Truyện ngắn

Cho em được khóc với anh một tiếng

Kỷ Niệm Ngày Thương Binh – Liệt Sỹ 27/7

Kính tặng hương hồn các liệt sỹ

 

Bọn lính trong đồn đắc thắng huênh hoang đã trốc rễ Việt cộng khỏi vùng này. Đây là Khu trù mật an toàn của Việt Nam cộng hòa. Bọn tỉnh, quận phô trương thành tích thường tổ chức rình rang những cuộc tiếp rước đại biểu tứ phương đến tham quan, ủy lạo. Có cả nhiều đoàn quốc ngoại như Thái, Úc, Mã, Phi, Đại Hàn, Đài Loan… và ở mãi tận đâu đâu. Mỗi lần đón rước là xe cộ đầy đường, lính tráng rầm rập, máy bay ì xèo… Nhà nào cũng phải treo cờ. Dân chúng lại phải tập trung hò reo, phất cờ, hô khẩu hiệu mỏi miệng: Ủng hộ Quốc gia – Đả đảo Cộng sản… Người ta lặng lẽ kín đáo nhìn nhau thăm dò. Mấy đứa gặp thời ra mặt làm tàng… Mẹ con bà Tám thấy mà đau ruột!

Gia đình bà Tám là cơ sở đầu tiên dám liên hệ với anh em kháng chiến còn lại ở đây. Nhưng tình hình vẫn căng thẳng lắm, chưa biết lòng dạ mọi người ra sao. Cô Tư lặng thinh nghe ngóng. Những lần vô cứ gặp anh em, cô Tư kể lại chuyện này, mắt đỏ hoe, cánh mũi phập phồng. Mọi người ngồi nghe tức muốn trào máu họng. Nhưng lực lượng của mình mới nhen nhóm lại còn mong manh quá, không thể manh động được. Chủ lực thì ở mãi đâu đâu.

Cuộc họp Quân – Chính địa phương quyết định phải có một đòn gây được tiếng vang cảnh tỉnh bọn đương thời đắc thế để bà con thấy lực lượng kháng chiến vẫn còn khả năng áp đảo quân thù. Cái bót Ngã ba đầu xã là mục tiêu phải đánh. Cô Tư được giao nhiệm vụ điều nghiên.

Lính trong đồn không lạ gì nhà bà Tám – nó vừa ở tiền tiêu lại vừa có hai cô con gái ngon lành. Mỗi khi xuống nhà chúng được bà Tám dễ dàng, các cô rộng rãi đãi đằng. Mỗi lần qua bót, mấy chú lính canh thường kêu cô Tư lại kiếm chuyện nói dóc chơi. Cô Tư vui vẻ bắt chuyện hàng giờ. Lúc từ chợ về, cô còn ghé vô gởi chút quà gì đó cho mấy anh bị cấm trại giải sầu lai rai. Cô nắm chắc quân số, trang bị vũ khí, địch đi ruồng bố và số người còn lại mỗi khi lính đồn phải đi dã ngoại hành quân.

Ban chỉ huy quân sự quyết định đánh đột kích táo bạo bất ngờ, chiếm lĩnh đồn trong thời gian ngắn rồi rút gọn, gây tác dụng trấn áp tinh thần bọn tề ngụy tay sai, tạo dựng thanh thế cho Mặt trận giải phóng ở địa phương…

Một ngày, vào buổi xế trưa, có 5 người lính hành quân dã ngoại trở về bót, đứng nghêng ngang giữa ngã ba đường, vẫy chiếc xe lam đang bon bon chạy tới. Chúng đuổi ráo người ngồi trên xe và giục đồ của họ xuống. Bọn lính nhảy ào lên mang theo lỉnh kỉnh những súng ống, đạn dược. Điều ấy là chuyện thường với đám lính hành quân. Tài xế được lệnh phóng nhanh về hướng bót.

