Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chiến tranh và chủ nghĩa nhân văn trong văn chương hiện nay

Cuộc chiến tranh vì Tự do, Độc lập và Danh dự của Tổ quốc đã để lại cho chúng ta những tác phẩm văn học giàu tính hiện thực, tràn đầy chất nhân văn của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Vậy mà, trong một số người cho đến tận bây giờ, vẫn còn có những nhận thức hết sức sai lầm; văn chương của không ít cây bút sau này viết về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vẫn còn mắc phải những nhìn nhận lệch lạc.

Hiện chúng ta đang có những tác phẩm được coi là thành quả của văn học thời kỳ “đổi mới”, thời kỳ “cởi trói”, thời kỳ mà Nguyễn Minh Châu đã viết “Lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa” (?). Nhưng sự thật là trong những tác phẩm ra đời ở thời kỳ hậu chiến ấy đã có những tác phẩm phản ánh cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc một cách phiến diện và méo mó, thậm chí là quái đản.

Thử đọc tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (còn có tên gọi lúc đầu là Thân phận của tình yêu). Nhân vật Kiên, một người lính trinh sát, đi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ và đi ra khỏi nó với bao ám ảnh bệnh hoạn của chứng mộng du, hoảng loạn, bất an hay là hội chứng sang chấn tinh thần sau những “cơn say bắn giết”?

Phủ nhận lý tưởng cao đẹp của một thời đại hy sinh tất cả cho độc lập của dân tộc, tự do hạnh phúc cho con người, Bảo Ninh đã đặt vào lời nhân vật cha dượng của Kiên cái triết lý sống tầm thường vị kỷ:

“… Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngọn ngành chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy… Cuộc đời còn dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?”.

Vu-tham-sat-Son-My-mot-trong-nhung-toi-ac-troi-khong-dung-dat-khong-tha-trong-chien-tranh-Viet-Nam
Vụ thảm sát Sơn Mỹ, một trong những tội ác “trời không dung, đất không tha”
trong chiến tranh Việt Nam – Ảnh tư liệu

Hình ảnh người lính chống Mỹ hiện lên trong tác phẩm của Bảo Ninh là những con bệnh về tinh thần, không lý trí, không niềm tin, không sức sống: kẻ thì tự sát, người đào ngũ, trung đội lính trinh sát của Kiên thì “Ủ dột. Yếm thế. Đời sống mục rã”, tìm khoái cảm hoang tưởng trong cây hồng ma gây nghiện để có chỗ bấu víu cho tâm hồn. Người bị thương trở về sau chiến tranh thì cũng tàn phế cả thể xác lẫn tâm hồn: “Ước gì có cách nào chết ngay cho chóng cuộc đời”. Còn Kiên, nhân vật chính của truyện, linh hồn của “Nỗi buồn chiến tranh” thì ngay từ khi mới bước vào cuộc chiến đã mang biệt hiệu “Thần Sầu”, sau cuộc chiến thì triền miên đắm chìm trong bao ảo giác bệnh thái, không thấy đâu ý nghĩa chân chính của cuộc chiến, của những mất mát hy sinh mà chỉ gặm nhấm cảm giác đau thương với ý thức phủ nhận cuộc chiến tranh, phủ nhận vẻ đẹp của người lính chiến đấu, dù đó là cuộc chiến tranh cứu nước, cứu nhà.

Cuộc sống của người lính được miêu tả là những địa ngục chiến hào, những chân trời chết chóc.

Tâm hồn của người lính cả trong và sau cuộc chiến là những ám ảnh khủng khiếp, ghê tởm về bắn giết, hủy diệt, tàn sát.

Phủ nhận giá trị, ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến tranh vệ quốc, Bảo Ninh đặt vào miệng các nhân vật của mình những phát ngôn tiêu cực, lệch lạc, miêu tả nội tâm nhân vật với những suy tư méo mó, tối tăm, ngụy biện:

“Tôi không sợ chết, nhưng cứ bắn giết mãi thế này thì chết hoại tình người”.

“Cả đời đánh nhau, thú thật tôi thấy cái trò này chẳng có gì là vinh”.

