Tản văn

Chợ sớm

Không biết tự bao giờ, tôi yêu những buổi chợ sớm như thế. Rau, cá tươi xanh thì hẳn rồi. Nhưng có cái gì đó thân thương hơn… À, đó là những nụ môi chào mời của các bà chủ hàng, tươi tắn lắm. Và ánh mắt của các bà sao tha thiết quá. Như là để mong người mở hàng “mát tay” cho mớ hàng của mình mua mau bán đắt vậy. Chợ sớm, cũng không phải kì kèo trả giá, cũng không phải lật qua lật lại tới giập bầm cọng rau con cá… Vì cứ tươi xanh, giòn kháu và xoi xói trên mâm…

Nào cá cơm, cá dứa, cá chốt, cá rô ron, cá con, ròng ròng, tép rong… Ôi bao nhiêu là đôi mắt trong veo không biết chớp ấy, cứ quây quẫy đuổi nhau trong chiếc thau màu nhôm trắng bạc.

Nào nấm bào ngư, nấm rơm, đọt bí bầu, cứ mịn màng như làn da em bé. Rồi những quả bí đao còn đầy lông măng, những quả bầu đất còn lem nhem màu đất mẹ, những quả ổi vườn còn vệt trắng nhờ nhờ rệp sáp…

Những ngày không phải đi làm sớm, tôi cứ phải ra chợ khi chưa đến 7 giờ, để nghe câu chào mời của dì Ba, chị Bảy, em Sáu, thím Tư, mợ Út, cô Hai… Rồi mê đắm ánh nhìn chìm vào trong những thúng rau đắng đất, dền cơm, đọt bầu, tai tượng, đậu rồng, bông bí… để nghe yêu thương tràn ngập chợ quê.

Chợ quê này đã bao lần thay đổi, nhưng sao tôi cứ nhớ tuổi 12 cùng gánh bánh canh của mẹ mỗi ban mai. Mẹ gánh nồi nước lèo kẽo kẹt phía trước, trên vai là chiếc đòn gánh đã mòn hai mấu mà vẫn chưa có dịp thay mới. Còn tôi xách xô nước theo để ra tới chợ giao cho mẹ. Xong rồi mới được đến trường. Bộ quần áo học sinh có khi bị nước sánh đổ ướt nhèm. Nhớp nháp nước mưa đêm qua, hoặc cũng có thể nổi một bãi sình vì nước rau tưới ra, nước rộng cá mà người chủ hàng đổ.

Chợ quê hồi đó đơn sơ lắm, không có hệ thống cung cấp nước sạch như bây giờ. Mấy cô bán sương sâm bánh lọt, bà bánh canh cháo lòng hay thím khô cá, hàng bông… đều phải xách nước từ nhà theo, để sử dụng.

Chợ quê nên cái gì cũng quê và người bán buôn, người đi chợ cũng hiền như gái quê. Không có chuyện nói thách nói trả. Không có đồ ôi thiu ướp hóa chất “hô biến” thành đồ tươi. Chợ quê nên món nào cũng tươi ngon mơn mởn. Hai bó rau muống đổi vài trăm gram cá bã trầu. Nắm tép rong đổi chục trái điều để nấu nồi canh chua cho cồn cào bao tử. Và quan trọng, chợ quê chỉ họp một buổi sáng. Từ 4 – 5 giờ sáng, tới 10 giờ là xem như chợ vãn.

Ai “hên” được người mở hàng mát tay thì tầm 8 giờ đã thấy sạp hàng vơi một nửa, ai “xui” thì 10 giờ vẫn còn tú nụ mâm xửng nồi niêu là xem như cả nhà ăn đến phát khóc.

Mẹ tôi cũng có những buổi chợ ế phải mang cả nồi bánh canh về như thế. Ế… thường là tình hình chung nên chẳng ai nài ép được ai, bởi hàng rau cá, bánh quà gì cũng ế như nhau.

Đó là những ngày mưa sùi mưa sụt.

Nhà 5 con, ba tôi làm công trình xây dựng xa lâu lâu mới về. Ngày ba về là ngày hội của gia đình bởi sẽ có rất nhiều quà bánh đi theo. Bánh in, kẹo bí, bánh còng, kẹo kéo… là những thứ bánh kẹo thường xuyên ngày đó. Ba mang về cho bầy con kèm “hiện kim” sẽ thưởng công cho đứa con nào trong 1-2 tháng qua giỏi nhất.

Những ngày ba vắng nhà, cái ăn dồn lên vai mẹ. Nồi nước lèo 10 lít cho 5 ký bánh thôi, nhưng cũng đủ oằn vai. Mẹ tôi như con cò gầy quanh năm lò dò góc ao nuôi lứa con này đến lứa con khác bởi các khoản tiền ba mang về phải dùng cho “việc lớn” như là lợp lại mái nhà, cuối năm trét lại mảng vách đất, biếu bà nội bộ ván ngựa mà bà cả đời mong mỏi. Quan trọng nhất là mua một bồ lúa tầm vài chục giạ để chà ăn quanh năm cùng mớ áo quần, dép guốc, sách vở cho bầy con từ đầu năm học tới Tết Nguyên đán.

Chẳng biết từ bao giờ tôi yêu những buổi chợ sớm như thế. Dù có thể để đến được chợ sớm, tôi phải đốt một nắm nhang làm “đèn” rồi cót két trên chiếc xe đạp để đi lấy bánh canh lúc 4 giờ 30 sáng ở tại lò bánh xeo xéo chợ chừng… hai ngã tư. Rồi tạt ngang qua chợ mua ký giá, mớ rau sống cho xửng bánh mặn của mẹ được tươi ngon tròn vị. Ái chà chà… cái loại giá đó mà, đỏng đảnh lắm, mua từ chiều hôm trước thì sáng hôm sau sẽ rút mình quăn queo xấu òm và hôi gió, không làm cho dĩa bánh mặn sực nức mùi nhân củ sắn – con ruốc xộc vào mũi người mua đâu.

Mẹ đã nuôi chị em tôi bằng gánh bánh canh, xửng bánh mặn của những buổi chợ hừng sương như vậy.

Chợ sớm quê tôi bây giờ đèn đuốc sáng choang, không còn cảnh đèn dầu, đèn măng-xông lờ nhờ như xưa nữa. Người đi chợ sớm như tôi không còn phải cầm nắm nhang làm “dấu hiệu” cho người đi đường biết bởi ngày ấy đèn pin hiếm, đèn xe máy là thứ như cổ tích.

Chợ quê bây giờ nước không còn nhớp nháp dưới chân, đèn néon, đèn led đã sáng rực trên từng nóc sạp, người đi chợ xa thì có đèn ló đội trên đầu… Những nét xưa của chợ quê buổi sớm đã mất đi khá nhiều. Nhưng xoi xói tiếng quẫy mình của cá, tươi giòn màu xanh ngăn ngắt của rau quả thì vẫn còn vẹn nguyên.

Mẹ tôi bây giờ không còn kĩu kịt trên vai đôi quanh gánh. Nhưng nhớ chợ, mẹ vẫn tìm chút gì đó của vườn nhà như mớ ớt xiêm rừng, dăm bẹ bạc hà, vài ký tắc, chanh… mà ra chợ để đắm mình trong hương vị yêu thương.

Đ.P. Thùy Trang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 444

Ý Kiến bạn đọc