XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chiến sĩ – Tiến sĩ và Kẻ sĩ

Tiếp theo số báo 414 ngày 11-8-2016

Hiểu thế nào là kẻ sĩ, quân tử … cho tường tận không phải dễ dàng năm câu ba điều mà được. Chỗ này các mục chữ sĩ, thế nào là quân tử trong Nhàn đàm (Ông Văn Tùng sđd 340-355) sẽ giúp hiểu được phần đại cương. Tôi hiểu ý của nhà văn Chu Văn Sơn và nhà thơ Đỗ Trung Lai xem kẻ sĩ là sự tốt đẹp, cao quý, hay hơn tiến sĩ. Đúng thế, làm tiến sĩ bây giờ thì quá dễ, nhưng làm kẻ sĩ thì không phải dễ. Như bài trước đã nói, kẻ sĩ đâu phải chuyện bằng cấp, kẻ sĩ đương nhiên là phải có học, thậm chí học phải thâm sâu, nhưng học để hiểu biết rồi đem cái hiểu biết đó ra thi thố, cứu đời, giúp dân, Kẻ sĩ chân chính là thật tâm thương dân, “Khổng – Mặc – Lão… thực tâm thương dân, mỗi nhà đưa ra mỗi phép cứu dân, Khổng: chính danh. Mặc: kiêm ái. Lão: dân khổ vì sống không theo đạo” (Nhàn đàm sđd trang 349).

Vì vậy khát vọng trở thành kẻ sĩ hay có nhiều kẻ sĩ hơn là chính đáng. Nhưng từ khát vọng đến hiện thực thì ai cũng biết như khát vọng chinh phục đỉnh Phanxipăng. Cứ ngồi dưới chân núi mà ước mơ thì cũng chỉ là ước mơ. Kẻ sĩ, quân tử có từ hàng ngàn năm nay, ít ra là từ Khổng Tử. Biến thiên nhiều lắm về sau này và hiện nay chúng tôi hiểu đó là một danh hiệu cao quý, người đời tôn vinh những bậc có công đức, có nhân cách cao trọng. Con đường trở thành kẻ sĩ là con đường của học tập và tu dưỡng, học và hành, hành động. Có thể hiểu điều này qua lời Tư Mã Thiên.

“Tôi nghe sửa mình là dấu hiệu của trí, yêu thương giúp đỡ người là dấu hiệu của nhân; định nên lấy cái gì, cho cái gì, là dấu hiệu của nghĩa. Gặp điều sỉ nhục là dấu hiệu của dũng; lập danh là cái cao nhất của Đức-Hạnh. Kẻ sĩ có năm điều ấy thì mới có thể sống ở đời, mà đứng vào hàng quân tử” (Sử ký Tư Mã Thiên trang 31 tập 1 NXB Văn Học 1988, dẫn theo Nhàn đàm sđd trang 351).

Đó là con đường tu dưỡng của kẻ sĩ, theo quan niệm của đại danh sĩ, nhà sử học Tư Mã Thiên. Còn gần gũi với chúng ta là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ Hồ Chí Minh nói cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư…, phò chính trừ tà, khuyến thiện, trừng ác…

Có thể nói từ Khổng Tử, Tư Mã Thiên đến Hồ Chí Minh, kẻ sĩ là người trọn đời trọn vẹn lo cho dân, cho nước, vì dân, vì nước.

Anh-minh-hoa---Chien-si-Tien-si-va-Ke-si

Con đường để trở thành kẻ sĩ như đã nói là con đường tự tu dưỡng, con đường hành động, mỗi người có một con đường, không ai giống ai, chỉ có mục đích là chung “Độc hành kỳ đạo, độc thiên kỳ thân” như người xưa cũng là một cách, mà giúp đỡ nhau cùng đi trên con đường đời, cũng là một cách.

Nội dung phải tu dưỡng để thành kẻ sĩ, quân tử, như thế là quá rõ, cũng không khó hiểu, nhưng thực hành được lại là sự vô cùng khó, sinh thời mà được tôn vinh là kẻ sĩ thì xưa nay hiếm lắm. Vì rằng những bậc hiền nhân quân tử, không bao giờ tự xưng, tự phong. Họ sống theo đạo, như nói phấn đấu, chiến đấu theo lý tưởng ngày nay, còn thành tựu đến đâu, người đời mới biết, mới “định luận” được.

Nếu cứ nhăm nhăm để thành quân tử lại chính là tiểu nhân, muốn thành kẻ sĩ lại hóa ra vô sỉ.

Nội dung tiêu chí của kẻ sĩ như Khổng Tử nêu: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; như Tư Mã Thiên cụ thể hóa ra nó vừa là tinh hoa của cuộc sống con người, vừa gần gũi với con người. Thiết tưởng là con người bình thường còn giữ được lương tri lương năng, giữ được thiện căn thì ai cũng có phần nào tính chất kẻ sĩ trong mình.