“Hừ , hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương”.

Thậm chí, tác giả Nỗi buồn chiến tranh còn đồng nhất tội ác dã man của quân xâm lược với hành động chiến đấu chống quân thù của người chiến sĩ giải phóng:

“Tiếng máy bay, sầm sầm sập tới, sầm sầm đi qua. Lần đầu tiên Kiên thấy người bị giết, thấy sự dã man, thấy máu trào lênh láng. Trời ơi, và từ đấy… cả thế hệ anh lao vào trận chiến một cách hăng say, một cách hung dữ, đã làm đổ máu mình, đổ máu người. Hàng đọi máu, sông máu…”.

Qua cái nhìn của Bảo Ninh, cuộc chiến tranh chống Mỹ đơn thuần là cuộc chiến phi nhân tính mà hai bên khạc đạn vào nhau, bắn giết lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau trong thân phận khốn cùng của người lính trận.

Người lính đi vào cuộc chiến không vì lý tưởng và đi ra khỏi cuộc chiến với bao chán chường, thất vọng, mang theo bao ám ảnh về mất mát, đau thương và cả sự hoảng loạn về “tội ác” bắn giết, tàn sát phi nhân của chính mình. Không tình yêu, không lý tưởng, không hạnh phúc, không tương lai, chỉ có quá khứ với những linh hồn chết.

Một loạt chấn thương tinh thần vô phương cứu chữa!

Vì sao cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc lại được miêu tả, phản ánh một cách đen tối như vậy trên trang sách của Bảo Ninh và của những cây bút đồng điệu khác? Và vì đâu hình ảnh người lính chiến đấu cho độc lập tự do của dân tộc, cho giá trị thiêng liêng giải phóng con người lại hiện lên dị dạng, méo mó như vậy qua cái nhìn của chính tác giả, một người cầm súng?

Nguyên nhân sâu xa, theo tôi, chính là do lập trường chính trị sai lầm và quan niệm chủ nghĩa nhân đạo một chiều, chủ nghĩa nhân văn phiến diện, siêu thực của người cầm bút, không phân biệt được chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa; xóa nhòa ranh giới phải – trái, đúng – sai, thiện – ác; đánh đồng hành động chính nghĩa – phi nghĩa; đồng nhất cái ác, cái phi nhân với đấu tranh chính nghĩa để hủy diệt bạo tàn; phủ nhận ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa thực dân mới, đánh đuổi kẻ thù của dân tộc giành sự toàn vẹn, thống nhất non sông để đoàn tụ mọi gia đình bị chia cắt.

Phải chăng đây là sự ảnh hưởng của lối nhìn nhận và cách viết của các nhà văn phương Tây về chiến tranh nói chung? Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là cuộc chiến tranh giữa các nước tư bản đế quốc nhằm tranh giành thị trường, không phải là chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Nó không phải là cuộc chiến tranh chính nghĩa đối với cả hai phe tham chiến. Rơ-mác, nhà văn người Đức với tác phẩm Phương Tây không có gì lạ đã miêu tả cuộc sống trong chiến tranh hầm hào đau khổ trên những trang viết dữ dội. Những người lính không hiểu vì sao họ phải sống cuộc sống lính trận khổ cực khủng khiếp ấy. Họ ghê tởm cuộc chiến và ghê sợ chiến tranh mà không biết rằng họ đang bị đẩy vào một cuộc chiến tranh bạo tàn, phi nghĩa. Cũng là cuộc chiến trên các hầm hào, nhưng những chiến sĩ Điện Biên của ta đâu có run sợ, ủ rũ mà vẫn “người người lớp lớp” trong tác phẩm của Trần Dần và trong Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, liên tiếp dũng cảm xông lên đến khi toàn thắng để có một “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân cũ.

Cái sai của lớp người sau, sáng tác trong hoàn cảnh hòa bình, là rơi vào vũng bùn “hòa bình chủ nghĩa”. Họ lấy cách nhìn, cách ứng xử trước cuộc chiến tranh phi nghĩa của các nhà văn phương Tây để áp dụng vào hoàn cảnh của chiến tranh chính nghĩa, như cuộc chiến giành độc lập thống nhất của Việt Nam, từ đó dẫn đến sự sai lệch trong cách nhìn và trong nhận thức, không khái quát được đúng bản chất của hiện thực và chân lý của thời đại, mà ngược lại rơi vào cái triết lý hiện sinh, lấy cái sống làm đầu, dù đó là cái sống làm nô lệ.

