Ngoài nước

Chiến tranh và hòa bình: Sự thật Syria và Afghanistan

 

Hai cuộc chiến khủng khiếp, hai cuộc tàn phá man rợ, nhưng hai kết quả hoàn toàn trái ngược nhau.

Ở Syria, bây giờ có thể là mùa thu, nhưng gần như trong toàn bộ đất nước sự sống đang nảy mầm, nở rộ trở lại, mọc lên từ đống tro tàn, theo đúng nghĩa đen.

Cách Syria 2 ngàn dặm về phía đông, Afghanistan vẫn đang như một cơ thể bị đập vào những bức tường đá cổ xưa của nó, mất máu và hấp hối. Ở đó, không quan trọng là mùa nào, cuộc sống chỉ đơn giản là rất khủng khiếp với tương lai bị lưu đày vĩnh viễn.

*
Damascus, thủ đô cổ kính và lộng lẫy của Syria, nay là Cộng hòa Ả Rập Syria, cuộc sống đã trở lại. Mọi người vui chơi đến tận đêm khuya, với nhiều sự kiện, âm nhạc và nhịp sống xã hội sôi động. Không phải tất cả, nhưng nụ cười đã trở lại với nhiều người. Các trạm kiểm soát đang được dỡ bỏ dần và giờ đây người ta thậm chí không phải dùng máy dò mìn trước khi vào bảo tàng, quán cà phê và các khách sạn quốc tế.

Người dân Damascus rất lạc quan, một số người ngây ngất. Họ đã chiến đấu hết mình, họ đã mất hàng trăm ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em, nhưng họ đã chiến thắng! Cuối cùng họ đã chiến thắng, vượt lên tất cả các dự đoán, được hỗ trợ bởi những người bạn và đồng minh thực sự của họ. Họ tự hào về những gì họ đã đạt được, và sự thật là như vậy!

Bị làm nhục rất nhiều trong một thời gian dài, người dân Ả Rập đột nhiên đứng dậy và chứng minh cho thế giới và với chính bản thân rằng họ có thể đánh bại quân xâm lược, bất kể chúng có mạnh đến đâu. Như tôi đã viết trong một số dịp trước đây, Aleppo là “Stalingrad của Trung Đông”. Đó là một biểu tượng anh hùng. Ở đó, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa đế quốc đã gặp thảm bại. Không có gì đáng ngạc nhiên, vì sức chịu đựng, lòng can đảm và khả năng của mình, trung tâm của tư tưởng văn hóa Arab – Syria một lần nữa trở thành quốc gia lá cờ đầu đối với những người yêu tự do trong khu vực.

Syria có nhiều bạn bè, trong đó có Trung Quốc, Iran, Cuba và Venezuela. Nhưng người quyết tâm giúp đỡ nhất trong số họ, đáng tin cậy nhất, vẫn là Nga.

Người Nga đã đứng bên đồng minh lịch sử của mình, ngay cả khi mọi thứ có vẻ tồi tệ, gần như vô vọng, ngay cả khi những kẻ khủng bố được đào tạo và cấy ghép vào Syria bởi phương Tây, Ả Rập Saudi, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ, đã san phẳng toàn bộ các thành phố cổ, và hàng triệu người tị nạn chạy khỏi đất nước, qua tất cả 7 cửa ô của Damascus và từ tất cả các thành phố lớn, cũng như các thị trấn và làng mạc.

So-630--Anh-minh-hoa---Chien-tranh-va-hoa-binh-Su-that-Syria-va-Afghanistan---Anh-1

Người Nga hành động lặng lẽ, cần mẫn và hiệu quả, không chỉ ở “hậu trường”, trên mặt trận ngoại giao, mà còn trên tiền tuyến, cung cấp hỗ trợ tác chiến không lực, làm sạch và kiểm soát toàn bộ các khu phố, giúp cung cấp thực phẩm, hậu cần, chiến lược. Người Nga đã chết ở Syria, tôi không biết con số chính xác, nhưng chắc chắn có thương vong, một số nguồn tin thậm chí cho biết là “đáng kể”. Tuy nhiên, Nga không bao giờ đầu hàng, không bao giờ đập ngực than vãn bất lực. Những gì phải làm, đã được họ thực hiện, như một nghĩa vụ quốc tế cao cả, lặng lẽ, tự hào, rất can đảm và quyết tâm.

