Trong phép chú giải được để tồn nghi nhưng không được đặt ra câu hỏi với người đọc hay là hỏi chung chung.

Sư tử… rống (câu 1.350).

Tích hàm sư tử: chỉ người vợ có tính dữ tợn như sư tử. Sách Nam sử chép chuyện Trần Quí Thường có vợ họ Liễu, tính ghen dữ dằn, hay quát mắng chồng. Tô Đông Pha làm bài thơ bỡn bạn có câu: Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống/ Gậy chống buột tay lòng hoang mang…

Chưa thấy đâu viết sư tử rống chỉ có khóc rống (người)… Còn sư tử thì phải là gầm lên.

Nguyễn Du toàn tập chú tích này:

Sư tử: Sư tử Hà Đông tức là vợ dữ, lấy ý từ câu thơ của Tô Đông Pha chế ông bạn sợ vợ: «Hốt văn Hà Đông sư tử hống/ Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên» (Bỗng nghe sư tử Hà Đông gầm/ Chiếc gậy chống trời rời khỏi tay, tâm thần hoảng hốt).

Do đọc chữ hống mà phiên ngay ra chữ rống chăng?

Đá thử vàng?

Đá biết tuổi vàng (câu 363): đá là thứ dùng để thử vàng. Tuổi vàng: độ tinh chất của vàng. Ở đây nói đã biết lòng thật của nhau.

Một lời chú ngắn mà ngẫm ra không ngắn.

Xưa nay chỉ nói lửa thử vàng: Lửa thử vàng gian nan thử sức, vàng này chẳng phải thau đâu/ Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng. Trong các tiệm kim hoàn mà thử vàng thì phải dùng lửa. Đá biết tuổi vàng là hai bên đã biết lòng nhau, đã phải lòng nhau. Đây là đá đấy là vàng… nên tình càng thắm thía dạ càng ngẩn ngơ… Cũng có câu ca dao: Lên non chọn đá thử vàng/ Thử cho đúng lượng mấy ngàn cũng mua… thì đây là nghĩa bóng, ý nói quyết đi tìm cho được người mình yêu.

4. Điển cố tân trang

Đây cũng là tình hình phổ biến của chú giải ở bản Truyện Kiều này. Các lời chú quyền uy hống hách của mụ Tú Bà (câu 950), loại người lang thang, vô giáo dục (câu 1.731), bài ca từ (câu 726) đã nói trên đều là âm hưởng hiện đại hóa.

Tích Hợp Phố… châu về (câu 306) cũng được tân trang như thế: Hợp Phố là nơi nuôi ngọc trai gần Giao Chỉ. Do thái thú tham lam, khai thác vô độ, ngọc trai chuyển sang Giao Chỉ. Sau đó ông quan khác đến, thay đổi chính sách, châu ngọc lại trở về Hợp Phố…

Tân trang ở chữ nuôi. Bây giờ ở Hợp Phố gần bãi biển Ngân Than – Quảng Tây – Trung Quốc là trung tâm nuôi và chế tác ngọc trai. Tour du lịch nào đi Nam Ninh (Quảng Tây) đều phải «dừng lại» nơi này. Nhưng từ Nguyễn Du trở về trước đến Thanh Tâm Tài Nhân, đã có công nghệ nuôi ngọc trai ở đây chưa? Ngọc trai chuyển sang Giao Chỉ thì ai nuôi? Và chữ thay đổi chính sách… nữa 

Muốn hiểu tích này phải xem Mạnh Thường truyện trong Hậu Hán thư, theo chú giải của Nguyễn Du toàn tập.

5. Chú như hủ nút

Khắc canh (câu 778): «Khắc» là mười lăm phút, một đêm chia ra «năm» canh, khắc canh là thời gian ban đêm. Khắc lậu (câu 1.119): Đồng hồ đo thời gian xưa là cái bình đựng nước (hồ) bằng đồng có lỗ thủng nhỏ cho nước rỏ giọt xuống (lậu). Nước vơi dần đến khắc vạch nào thì biết thời gian tương ứng.