Chiếc xe lam vừa giảm tốc độ chưa kịp dừng bánh, cả tốp lính nhảy ào xuống, bắn xối xả vào đám lính canh và ập vô đồn. Cuộc đột kích do Út Bình chỉ huy thật chớp nhoáng bất ngờ. Mấy tên lính thủ trại ngơ ngác, hoảng loạn, không kịp phản ứng gì, nháo nhào bỏ chạy tán loạn, hầu như bị tiêu diệt gọn. Một tên lính thông tin ôm máy bộ đàm rút vào boong-ke kêu cứu. Quân du kích thu gom súng đạn rút nhanh khỏi đồn. Út Bình và một chiến sỹ nán lại đặt trái phá, gắn kíp nổ phá tung lô cốt. Họ ra sau cùng thì vừa lúc lính Chi khu đến tiếp cứu bít hết đường lui. Hai người cố thủ trong đồn, chống trả quyết liệt. Bọn lính kéo về lúc một đông, kêu cả trực thăng chi viện, công phá tới tấp vào đồn. Trong tiếng đạn nổ rầm rầm, tiếng máy bay ầm ỹ, tiếng loa đe dọa gào thét kêu gọi đầu hàng thì tiếng súng kháng cự thật lẻ loi, yếu ớt. Dân quanh vùng lấp ló trong nhà ngó qua phía đồn lo lắng. Tiếng súng dần thưa thớt lẹt đẹt tiếng một như người hết hơi. Đám lính thúc ép đun đẩy nhau lò mò từng bước luồn vào trong cái đồn đổ nát. Một người… hai người… một tốp đã lọt vô… Im ắng quá. Chắc là chết ráo cả rồi! Vài ba tốp lính hùng hổ xông xổng nhào vô, súng trong tay nhăm nhăm xả đạn… Bỗng từ trong đồn vang ra tiếng thét dõng dạc oai hùng:

- Quân giải phóng sinh Bắc tử Nam không biết đầu hàng!

Tiếp ngay là một tiếng nổ U…ù…ng! Khói bụi bốc lên đen đặc. Cùng lúc cái tháp canh lênh khênh nhô cao trên lô cốt sụp đổ xuống. Cái bót kềnh càng nghênh ngang bao lâu nay giờ chỉ còn là một đống gạch ngổn ngang nghi ngút khói. Mặc cho những tiếng kêu la thảm thiết từ bên trong vọng ra, không một tên lính nào dám mò vô nữa!

Mãi sáng hôm sau, với đủ mọi phương tiện xe xích, xe ủi… đám lính mới dám thu dọn chiến trường. Cả chục xác chết được lôi ra. Xác lính thì dễ nhận vì thây còn nguyên vẹn. Có hai cái xác tanh bành, đen thui khói đạn, được tìm thấy ngay nơi hố trái nổ dưới chân lô cốt, không còn vóc dáng hình hài. Chắc chắn đó là hai người lính giải phóng quân cảm tử bị lôi ra ném giữa đường ngay cổng bót. Người qua lại ngoảnh mặt chạy ào đi. Từng tốp lính kéo tới ngó coi. Có tên giương súng nhắm vô đó hầm hầm xả đạn… Hai cái xác càng thêm bấy nát!

Mấy ngày sau, xác chết phân hủy bốc mùi. Người sống chung quanh không chịu nổi. Dân chúng rủ nhau kéo lên gặp viên chỉ huy đơn vị lính đóng dã chiến chờ xây đồn mới, xin được mai táng hai thi thể không người nhận. Mẹ con bà Tám đứng ra lãnh đem về chôn cất vì vườn đất nhà bà rộng rãi lại ở sâu mãi trong đồng, còn như ngoài lộ thì đất chật người đông…

Trước kia hai ngôi mộ ấy cũng được xây phần nhưng không có mộ bia dù rằng gia đình biết rõ đó là hai chiến sỹ Út Bình và Năm Thiết. Hai anh đều là lính đặc công chủ lực về chiến đấu ở đây rồi bị thương, đơn vị gởi lại địa phương chăm sóc. Khi lành vết thương, cũng không ai biết đơn vị đã chuyển đi đâu, hai anh nhập vào bộ đội địa phương này. Là người lính thì gặp giặc ở đâu cũng phải đánh thôi. Mãi sau hòa bình mới dám làm mộ chí nhưng nào phân biệt được ai. Dì Tư làm chung một bia mộ đặt giữa hai người:

Liệt sỹ ÚT BÌNH – Quê miền Bắc.

Liệt sỹ NĂM THIẾT – Quê miền Trung.

Hy sinh ngày 20 tháng 5 năm 1970 tại bót Ngã Ba, xã Lương Hòa

Đã mấy lần địa phương đặt vấn đề di hài cốt về nghĩa trang liệt sỹ. Dì Tư khăng khăng:

- Một trong hai người nằm đây là chồng tui. Vợ không bao giờ muốn xa chồng. Con cũng không muốn xa cha dù chỉ là nấm đất. Hai người ấy là đồng đội sống chết có nhau bao lâu nay rồi. Cứ để các ổng nằm đây. Ngày giỗ, ngày Tết mẹ con tui lo hương khói chu toàn cho cả hai người!

Cái nỗi đau nhức nhối ấy mẹ con dì Tư vẫn không san sẻ được cùng ai.

Anh Út Bình hy sinh đã đành một phận. Nhưng anh để lại cho người tình một nỗi đoạn trường. Ngày ấy, anh chết đi rồi, hai mẹ con dì thật là điêu đứng. Bọn tề xã ấp hoài nghi rình rập trong khi mẹ con dì hoang mang bối rối. Vào một buổi đêm khuya khoắt, Bé Tư trằn trọc, thổn thức ôm choàng lấy mẹ:

- Má ơi… Con… lỡ… bị rồi!