Người dân Syria biết tất cả những điều này, họ hiểu, và họ biết ơn đối với cả hai quốc gia, mọi sáo ngữ cảm ơn là không cần thiết, ít nhất là trong lúc này. Tình huynh đệ sâu sắc của họ là không thể chia cắt. Họ đã cùng nhau chiến đấu chống lại kẻ thù hắc ám, khủng bố và chủ nghĩa thực dân mới, và họ đã chiến thắng.

Khi các đoàn xe quân sự Nga đi qua các con đường của Syria, không cần có các biện pháp an ninh. Họ dừng lại ở các quán ăn địa phương, họ nói chuyện vui vẻ với người dân địa phương. Khi người Nga đi qua các thành phố Syria, họ không cảm thấy sợ hãi. Họ không bị coi là một “lực lượng quân sự nước ngoài”. Bây giờ họ là một phần của Syria.

Họ là những người thân của gia đình. Người Syria làm cho họ cảm thấy như được ở nhà.

*
Ở Kabul, tôi luôn phải đối mặt với những bức tường. Tường là tất cả thế giới xung quanh tôi, tường bê tông, cũng như hàng rào dây thép gai.

Một số bức tường cao tới 4-5 tòa nhà, với tháp canh ở mọi góc, được trang bị kính chống đạn.

Người dân địa phương, người đi bộ, trông giống như những hồn ma. Họ đã tê liệt, đã quen với những nòng súng chĩa vào đầu, ngực, chân, thậm chí chĩa vào con cái của họ.

Hầu như tất cả mọi người ở đây đều phẫn nộ vì quân chiếm đóng, nhưng không ai biết phải làm gì, làm thế nào để chống lại. Lực lượng xâm lược của NATO vừa tàn bạo vừa áp đảo, chỉ huy và binh lính của nó lạnh lùng, tính toán và tàn nhẫn, bị ám ảnh với việc tự bảo vệ và chỉ bảo vệ bản thân chúng.

Các đoàn xe quân sự của Anh và Mỹ được bọc thép nặng nề, sẵn sàng bắn vào “bất cứ thứ gì động đậy”, ngay cả chỉ vì những động tác mơ hồ.

Người dân Afghanistan bị giết, hầu hết tất cả trong số họ bị bắn từ xa. Cuộc sống của người phương Tây là “quý giá nhất” khi tham gia vào cuộc chiến. Việc tàn sát được thực hiện bằng máy bay không người lái, bằng “bom thông minh” hoặc bằng cách bắn từ những phương tiện quái dị chạy dọc các thành phố Afghanistan và vùng nông thôn.

Trong cuộc chiếm đóng kỳ quặc này, không quan trọng là có bao nhiêu dân thường Afghanistan bị giết, miễn là cuộc sống của lính Mỹ hoặc châu Âu được an toàn. Hầu hết binh sĩ phương Tây được triển khai ở Afghanistan là lính chuyên nghiệp. Họ không bảo vệ đất nước của họ, họ được trả tiền để làm “công việc được giao”, một cách hiệu quả, với bất kỳ giá nào. Và tất nhiên, an toàn là đầu tiên, an toàn cho bản thân.

Sau khi phương Tây chiếm Afghanistan năm 2001, khoảng 100.000 đến 170.000 dân thường Afghanistan đã bị giết. Hàng triệu người đã buộc phải rời khỏi đất nước của họ đi tị nạn. Afghanistan hiện đứng thứ hai từ dưới lên (sau Yemen) ở châu Á, trong danh sách HDI (chỉ số phát triển con người). Tuổi thọ người dân là thấp nhất ở châu Á (theo WHO).

