Tản văn

Chim dồng dộc

Đã thành quá khứ, những con chim dồng dộc ấy. Chúng biến mất âm thầm lặng lẽ, không kịp nhận ra. Xưa thì nhiều lắm, bạt ngàn tổ treo lủng lẳng tàng dừa, đọt tre và những tiếng kêu “dôộc, dôộc” không ngớt cất lên mỗi mùa gặt đến cũng là mùa chim ấp trứng nuôi con, gây náo động trưa hè…

Anh-minh-hoa---Chim-dong-doc

Loài chim dân dã kia luôn gây cho tuổi thơ tôi nhiều ấn tượng. Chim trống đầu đội chiếc “mũ” màu vàng trông đường bệ, uy nghi như vương miện hoàng đế. Chim mái giản dị hơn với bộ cánh sẫm nâu, không nhìn kĩ có khi nhầm là chim sẻ. Có điều, tác phong dồng dộc luôn đàng hoàng, đĩnh đạc, không giống lũ sẻ cái tính lanh chanh. Dồng dộc sống thành đôi. Những đôi uyên ương dồng dộc không phối ngẫu theo mùa mà – giống như bồ câu – chúng gắn bó nhau đến “đầu bạc răng long”. Nói đến mối quan hệ “hôn nhân gia đình” trong thế giới động vật nói chung và chim chóc nói riêng, dồng dộc trống có thể xem như một đức ông chồng mẫu mực. Nghĩa là chung thủy, yêu thương, biết đưa tay gánh vác việc “bếp núc”, cửa nhà cùng vợ con không hề quản ngại! Trừ cái sự… đẻ là dồng dộc trống không thể, còn lại, từ đan tổ đến ấp trứng, nuôi con… chàng đều dự phần tất tật. Chưa hết, nó còn kiêm luôn nhiệm vụ gác cổng… không lương. Mà đâu phải chỉ “không lương”, ngay cái “vọng gác” (tức tổ riêng cho dồng dộc trống) nó cũng phải loay hoay một mình mà dệt mà đan, “dồng dộc phu nhân” nhất quyết không dự phần!

Cuối xuân, đầu hè là mùa dồng dộc làm tổ. Những chiếc tổ đu đưa trên tàng dừa, đọt tre đan bằng lá mía, lá tranh tước nhỏ, miệng chúc xuống, bụng phình ra hình chiếc giày ống bám cành lủng lẳng bằng một đoạn “cáp treo” đan bện chắc chắn (cũng bằng lá mía, lá tranh). Đó chính là tổ ấm dành cho dồng dộc mái và lũ con. “Vọng gác” – tức tổ riêng của dồng dộc trống – lại có hình chiếc giỏ một quai. “Giỏ” được treo úp ngược, “quai” hướng xuống. Gọi cho dễ hình dung, thực ra, quai chính là chỗ đậu cho dồng dộc trống; còn phần giỏ như cái mái che nắng che mưa. Giản đơn mà hữu hiệu. Và lại xinh xắn – như một thứ đồ souvenir được bày trong những quầy bán hàng lưu niệm cho khách nước ngoài…

Thủy chung, cần mẫn, khéo léo và cực kì thương con, đó là những tập tính của họ nhà dồng dộc, không riêng mẹ mà cả bố. Ngày nhỏ, tôi từng thử bẫy con dồng dộc mẹ nhốt riêng một nơi. Còn lại một mình, dồng dộc bố vẫn kiên nhẫn đi đi về về, mang mồi mớm cho con. Không có vợ sẻ chia cũng đồng nghĩa với nỗi nhọc nhằn nhân đôi. Nó gầy rộc đi, lông cánh, lông đuôi xơ xác… Cái tính quên mình dại dột ấy khiến người ta muốn tóm được dồng dộc cả đôi rất dễ: chỉ cần bắt lấy dồng dộc con làm mồi nhử là hết ả đến anh sẽ lần lượt chui đầu vào “rọ” khi nghe tiếng kêu thảm thiết của con mình…

Bây giờ, đứa con thế hệ 9X đọc bài viết của tôi xong, thắc mắc: Chim dồng dộc là… chim gì hở ba? Tôi cười buồn. Biết nói gì với con về một miền kí ức đong đưa xa lắc xa lơ. Chẳng lẽ lại mang những mô tả sinh học không hồn vía đem truyền đạt cho con; chuyện ấy lên google tìm là thấy ngay, đâu cần phải hỏi. Còn muốn dắt con theo trên cái lộ trình ngược dòng vào những giấc mơ thì, khổ thay, con tôi lại không thể đồng hành…

Y Nguyên
(Huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 462

Ý Kiến bạn đọc