Ở cả hai câu, cần phải chú giải khắc canh là gì khắc lậu là gì. Người Việt bình thường không hiểu được câu «Khắc là mười lăm phút, một đêm chia ra năm «canh» mà chắc chắn Tây cũng không hiểu được. Còn nói Khắc canh là thời gian ban đêm thì thời gian ban ngày gọi là gì? Nói thời gian ban đêm thì cụ thể vào giờ nào canh nào khắc nào. Còn nói tương đối đã có các câu: đầu hôm, nửa đêm, đầu sáng, nửa đêm về sáng, gà gáy, gà gáy lần đầu, lần hai, lần ba…

Cũng thế, cần giải cho rõ chữ khắc lậu chứ không cần miêu tả cái đồng hồ hay truy tìm gốc chữ lậu.

Khắc canh hay khắc lậu đều là chỉ thời gian nói chung, không cần phải chú. Mà chú thì không phải dài dòng như thế. Khắc canh ở câu trên có nghĩa là lầu phía Nam (Nam lâu) đã điểm canh mấy lần. Khắc lậu ở câu dưới nghĩa là đã gần tàn đêm, hết đêm (khắc lậu canh tàn)…

Kiểu chú giải này còn gặp ở câu 2.494: Ngày xưa quân Trung Quốc đánh trận Hung Nô ở vùng này nên xương người chất thành đống… Không rõ thời rợ Hung Nô tràn vào Trung Nguyên thì đã có Trung Quốc chưa? Mà nếu có thì phải là quân Trung Quốc đánh quân Hung Nô trong trận chiến ở Vô Định…

6. Câu thơ hay chú thành… mất hay

Thành xây khói biếc (1.604): Khói đất màu biếc xông lên che ngút thành, trông xa như thành xây bằng khói. Non phơi bóng vàng: Núi non phơi trong nắng vàng mùa thu hoặc là núi mùa thu lá đều úa vàng trong ánh nắng. Đây tả lòng sung sướng của Thúc Sinh khi được về với Kiều.

Câu này thiết tưởng không phải chú. Mà chú như thế thì… khói đất nghĩa là gì? Mà khói đất xông lên che ngút thành thì tưởng tượng quá xá. Người ta chỉ nói hơi đất, hơi nước. Đêm đất tỏa nhiệt bốc hơi đọng lại trên lá cây ngọn cỏ thành sương hoặc khí trời giá lạnh gặp hơi nước bốc lên, cùng độ ẩm trong không khí tụ lại thành sương, sương mù, sương muối, sương giá… Câu này phải gắn với câu trên long lanh đáy nước in trời thì bạn đọc thả sức tưởng tượng không cần phải chú.

7. Chú sai đầy mâu thuẫn

Câu xin cho thiển thổ một doi (2.561) chú là: Thiển thổ: mảnh đất nông, lời thỉnh cầu khiêm tốn của Kiều. Doi: dải đất nhô ra ở bãi sông, bờ biển…

Mảnh đất nông nghĩa là thế nào? Nói mảnh đất chỉ nói cao, thấp, rộng, hẹp, dài, ngắn… còn nói mảnh ruộng thì nói cao hay sâu, rộng hẹp, tốt, xấu… Mảnh đất nông là vô nghĩa.

Chữ doi cũng chú chưa đúng. Doi trong tiếng Việt có rất nhiều nghĩa, xin dành lúc khác. Nhưng Kiều thỉnh cầu khiêm tốn xin một doi đất. Mà chú doi như thế thì không phải khiêm tốn. Dải đất nhô ra ở bãi sông bờ biển thì rộng lắm.

Chữ kiểu táng: còn đọc cảo táng, bọc chiếu mà chôn. Nếu dùng chiếu thay quan tài (hòm) thì không gọi là bọc, mà gọi là bó (bó chiếu). Cảo táng, theo Nguyễn Du toàn tập, thì cảo là cỏ khô, cảo táng là bọc thây vào cỏ khô mà chôn.

8. Chú rất sai về tri thức cụ thể

Câu 2.854: Dường như bên chái trước thềm chú «chái» là gian nhà nhỏ lợp một mái tiếp vào đầu hồi, «thềm» là phần nền trước cửa nhà, có mái che nhưng thường không có cột đỡ…

«Chái» không đơn giản như vậy.