*
Tôi làm việc ở cả Syria và Afghanistan, và coi đó là nhiệm vụ của mình để chỉ ra sự khác biệt giữa hai quốc gia và hai cuộc chiến này.

Cả Syria và Afghanistan đều bị phương Tây tấn công. Một người chống cự và chiến thắng, người còn lại bị chiếm giữ bởi các lực lượng Bắc Mỹ và châu Âu, và do đó bị phá hủy.

Sau khi làm việc ở 160 quốc gia trên hành tinh này, và sau khi chứng kiến vô số cuộc chiến tranh và xung đột (hầu hết đều do phương Tây và đồng minh kích động), tôi có thể thấy rõ mô hình: gần như tất cả các quốc gia rơi vào phạm vi ảnh hưởng của phương Tây giờ đều bị hủy hoại, cướp bóc và tàn phá. Họ đang gặp sự chênh lệch lớn giữa nhóm nhỏ “tinh hoa” là những cá nhân cộng tác với phương Tây với đại đa số người dân sống trong nghèo khổ. Hầu hết các quốc gia có quan hệ chặt chẽ với Nga hoặc Trung Quốc (hoặc cả hai), đều đang thịnh vượng và phát triển, tự tôn tự chủ và tôn trọng văn hóa, hệ thống chính trị và cấu trúc kinh tế của mình.

Chỉ vì hệ thống truyền thông đại chúng và hệ thống giáo dục thiên vị, cũng như định hướng gần như hoàn toàn thân phương Tây của các “phương tiện truyền thông xã hội”, những sự tương phản gây sốc này giữa hai khối (vâng, giờ đây chúng ta lại có hai khối giữa các quốc gia) không liên tục được phản ánh và thảo luận.

*
Trong chuyến thăm gần đây của tôi đến Syria, tôi đã nói chuyện với nhiều người sống ở Damascus, Homs và Ein Tarma. Những gì tôi chứng kiến có thể được mô tả là niềm vui của người Hồi giáo, trong nước mắt. Cái giá phải trả cho chiến thắng là rất lớn. Nhưng niềm vui là vô giá, tất nhiên. Sự thống nhất, đồng thuận giữa người dân Syria với chính phủ của họ là rất rõ ràng và đáng chú ý.

Sự giận dữ đối với phương Tây và phiến quân là rất phổ biến. Tôi sẽ sớm mô tả tình hình trong các báo cáo sắp tới của mình. Trong bài này, tôi chỉ muốn so sánh tình hình ở hai thành phố, hai quốc gia và hai cuộc chiến.

Ở Damascus, tôi cảm thấy như muốn làm thơ, nhiều lần. Ở Kabul, tôi chỉ có cảm hứng để viết một cáo phó, dài và buồn.

Tôi yêu cả hai thành phố cổ này, nhưng tất nhiên, tôi yêu chúng với những trạng thái cảm xúc khác nhau.

Nói một cách thẳng thắn, trong 18 năm chiếm đóng của phương Tây, Kabul đã bị biến thành một địa ngục quân sự hóa, bị phân mảnh và biến thành một thuộc địa trên trái đất. Mọi người đều biết điều đó, người nghèo biết điều đó và ngay cả chính phủ cũng biết điều đó.

Ở Kabul, toàn bộ các khu phố đã trở thành địa ngục. Chúng là nơi sinh sống của những con người bị buộc phải sống trong các máng xối, hoặc dưới những cây cầu. Nhiều người trong số đó bị xua đuổi, mắc vào các chất ma túy, việc sản xuất ma túy được hỗ trợ bởi quân đội chiếm đóng phương Tây. Tôi đã chụp được một số ảnh căn cứ quân sự của Hoa Kỳ được bao quanh bởi những đồn điền thuốc phiện. Tôi đã nghe những lời chứng thực của người dân địa phương, về việc quân đội Anh tham gia đàm phán và hợp tác với mafia địa phương.