Cho nên tu dưỡng để trở thành kẻ sĩ rất đáng quý, mà nói theo tấm gương của kẻ sĩ, sống theo gương kẻ sĩ quân tử cũng đáng quý. Có người bảo Chu Giang hiểu gì về kẻ sĩ, đã là kẻ sĩ chưa mà rậm lời như thế. Thưa! Chu Giang cũng như hàng triệu, hàng tỷ người bình thường, Chu Giang tìm hiểu về kẻ sĩ để nói theo cũng là phải lẽ chứ sao. Cũng nghĩ rằng muốn nói theo, sống theo, làm theo, thì phải hiểu cái sự mình muốn theo, nên nhân chuyện của tiến sĩ – nhà văn – nhà giáo Chu Văn Sơn cùng thi sĩ Đỗ Trung Lai mà bàn góp vậy thôi, cũng là thêm một bài học cho mình.

Điều Chu Giang muốn xin ý kiến bạn đọc chính là chỗ này: Những phẩm chất của kẻ sĩ cao quý như thế, thiết thực cho từng con người và  cả xã hội, có thể xem đây là phát hiện vĩ đại, là cống hiến vĩ đại của Văn hóa Nho giáo cho văn hóa, cho lịch sử nhân loại. Chu Giang và thế hệ của Chu Giang đã không được học, không được thừa hưởng trong chương trình giáo dục quốc gia cũng như trong các sinh hoạt xã hội khác. Có tìm hiểu được ít nhiều vào buổi xế chiều đều qua các bản dịch sang chữ quốc ngữ. Cứ hối tiếc rằng giá như được biết sớm hơn thì đã tránh được biết bao lỗi lầm, ngộ nhận. Cho đến hôm nay Chu Giang còn thấy nhiều bậc, nhiều vị đã cao niên, bằng cấp đầy người, vẫn đang rất ngộ nhận, có khi vô tình, có khi cố ý. Sở cứ thì rất nhiều, Chu Giang sẽ nói sau.

Trước hết tự hỏi, rồi hỏi các bậc thiện tri thức mấy điều sau đây:

Những tinh hoa văn hóa của nhân loại như Nho giáo, với khái niệm kẻ sĩ, quân tử, với ngũ thường “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, với chính danh, như Phật giáo với Ngũ Giới, Bát Chánh Đạo, Thập Thiện, lòng Từ, đức Khiêm hạ, Vị tha Vô ngã… mà không được tiếp thu, có phải là thiệt thòi cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình đến cả đất nước dân tộc hay không?

Bỏ thi chữ Hán vào năm 1919, đồng nghĩa với bỏ dạy và học chữ Hán trong nhà trường có phải là một đòn hiểm ác, chặt đứt mối liên hệ văn hóa dân tộc với các thế hệ sau này hay không?

Tự hỏi, rồi tự trả lời.

Nếu được học từ sớm những tinh hoa của Nho giáo, Phật giáo thì như đã nói tránh được biết bao nhiêu sai lầm ngộ nhận, sẽ được hưởng cuộc sống khác hơn, bớt căng thẳng hơn, tự tin, tự chủ hơn. Nhớ năm xưa họp cơ quan, chi bộ cơ quan năm ấy chủ trương các đảng viên không nói gì, lắng nghe quần chúng phát biểu. Nhà thơ Lữ Huy Nguyên lúc ấy là trưởng phòng LLPB,  sau này là giám đốc, anh phát biểu trước liền một mạch gần 2 giờ đồng hồ, hội nghị im phăng phắc lắng nghe, tiếp đến Chu Giang nói hơn một giờ nữa.Thế là xong một buổi sáng, dường như mọi bức xúc từ hàng chục năm giờ được dịp tuôn ra, ấy là vào năm 1978, bây giờ nghĩ lại cứ xấu hổ mãi, gặp đâu nói đấy, thấy đâu nói đấy thôi, chứ đã biết, đã hiểu cơ sự đến đâu mà nói. Người xưa nói “biết thì không nói, nói là không biết”. Nói là nói vậy thôi, rồi mọi sự vẫn đâu vào đấy… Mà như vừa đây thôi, cái giọng văn sao mà hài hước, gay gắt thế, dám chỉ nghị các bậc trưởng thượng, cứ như là nói với cùng trang lứa. Nguyễn Văn Thọ bảo anh viết có sở cứ, chắc chắn nhưng căng quá, dịu xuống một chút thì hay hơn. Trần Đăng Khoa lại bảo, nếu thế thì đâu còn là Châu Giang. Nhưng nghĩ lại Chu Giang vẫn còn mặc cảm tiểu nhân như cụ Ông Văn Tùng nói, cứ nghĩ vị ấy đã bảo mình là thợ đánh, thợ đấu, là tiến thân theo kiểu này, kiểu kia, là nói vu cho mình thì sao lại không vạch cái chỗ tiểu nhân vô sỉ của vị ấy ra. Gạo nhà Chu ăn ngon mà canh rau vi chê đắng. Mãi hôm thầy Tùng nói câu phản tức đồng, giảng giải ra mới thấm, thế là cãi vã tay bo, tay đôi, một chọi một, mà như thế cũng là ngang hàng với họ (tức đồng)  là như các cụ nói tiếng bấc nói đi, tiếng chì nói lại, có dứt cuộc thì vẫn thấy trong lòng ấm ức, phải đứng cao hơn những lời lẽ tiểu nhân, xót thương cho họ, còn vô minh. Nhà Phật cũng nói thế. Họ bảo mình thế này, thế kia, nhưng mình không có thì việc gì phải đáp lại. Nhổ nước bọt lên trời xanh thì có sợ gì,  lý thì như thế, nhưng sự đời nó quen từ thuở nhỏ, còn nặng căn lắm, cố sửa mà vẫn chưa được, buồn quá. Cứ nghĩ bị vu oan, giá họa, miệng lưỡi thế gian,  một truyền mười, mười truyền trăm, hắn đấy à, y ta đấy à, thợ đánh thợ đấu đấy à… Giáo sư bảo thế đấy, liệu mà … thế thì làm sao mà chịu được chứ!