Sự bắt chước những sáng tác văn học nước ngoài trong những hoàn cảnh chiến tranh khác biệt, sao chép một cách nô lệ lối phản ánh của lý thuyết phương Tây từ chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại… khiến cho những tác phẩm tưởng như là tinh hoa của thời kỳ đổi mới thực chất chỉ rơi vào những mê cung của phiến diện và lệch lạc.

Quan niệm chủ nghĩa nhân đạo một chiều và chủ nghĩa nhân văn phiến diện cũng đưa người viết tới những lệch lạc tai hại, say sưa gặm nhấm “nỗi buồn chiến tranh”, “nỗi buồn thế hệ” mà không thấy được những giá trị cao quý của con người là phải “sống cho ra sống” như Phu-xích đã “Viết dưới giá treo cổ”, không chịu sống hèn, như những kẻ cam chịu sống quỳ, sống ô nhục dưới gót giầy của kẻ áp bức đô hộ.

Họ là những cây bút tuy được gọi là đổi mới nhưng không thực mang hơi thở của sự sống trong giai đoạn lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

Hãy cứ nhìn những cựu binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam thì sẽ thấy sau chiến tranh họ lại có một thái độ phản tỉnh. Họ đã thấy rõ cuộc chiến tranh họ gây ra ở Việt Nam là cuộc chiến tranh phi nghĩa của người Mỹ. Họ hối hận vì đã tham dự vào một cuộc chiến tranh vô nhân đạo. Bao nhiêu cựu binh Mỹ trở về từ cuộc chiến tranh Việt Nam đã thực sự mắc phải những sang chấn tinh thần (theo thống kê của chính nước Mỹ, cứ một ngày có 22 cựu binh Mỹ tự tử, riêng năm 2014 có 8.000 người lính Mỹ tự tử vì không vượt qua được những ám ảnh về tội ác mà họ đã gây ra ở Việt Nam). Đã có những cựu binh Mỹ nhiều lần xin trở lại Việt Nam, chuộc lỗi lầm của họ bằng cách trở lại nơi họ đã tham chiến, gặp lại những người dân Việt Nam, những người lính Việt Nam để được giải tỏa những u uất, để được tha thứ và hàn gắn những vết thương trong tâm hồn. Và chính họ đã bày tỏ sự khâm phục trước cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt Nam, cảm động trước sự bao dung độ lượng của người dân Việt Nam, của những cựu chiến binh Việt Nam nay đã trở thành những người bạn chân thành và gắn kết với một tinh thần nhân văn thực sự cao cả.

Đây mới là hình ảnh đáng quý của một chủ nghĩa nhân văn đích thực.

Không chỉ cựu binh Mỹ, mà ngay cả những cựu binh Hàn Quốc từng tham chiến ở Việt Nam cũng có một cái nhìn khác hẳn các nhà văn Việt Nam như Bảo Ninh về cuộc chiến tranh Việt Nam, về người lính Việt Nam trong cuộc chiến. Hãy thử đọc cuốn hồi ký của Kim Jin Sun, một cựu chiến binh Hàn Quốc đã tham chiến ở Việt Nam trong biên chế sư đoàn Mãnh Hổ. Ông đã về hưu với quân hàm đại tướng. Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, tướng Kim giữ chức đại úy, đại đội trưởng đại đội 11 trong sư đoàn Mãnh Hổ.

Tướng Kim khá được trọng dụng vì “chỉ biết truy tìm và diệt Việt Cộng” với biệt danh “tướng cướp rừng xanh”. Tuy nhiên qua hồi ký của ông viết sau chiến tranh, người đọc sẽ thấy những gì diễn ra trong cuộc chiến ở Việt Nam đã làm tướng về hưu Kim Jin Sun phải suy nghĩ và ân hận trong giai đoạn cuối đời. Ông đã từng quay lại thăm Việt Nam, và sống lại bao kỷ niệm đớn đau một thời tuổi trẻ bị cuốn vào cơn lốc phi nhân của một cuộc chiến tranh phi nghĩa.