Bà Tám bật ngồi dậy. Linh cảm cho bà nghĩ tới chuyện không hay dễ xảy ra với đời con gái:

- Mà nó là thằng nào?

Cô càng nức nở:

- Là anh Út đó!

Nó thương thằng ấy thì bà đã cảm nhận được từ lâu rồi, bà cũng ưng thôi. Nhưng ngặt nỗi bây giờ nó đã thành người thiên cổ. Con bà chưa gả mà đã thành góa bụa! Càng xót xa cho con gái, bà càng tủi phận mình. Chồng chết. Các anh nó chết. Bà cũng không lo được cho những đứa con còn lại. Bà không trách gì nó. Con trai con gái thậm thụt đi về hôm sớm, nhà dưới vườn sau, bờ kênh bãi vắng… thì làm sao giữ được khi chúng nó đã thương nhau. Nhưng bây giờ giữa làng, giữa nước thế này! Nhà này xưa nay vẫn là nền nếp. Bia đá lâu rồi cũng mòn nhưng bia miệng còn ác nghiệt hơn. Làm sao tránh được những con mắt săm soi dòm ngó, những cái lưỡi như rắn độc của thế nhân đây? Sau những ngày đêm suy nghĩ vắt óc, bà quyết định đưa Bé Tư lên thành phố. Trên đó bà đã gởi cả Năm Chờ và Sáu Hòa để lánh xa nơi rốn bom biển đạn này, lỡ có sao gia tộc này còn có người nối dõi. Chỉ còn lại mình bà, ráng sức già quên đi mệt mỏi. Bà chỉ khấn cầu Trời Phật cho bà sáng đôi con mắt, chặt đôi đầu gối để bà lo cho cháu cho con. Ấy vậy mà có kẻ ác phao lên rằng: Bé Tư ở quê đã lộ mặt rồi, giờ chuyển lên thành phố hoạt động nội đô!

Nhà bà luôn bị dòm ngó, kiểm tra không lúc nào yên.

Một năm qua đi, cô Tư trở về mang theo bé gái Bắc Phương. Hai mẹ con phải kháo lên rằng người ta sanh con hoang bỏ chợ, cô Tư thương tình xin nó làm con. Nhưng gái son với gái một con làm sao qua được mắt người đời. Thế là làng xóm lại rầm rĩ lên. Mấy cha cà chớn lai rai quán nhậu tối ngày, lúc sừng sừng bốc lên, cha nào cũng tranh làm tía đứa bé, có lúc gây gổ um sùm tới mức muốn dộng nhau cho đã. Mấy mẹ cà chớn đâm lời châm chọc:

- Thời nay gái khôn cần chi phải lấy chồng. Chỉ một phút qua đường là có con bồng con mang. Khỏi phải ôm cái hũ hèm cho nhọc nhằn thân xác!

Nhìn đứa bé cười lộ ra mấy cái răng trắng bong, bà tay dắt con gái tay bồng cháu ngoại ra khu mộ, khấn chào ông ngoại, cậu, dì… Đứng trước hai ngôi mộ không tên, bà nắm hai tay đứa bé chắp lại và nói to lên:

- Các con đều chết vì nghĩa cả, lòng má thương đều. Nhưng tình nghĩa vợ chồng chỉ có một thôi. Má cho con Bé Tư làm vợ thằng Bình. Con hãy về đây mà nhận vợ nhận con đi!

Cả hai người đàn bà một già, một trẻ lòng đầy đau đớn, nước mắt tuôn trào ra trong khi đứa bé giương đôi mắt đen tròn sáng trong nhìn đời thật vô tư, nhe răng cười như những hạt nắng sớm mai gieo rắc trong vườn.

Ngày hòa bình, bé Bắc Phương đi học cần có giấy khai sanh. Dì Tư ra Ủy ban khai sự thật người cha của bé chính là liệt sỹ Út Bình. Nhưng hỏi đến họ thì dì không biết. Dì lấy theo họ của mình: Huỳnh Văn Bình. Người ta cười mà ghi theo nhưng lòng nghi hoặc.

Tưởng dì Tư ồn ào vậy mà không thiếu lúc trầm tư buồn thế sự. Dì biểu:

- Điều mình buồn nhất là cái lòng mình ngay mà người đời lại bẻ queo đi theo cái lòng của họ!