Thế thì, đã thế thì thế… Ít lâu sau đọc lại mới thấy mình mới là hạng Lưu Ngưng Chi, chưa đến được hàng Thẩm Lân Sĩ, mà lời bình của Tô Thức (Tô Đông Pha) (*)nhẹ nhàng mà sâu sắc biết bao, mình đúng là còn tiểu nhân quá, được khen chút đỉnh đã phổng mũi lên, được chê chút đỉnh đã xưng xỉa lên, mình không đánh ai, đấu ai, thì sợ gì mấy lời thị phi mà phải nhảy thách lên, đúng là “bất học bất tri lý”.

Bây giờ nhiều người đang đề cao chữ Quốc ngữ, chiêu tuyết tôn vinh cho những người có công truyền bá chữ Quốc ngữ, kể cũng có phần đúng. Vài ba tháng đã đọc thông viết thạo, còn chữ Hán thì phải mười năm nấu sử sôi kinh. Học đọc, học viết thì đúng là chữ Quốc ngữ mẫu tự la tinh nhanh thật, nhưng mà hiểu thì khác. Sự hiểu thì không thể nói thứ chữ nào hơn thứ chữ nào.

Chỉ có một chút niềm riêng, cụ ngoại Chu Giang làm huấn đạo Cẩm Thủy khoảng năm 1913. Đến đời con cũng theo đòi chút ít, nhưng rồi cũng như cụ Tú Xương nói: Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co, chữ Hán mai một, chữ quốc ngữ, chữ Pháp lên ngôi,  đến đời cháu chắt như Chu Giang thì tàn. Phần bị đốt hồi cải cách ruộng đất, còn sót chút nào thì con cháu đem phết diều. Giờ về nhà thờ chỉ biết thắp hương, khấn vái, kính cẩn ngắm bức đại tự với mấy đôi câu đối mà không biết cụ nói điều gì cho con cháu. Cho nên nhà bác ngữ học Cao Xuân Hạo nói đúng lắm:  Chữ quốc ngữ là một thảm họa không thể chối cãi. Nó như một nhát gươm hiểm độc chặt ngang mối liên hệ văn hóa của dân tộc. Mối liên hệ tình nghĩa, máu mủ, ruột thịt trong gia đình, dòng họ, làng xóm từ trong nhà ra đến nhà thờ họ, đến đình làng, đến chùa chiền, đền, miếu… Nếu còn giữ được con em không hiểu được phần chữ Hán-Nôm.Tư tưởng tình cảm của cha ông mình mà hóa ra như của người nước ngoài, phải thuê người phiên dịch, sự mất mát này  thực là lớn lao không gì bù đắp lại được.

Có bạn đọc bảo tại Châu Giang không đi học chữ Hoa, chữ Hán, vẫn có môn ngoại ngữ tiếng Trung, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây vẫn có giáo trình văn học Việt Nam, cổ, trung, đại, vẫn có giảng Nho giáo, Phật giáo… tuy không nhiều.