Xin trích một số đoạn trong hồi ký của Kim Jin Sun:

“Mặc dù mới lập gia đình được 10 tháng, tôi đã phải tạm biệt vợ, quên đi hai chữ tình yêu để sang Việt Nam. Ở đó (trước kia) tôi đã lùng sục khắp các hang núi như một con thú, tìm mọi cách để tiêu diệt hoặc bắt toàn bộ đối phương. Đã có rất nhiều người bị chết bởi những kế hoạch của tôi.

Tại nơi chiến trường chỉ có giết và giết đó, các giá trị đạo đức đối với chúng tôi cũng bị tan vỡ chẳng khác nào những mảnh đạn pháo. Và dần dần tôi cũng trở thành một con người không biết gì khác ngoài bắn giết. Sự điên dại trên chiến trường là điều không thể tưởng tượng được bằng lý trí lúc bình thường.

Tôi không hề cảm thấy bận lòng khi thấy đứa trẻ chăn trâu hay một dân thường bị chết. Tôi đã truy lùng với một khoái cảm còn hơn cả cảm giác đi săn thú. Tôi đã ăn uống và chụp ảnh không hề vướng bận ngay bên cạnh những xác chết. Tôi đã xông vào hầm của đối phương không một phút chần chừ và bóp cò súng không hề run sợ. Chiến tranh đã qua lâu mà tôi vẫn không thể hiểu nổi tại sao mình lại có thể hành động như vậy. Tôi đã bắn giết mà không hề quan tâm và cũng không thể hiểu được bản chất của chiến tranh Việt Nam. Tôi không được phép suy nghĩ gì khác ngoài việc phải giết thật nhiều Việt Cộng để tồn tại và ngăn chặn Cộng Sản.

Tôi đã chiến đấu liên tục với một chiếc mũ cao bồi trên đầu. Trong bộ não của tôi được nhồi đầy những ý nghĩ rằng miền Bắc là nơi những kẻ ác tụ tập. Sau khi kết thúc cuộc đời binh nghiệp với quân hàm đại tướng, tôi đã có dịp sang thăm Hà Nội. Cái đập vào mắt tôi lúc đó là một sân bay nhỏ bé. Tiếng súng đã tắt 20 năm rồi…, tại sao một Việt Nam như vậy lại có thể thắng được siêu cường số một là nước Mỹ? Tôi cũng muốn đi tìm lời giải cho những hành động của những người lính giải phóng mà tôi đã từng gặp và giao chiến. Những người sống và chiến đấu trong hoàn cảnh mà con người bình thường khó có thể sống nổi, những người lính giải phóng đã lao thẳng vào căn cứ địch, chỉ với trái lựu đạn; người chiến sĩ giải phóng đã chống cự gần 8 giờ đồng hồ với một thân hình gần như cụt cả tay chân, không chịu đầu hàng… Lúc đó tôi đã viết vào nhật ký như sau:

“Thật đáng thương cho chiến dịch Tết Mậu Thân của Việt Cộng. Lúc đó tôi chẳng hiểu vì cái gì mà họ lại lao vào đội quân hùng mạnh của Mỹ và Hàn Quốc như vậy. Thật đáng thương! Không thể hiểu nổi những người lính Việt Cộng gầy guộc như một đứa bé, trên tay chỉ có một khẩu súng cổ lỗ và một trái lựu đạn, vì cái gì mà họ chiến đấu như vậy?”.

Quang cảnh trận Điện Biên Phủ mà tôi được xem ở một bảo tàng Hà Nội thật là cảm động. Và tôi đã hiểu rằng Hồ Chí Minh là một lãnh tụ vĩ đại, một con người vĩ đại. Người đã dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam đi theo chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Ông là một người có nhân cách lớn. Tôi đã bị sốc và vô cùng cảm động khi thăm địa đạo Củ Chi, nơi tượng trưng cho trí tuệ, sự kiên trì và ý chí đấu tranh của Việt Nam. Tôi đã cảm thấy đã tìm được lời giải cho câu hỏi vì sao họ lại chiến đấu, vì sao họ lại chiến thắng.