Bây giờ các đại sứ quán phương Tây, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế hoạt động ở Afghanistan, đã tìm cách vơ vét tài nguyên, tham nhũng về mặt trí tuệ và đạo đức, truyền bá tư tưởng cho một nhóm người bản địa, những người nhận được học bổng, được “đào tạo” ở châu Âu, để phục vụ cho những kẻ chiếm đóng. Họ đang làm việc ngày đêm để hợp thức hóa cơn ác mộng mà đất nước họ bị ném vào.

Nhưng những người lớn tuổi vẫn còn nhớ thời quân đội Xô Viết và chế độ xã hội chủ nghĩa Afghanistan. Lớp người đó vẫn mang tình cảm thân Nga, nuối tiếc những ngày Afghanistan được giải phóng và độc lập, tiến bộ và xây dựng tinh thần quyết tâm của quốc gia. Các nhà máy bánh mì, kênh dẫn nước, đường ống dẫn dầu, tháp điện cao thế và trường học của Liên Xô vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, trên khắp cả nước. Trong khi đó, bình đẳng giới, chủ nghĩa thế tục và cuộc đấu tranh chống phong kiến của thời đó đến nay, dưới sự chiếm đóng của phương Tây, bị coi là bất hợp pháp.

Người Afghanistan được biết đến là một dân tộc tự hào và quyết đoán. Nhưng bây giờ niềm tự hào đó đã bị phá vỡ, lòng quyết tâm bị nhấn chìm trong biển bi quan và trầm cảm. Sự chiếm đóng của phương Tây không mang lại hòa bình, nó không mang lại sự thịnh vượng, độc lập của nền dân chủ, nếu dân chủ được hiểu là “sự cai trị của nhân dân”.

Ngày nay, giấc mơ lớn nhất của một thanh niên hay phụ nữ ở Kabul là được phục vụ cho những kẻ chiếm đóng, họ được “giáo dục” trong một trường học kiểu phương Tây, để có được một công việc tại đại sứ quán Hoa Kỳ hoặc một trong các cơ quan của Liên Hợp Quốc.

*
Ở Damascus, mọi người hiện đang nói về việc xây dựng lại đất nước.

“Làm thế nào và khi nào các khu phố bị thiệt hại sẽ được xây dựng lại? Việc xây dựng hệ thống tàu điện ngầm triển khai trước chiến tranh sẽ sớm được tiếp tục lại? Cuộc sống sẽ tốt hơn trước?”.

Mọi người đã không chờ đợi. Tôi đã chứng kiến các gia đình và cộng đồng cùng khôi phục lại các tòa nhà, nhà ở và đường phố của họ.

Vâng, ở Damascus tôi thấy sự lạc quan cách mạng thực sự trong hành động, sự lạc quan mà tôi đã mô tả trong cuốn sách gần đây của tôi về “Sự lạc quan cách mạng và chủ nghĩa hư vô phương Tây”. Nhà nước Syria bây giờ, một lần nữa, ngày càng mang tính cách mạng. Cái gọi là “phe đối lập ” hầu như không có gì khác ngoài một cuộc lật đổ do phương Tây bảo trợ, một nỗ lực để đưa Syria trở lại những ngày đen tối của chủ nghĩa thực dân.

Damascus và chính phủ Syria không cần những bức tường to lớn, những đốm sáng gián điệp khổng lồ bay trên bầu trời; họ không cần xe bọc thép ở mọi góc và chiếc SUV toàn diện với súng máy giết người.

Vậy nhưng, những kẻ chiếm đóng Kabul cần tất cả những biểu tượng quyền lực chết người đó để duy trì sự kiểm soát. Tuy nhiên, họ không được mọi người ủng hộ hoặc yêu thương.

Ở Damascus, tôi tự do bước vào văn phòng của tiểu thuyết gia đồng nghiệp của mình, là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Syria hiện nay. Ở Kabul, tôi phải đi qua máy dò kim loại ngay cả khi chỉ muốn ghé vào một nhà vệ sinh.