Gặp người tâm đắc, dì thở dài tâm sự:

- Ngày ấy thương nhau đâu có dễ như bây giờ. Mỗi người lại trong một nghịch cảnh éo le. Thương nhau thầm lén vậy thôi. Ngoài này mà biết, nó sẽ hành đủ kiểu, làm sao sống được. Trong ấy mà hay, ảnh sẽ bị kiểm điểm vì quan hệ với gia đình phức tạp dù cho nhà mình vẫn là cơ sở để họ đi về. Nhìn nhau thấy cái người, cái nết thì ưng chớ đâu có thì giờ mà đi tìm với hiểu. Nghe người ta kêu thứ Út, tên Bình thì biết vậy thôi chớ mấy anh ngoài Bắc vô đây thường có hai tên lặng, hỏi thêm cái họ làm chi. Người ta kêu tên chớ ai kêu họ. Quê hương thì cũng hỏi, biết là tỉnh Hà Bắc rồi đó nhưng huyện, xã, ấp, xóm, thôn biết đâu mà hỏi, có lúc nghe nhắc tới cái tên gì đó nhưng đâu dám ghi vào sổ sách thì làm sao nhớ được. Mà có ghi thì cũng không giữ được. Cái thân mình còn không giữ được nữa là… Với lại mới thương nhau đâu biết chuyện gì sẽ tới. Cái sống với cái chết cận kề. Thoáng mới gặp nhau đã lại phấp phỏng lo ngày mai có còn được gặp nữa không. Nên đã thương nhau thì dẫu sao cũng chịu. Tưởng rủi lại hên. Ảnh chết đi vậy mà còn có người hương khói. Con nào mà không nhớ tới cha! Rồi là con, cháu nó vẫn nhắc tới ông, tới cố. Mắc cười con Bé Hai, lúc còn đi học, nghe tui kể chuyện hồi xưa, mỗi khi gặp tui ảnh thường hát: Chị Hai xinh… chị đứng một mình… xinh lại càng xinh… có nghĩa là ảnh biểu tui ra đứng một mình với ảnh đó. Con bé nó biểu: Vậy cha đúng là người Bắc Ninh rồi! Ở Bắc Ninh hàng năm có hội Lim quan họ! Nó chưa biết mấy anh lính Bắc miệt quê, anh nào không biết mấy câu ca chèo và mấy câu quan họ, cũng như người miệt vườn sông Tiền, sông Hậu mình ai mà không biết mấy câu ca cổ. Hai ba lần tui biên thư về tỉnh nhờ quân đội, chính quyền tìm giúp may ra mẹ con bà cháu gặp nhau, mẹ con tui cũng mãn nguyện mà bà già nếu còn sống thì cũng được an ủi phần nào. Mãi lâu sau mới nhận được lá thư hồi âm:

Kính gửi chị Huỳnh Thị Trông và cháu gái Huỳnh Thị Bắc Phương!

Ban chính sách Tỉnh đội đã nhận được thư của chị nhưng thật đáng tiếc là chúng tôi không thể giúp chị đạt được điều mong muốn! Hà Bắc trước đây là tỉnh sáp nhập nhưng nay lại chia về như trước là tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang. Các đồng chí bộ đội đi chiến đấu ở khắp các chiến trường A – B – C – D rất đông và nhiều đồng chí thay tên đổi họ. Nếu không biết gốc gác thì không thể dò tìm được. Nếu như sự hy sinh của đồng chí Bình có xác thực của đơn vị thì chị và cháu liên hệ với Ban chính sách địa phương qui tập hài cốt về Nghĩa trang liệt sỹ theo qui định của Bộ Thương binh và Xã hội.

Chúng tôi rất thông cảm và chia sẻ tâm trạng với chị và cháu!

Chào đoàn kết.

Nhưng ai là người xác thực anh Út là chồng của tui, là cha của nhỏ đây?! Mình đến với Cách mạng bằng cái tình nhưng bây giờ nhà nước xử với mình theo cái lý! Chỉ tội nghiệp cho con bé Bắc Phương thôi, lúc nhỏ thì không dám nhận cha, lúc lớn thì có cha đó nhưng không ai thừa nhận!

Những ngày giỗ, Tết dì ra thắp nhang cho cả hai ngôi mộ. Dì thường thơ thẩn bùi ngùi đứng đó rất lâu. Là hai nấm đất giống nhau. Là hai ngôi mộ như nhau với một tấm bia chung ghi tên hai người đàn ông ở hai xứ sở xa nhau nhưng nằm sâu dưới ba thước đất kia là hai con người có thịt có xương, có cha mẹ nhà cửa quê quán hẳn hòi, có tên có tuổi rõ ràng mà bấy lâu sao nỡ hững hờ im lặng vô tư đến thế trước lời tìm gọi thiết tha ròng rã của người vợ góa bất hạnh khổ đau:

- Anh ơi! Anh nằm đâu? Cho em được khóc gọi anh một tiếng!

(Trích tiểu thuyết Thời bi tráng)

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 508

 

Ý Kiến bạn đọc