Tôi thấy đã đến lúc đưa ra những kết luận cho riêng mình về chiến tranh và lịch sử của Việt Nam. Tôi muốn viết ra đây về bản thân tôi và cuộc chiến tranh mà tôi đã tham gia. Nếu không, cuốn sách này sẽ không thể hiện được sự ân hận của tôi, cũng như không đem lại một chút ý nghĩa nào.

Tôi mong các độc giả sẽ đọc cuốn sách này để hiểu thêm về chiến tranh. Mong các bạn hiểu hơn về đất nước Việt Nam nhỏ bé mà kiên cường, hiểu thêm về sự ngạo mạn của các cường quốc, hiểu cho những ân hận về những tội ác mà tôi và các chiến hữu đã gây ra ở Việt Nam (*).

Ngoài những trang viết đầy chân thực, người đọc còn có thể thấy trong hồi ức của ông những trường hợp trữ tình đầy xúc động:

“Sau một trận chiến đã diễn ra suốt 8 tiếng đồng hồ, trong thời gian đó, không biết bao nhiêu đạn dược đã bị tiêu tốn. Hình ảnh của địch bị tiêu diệt sau khi đã kháng cự suốt 8 giờ liền đã làm tôi bị sốc thực sự. Chỉ có một người. Người lính giải phóng gần như bị tiện đứt một bên cổ chân, một bên cánh tay cũng bị thương nặng. Anh ta đã dùng bông và mảnh áo tự băng bó cho mình và chiến đấu với đại đội của tôi trong suốt 8 tiếng liền. Trong khi khám thi thể người chiến sĩ giải phóng, tôi đã phát hiện ở ngực anh ta có một cuốn sổ, trong đó có ảnh một thiếu nữ xinh đẹp với mái tóc dài buộc sang hai bên. Phía sau tấm ảnh là dòng chữ tiếng Việt: “Em luôn yêu anh, dù anh ở bất cứ nơi đâu”.

Chắc chắn hai người là vợ chồng hoặc là người yêu. Đây là bằng chứng tình yêu của người thiếu nữ gửi cho người lính miền Bắc. Trong bầu không khí còn sặc sụa khói đạn, thoảng qua trong đầu tôi suy nghĩ: hoá ra anh ta cũng là người bình thường, cũng có người yêu.

Tám giờ đồng hồ quả là một quãng thời gian dài dằng dặc, có đủ thời gian cho việc đầu hàng. Đây là một việc hoàn toàn khác với việc lính đặc công của Nhật Bản cảm tử ôm bộc phá lao vào mục tiêu. Đó là một cái chết tức thì. Còn ở đây, anh ta chờ đợi cái chết trong 8 giờ liền. Trong thời gian đó, anh ta đã nghĩ gì, trong khi nếu không đầu hàng thì không còn cách nào khác là phải chết. Những người lính Hàn Quốc bị thương bắt đầu báo thù lên thi thể của người lính giải phóng. Chúng tôi đem theo mảnh thi thể không còn hình thù, hành quân về căn cứ như một đoàn quân thắng trận. Mọi người nói rằng đây là truyền thống của đơn vị. Tôi vui vẻ dẫn lính về doanh trại, trong lòng không có cảm giác tội lỗi nào.

Hai mươi năm sau sự kiện đó, tôi đã là thiếu tướng, sư đoàn trưởng đóng ở Hwachon, tỉnh Kangwon. Một hôm trong lúc đang đi dạo một mình qua một hang núi tuyệt đẹp, những hình ảnh 20 năm trước đã làm tôi trào nước mắt. Tôi vừa khóc vừa hồi tưởng lại những sự việc của ngày hôm đó. Mặc dù lúc đó đối với tôi, người chiến sĩ giải phóng đó là địch, nhưng đó là một chiến sĩ dũng cảm… Trong cơn điên loạn của chiến tranh, tôi đã làm tổn hại thi thể của người chiến sĩ ấy trong cơn say máu cuồng loạn. Sự hối hận đã vò xé lòng tôi.