Ở Damascus, niềm hy vọng và cuộc sống diễn ra ở mọi góc phố. Quán cà phê chật cứng, mọi người nói chuyện, tranh luận, cười đùa cùng nhau và hút thuốc với nhau. Bảo tàng và thư viện cũng đầy người. Nhà hát tổ chức biểu diễn, vườn thú luôn sôi động người đến thăm, tất cả diễn ra bất chấp chiến tranh, bất chấp mọi khó khăn.

Ở Kabul, cuộc sống đã dừng lại. Ngoại trừ giao thông, và các khu chợ bán hàng thiết yếu phải có. Còn ngay cả Bảo tàng Quốc gia bây giờ cũng bị biến thành một pháo đài, và kết quả là, hầu như không ai có thể tìm thấy gì bên trong đó.

Người dân ở Damascus không biết nhiều những gì diễn ra ở Kabul. Nhưng họ quen thuộc với tin tức về Baghdad, Tripoli và Gaza. Và họ thà chết còn hơn là cho phép phương Tây chiếm đóng, hoặc cấy ghép chính phủ tay sai của chúng.

Hai cuộc chiến tranh, hai số phận, hai thành phố hoàn toàn khác biệt.

Bảy cửa ô của Damascus nay đã rộng mở. Người tị nạn đang trở về từ mọi hướng, từ mọi nơi trên thế giới. Đã đến lúc hòa giải, xây dựng lại đất nước, để làm cho Syria vĩ đại hơn cả trước khi cuộc xung đột xảy ra.

Kabul, vẫn thường xuyên bị rung chuyển bởi các vụ nổ, bị phân mảnh bởi những bức tường khủng khiếp. Động cơ máy bay trực thăng gầm rú phía trên, nhấp nháy đèn từ đôi mắt chết chóc của chúng theo dõi mọi thứ trên mặt đất. Máy bay không người lái, xe tăng, xe bọc thép khổng lồ… Người nghèo, người vô gia cư, khu ổ chuột… Lá cờ Afghanistan khổng lồ bay trên Kabul. Một “lá cờ sửa đổi” xa lạ, không giống như lá cờ của quá khứ xã hội chủ nghĩa.

Syria, cuối cùng đã thống nhất nhờ đánh bại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa cuồng tín và các giáo phái.

Afghanistan, quốc gia bị chia rẽ, bị sỉ nhục, bị tước đoạt vinh quang trước đây.

Damascus đã thuộc về người dân của nó. Ở Kabul, người dân bị ngăn cách và cấm đoán bởi những bức tường bê tông và căn cứ quân sự dựng lên bởi những kẻ xâm lược nước ngoài.

Ở Damascus, mọi người đã chiến đấu, chết cho đất nước và thành phố của họ.

Ở Kabul, mọi người sợ hãi, thậm chí sợ hãi ngay chỉ việc nói về đấu tranh cho tự do.

Damascus đã thắng. Nó đã giành lại tự do một lần nữa.

Kabul cũng sẽ thắng. Có lẽ không phải hôm nay, không phải năm nay, nhưng nó sẽ thắng. Tôi tin rằng nó sẽ chiến thắng!

Tôi yêu cả hai thành phố. Nhưng một người bây giờ đang ăn mừng, trong khi người còn lại vẫn quằn quại khổ đau, nỗi đau không thể nào tưởng tượng được…

P/s: Một số người vẫn vì ấu trĩ hoặc cố tình đánh đồng, rằng Nga hay Mỹ thì cũng đều vì lợi ích của mình, cũng đều là đế quốc. Đọc từ những cây bút thực tế này để rõ ai là sứ giả hòa bình, ai là ác quỷ chiến tranh.

Và tôi thấy ở đây, hình ảnh của cả một quá trình lịch sử rất dài của Việt Nam. Bài viết thật nhiều cảm xúc.

ANDRE VLTCHEK
(phóng viên vì hòa bình, một chiến sỹ cách mạng)
NGÔ MẠNH HÙNG (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 630

Ý Kiến bạn đọc