Gian «chái» có rất nhiều kiểu cách. Đối với nhà nghèo, nhà gianh, làm gian chái bớt được vật liệu, không cần thêm cả vì cột, mái cũng chỉ cần một nửa (bán mái). Thường một gian hai chái hoặc ba gian hai chái. Nhà khá hơn không làm gian chái nhưng vẫn làm mái chái để bảo vệ hồi nhà khỏi mưa nắng. Làm gian chái tuy nhỏ mà khó. Tục ngữ: Trai lợp chái gái vá vai.

Thềm nhà thì không phải như lời chú. Thềm là phần nền từ chân ngạch ra mép hè (giọt gianh) và chạy dài suốt ngôi nhà, không phải chỉ ở gian trước cửa. Thềm nhà còn gọi là hiên nhà, hè nhà, rộng hẹp tùy vào chiều cao và chiều rộng của ngôi nhà. Nhà gianh thường không làm cột hiên. Nhưng cũng có nhà muốn có thềm hè rộng thì làm thêm hàng cột. Nhà giàu thường có ba chuồng cửa bức bàn, thềm hè rộng. Ngày lễ Tết, rải chiếu dọn mâm… hoặc dựng rạp tiếp từ mái hiên ra sân. Gian cửa chính (gian giữa) từ thềm xuống sân thường xây ba bậc (thềm tam cấp).

Thềm lan vách quế, hiên lãm thúy, dưới mái tây hiên, ngoài thềm rơi chiếc lá đa… đều là chỉ thềm nhà.

Kể cụ thể thì còn nhiều lắm. Xin tóm lại mấy điều về sự chú giải ở bản này:

* Chưa thật sự quán chiếu tính ước lệ của Truyện Kiều để hiểu và chú giải. Khuynh hướng phổ biến là cụ thể hóa cái ước lệ. Vì thế, càng cụ thể, càng dễ sai.

* Còn nặng về giảng văn, giáo trình giáo án trong việc chú giải. Chẳng hạn câu rường cao rút ngược dây oan (câu 593) không cần phải chú thêm là… bị treo ngược lên xà nhà, dốc đầu xuống dưới để hành hạ, ép cung nhận tội oan ức, hoặc gia đình Vương Ông bỗng nhiên bị mắc bẫy, bị bọn quan lại bắt buộc phải theo chúng… (câu 586).

* Còn hổng rất nhiều về tri thức để chú giải như dây lèo, thềm nhà, khói đất… sai những chỗ rất đơn giản.

* Văn chú giải đòi hỏi gọn, rõ, chính xác, xác đáng, cân nhắc từng chữ. Chẳng hạn: nói lĩnh vực ăn chơi trai gái (trong câu 808: Miền nguyệt hoa), lươn là cá nước ngọt, quân Trung Quốc đánh trận Hung Nô, khắc là mười lăm phút, đêm chia làm năm canh, Hợp Phố là nơi nuôi ngọc trai… mảnh đất nông, bọc chiếu… đó không phải là văn chú giải.

Về lý thuyết, nguyên tắc viết chú thích trong Lời nói đầu đã rất hay, rất rõ. Nhưng trong thực tế lại khác. Vẫn biết từ lý thuyết đến việc làm có một khoảng cách. Chỉ hiềm về cái khoảng cách ở đây lớn quá! Hay là Quý Ban giao cho học trò làm mà không xem lại. Chứ phàm là… Chân thành gửi đến Quí Ban đôi điều, mong được hạ cố.

T.B: Với bạn đọc trong nước thì dễ cảm thông, khắc phục. Nhưng với bạn đọc nước ngoài, với khách quốc tế đã được tặng bản Kiều sai thì làm sao đây? Nếu lại gửi tiếp bản Kiều này với chú giải như thế thì các con rê cụ sẽ hiểu, sẽ tiếp nhận Nguyễn Du và Truyện Kiều ra sao???

Đồng Nai thượng, tháng 1/2016

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 392

Ý Kiến bạn đọc