Tôi đau lòng hơn khi nghĩ về người thiếu nữ trong ảnh, người mà bây giờ còn sống chắc đã 40 tuổi. Hẳn người thiếu nữ đó không biết về những giây phút dũng cảm cuối cùng của người yêu. Có thể người thiếu nữ đó đến giờ vẫn chờ đợi hoặc đi tìm tung tích người yêu cũ. Nếu tôi có thể giữ lại được dấu tích của người chiến sĩ ấy, có lẽ sẽ an ủi được phần nào trái tim của người thiếu nữ đó.

Chính cái chết của người chiến sĩ giải phóng và hình ảnh của người thiếu nữ ấy đã đưa tôi đi đến quyết định viết cuốn sách này. Mong rằng cuốn sách được viết tự đáy lòng của tôi sẽ khiến tôi vợi bớt nỗi đau đớn, dằn vặt vì ân hận. Và tôi cũng mong rằng sẽ có thêm nhiều người nữa hiểu về sự thật của lịch sử Việt Nam qua những gì tôi đã hiểu trên chiến trường. Cái chết của người chiến sĩ giải phóng đó đã góp phần viết nên trang sử hào hùng của Việt Nam”.

Hình ảnh của người chiến binh Việt trong cuốn Hồi ức của vị tướng Hàn Quốc khác xa với hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nơi họ bị vẽ ra với lời phỉ báng “Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và văn hóa. Đồ rác rưởi!”.

Như vậy, có thể thấy, nhiều cựu binh Mỹ, cựu binh Hàn Quốc từng tham chiến ở Việt Nam đã cho mọi người thấy chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến này. Chiến tranh chính nghĩa khiến con người ta dù chết cũng không hối tiếc, dù mang thương tật cũng không sờn lòng. Điều đáng tiếc là trong khi đó, chính một số người Việt Nam, có cả những người cầm bút, lại có cái nhìn về cuộc chiến tranh không thích hợp. Nhân danh cái gọi là chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân bản để bôi xấu chiến tranh chính nghĩa, xóa nhòa những giá trị thiêng liêng của quá khứ đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Giai đoạn gọi là “thời kỳ đổi mới” với những cây bút như Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương… hay cái nhìn của những người như nhà báo Huy Đức (Trương Huy San) sau này thực chất chỉ là sự phủ nhận quá khứ trên lập trường ngụy nhân bản, phi dân tộc.

Hậu quả của “sự đổi mới trong văn học” như vậy là gì?

Là, phản ánh chiến tranh như vậy chỉ gieo rắc những ám ảnh sợ hãi, chỉ đẻ ra những nhân cách yếu đuối, ích kỷ, tầm thường chỉ biết than vãn.

Ngay trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta vẫn cần phải có những người cầm súng và sẵn sàng chấp nhận cái chết để bảo vệ Tổ quốc. Run sợ chiến tranh, tinh thần ích kỷ, khiếp nhược, cam chịu làm nô lệ cho xâm lược; còn đâu là độc lập và danh dự của Tổ quốc, nhân phẩm và tự do chân chính của con người!

Văn học cần phản ánh đúng về chiến tranh, phản ánh đúng sự thật chính nghĩa và phi nghĩa để làm trong sáng, mạnh mẽ cho tâm hồn con người, để xây dựng nên những con người biết rõ danh dự làm người, có chất thép trong tâm hồn cùng với những tình cảm cao cả và sâu sắc.

Văn học phải đóng góp cho việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn mới này, vì chúng ta đang sống trước một thế giới đầy biến động, mà những hăm dọa và hành động bạo lực còn là những thách thức đối với dân tộc và con người Việt Nam. 

Điện Biên Phủ, 30/3/2016

Ts. Ngữ văn Phạm Thị Xuân Châu
(Trường THPT TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 398

————————————

(*) Có thể xem thêm Trần Thái Bình trong “Dấu tích người nước ngoài trong lịch sử Việt Nam”, NXB Trẻ – 2010.

Ý Kiến bạn đọc