Vâng có đấy, gọi cho đúng là cho nó có thôi, làm sao bài bản, hệ thống bằng sự học chính bằng chữ Hán-Nôm. Sao không hỏi Nhà nước Bảo hộ lại bắt buộc học chữ Quốc ngữ từ cấp sơ học, đồng ấu, đến trung học, cao đẳng thì toàn bằng tiếng Pháp mà là bắt buộc trong hệ thống trường Pháp-Việt ở phạm vi cả ba xứ Việt Nam, Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Tuy thời đó chữ Hán cũng có cho học chút ít, mỗi tuần mấy giờ, coi như một thứ ngoại ngữ, như thế thì đa số người Việt không thể tiếp thu, tiếp tục được truyền thống văn hóa của ông cha họ, đơn giản vì họ không đọc được chữ Hán-Nôm, mà truyền miệng thì chỉ có hạn, cho nên xét trên tổng thể lịch sử văn hóa thì chữ quốc ngữ cũng có công, nhưng tội còn lớn hơn nhiều.

Bây giờ ta thử liên hệ xem, do không được tiếp thu, nhuần thấm tinh hoa văn hóa Nho giáo, mà danh hiệu kẻ sĩ là tiêu biểu, ảnh hưởng như thế nào đến tầng lớp nhà văn và một bộ phận trong giới trí thức có học vị cao là tiến sĩ.
Hãy xem các nhà văn trước.

Một nhà văn có tài như Nguyễn Huy Thiệp ra nước ngoài lại nói thế hệ tôi nôn mửa vào cuộc chiến tranh ấy, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Ông khinh bỉ Hội Nhà văn Việt Nam ra mặt, bảo đa số là chập cheng, lưu manh, vô học, thế nhưng ông vẫn xin vào Hội Nhà văn, vừa rồi lại nhận chân ủy viên hội đồng văn xuôi của Hội và Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng ông vẫn nhận.

Ôi! Nhờ có cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc chiến tranh chống Mỹ là giai đoạn quyết liệt cuối cùng đã thắng lợi. Nhờ đó mới có đất nước Việt Nam thống nhất, có địa vị trên trường quốc tế, và xã hội này hệ thống chính quyền và đoàn thể, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam là thành quả của cuộc chiến tranh ấy đấy.

Nhà văn Nguyên Ngọc kiên quyết phủ nhận đường lối Hồ Chí Minh, đề cao đường lối Phan Châu Trinh, từ chối giải thưởng Hồ Chí Minh nhưng lại nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội.

Nhà thơ Phan Huyền Thư có “đạo văn” trong tác phẩm “Sẹo độc lập” vẫn được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng.

Nhà văn Nguyễn Quang Thân viết tiểu thuyết “Hội thề” xuyên tạc lịch sử, giễu cợt bỉ báng Lê Lợi và Nguyễn Trãi rất thậm tệ, lại được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng giải nhất…

Các nhà văn Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Điệp, Chu Văn Sơn, Ngô Văn Giá trong hội đồng chấm luận văn Vị trí của kẻ bên lề … đồng thuận cho điểm 10 tuyệt đối, nghĩa là trên xuất sắc, nhưng nội dung luận văn này đi ngược lại đường lối giáo dục, ngược lại chức năng của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ngược lại huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh như đã nói ở phần trước.

Các nhà văn Nguyễn Đình Chú, Phong Lê, Trần Đình Sử… rất không trung thực khi trích dẫn cụ Phạm Thượng Chi trong câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” đi đến bình luận đánh giá sai, đưa đến cho công chúng cho dư luận bạn đọc và giới khoa học một tri thức rất sai lầm.

Và còn rất nhiều ì xèo qua mỗi đợt kết nạp hội viên và trao giải thưởng. Có người như cố Chủ tịch Hội Kiều học – Phó giáo sư – Nguyên Viện phó Viện Văn học Nguyễn Văn Hoàn có đơn xin vào Hội từ rất lâu, cũng như tác giả Lưu Mạnh Bổng (tức Lưu Liên) Nguyên Viện phó Viện Văn học cũng có đơn xin vào Hội từ lâu lắm mà vẫn chỉ là đơn xin vào, trong khi đó cả vợ chồng Giáo sư Nguyên Viện trưởng Phong Lê thì đều là hội viên, lại đăng ký giải thưởng nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh. Rồi có nhà văn chạy đến bạn bè đồng quà tấm bánh có lời xin trước cái… giải thưởng.

Những sự như thế mà soi vào phẩm chất kẻ sĩ, ta thấy thế nào, xin trích truyện “Nhan Súc nói chuyện với Tề Vương”.

Vua Tuyên Vương nước Tề đến chơi nhà Nhan Súc .Vua Bảo:

- Súc lại đây.

Nhan Súc cũng bảo:

- Vua lại đây?

 Các quan  thấy vậy nói:

- Vua là bậc Chí Tôn, Súc là kẻ thần hạ.Vua bảo “Súc lại đây”, Súc cũng bảo “Vua lại đây”, như thế có nghe được không?

Nhan Súc nói:

- Vua gọi Súc mà Súc lại thì Súc là người hâm mộ thần thế. Súc gọi vua mà vua lại, thì vua là người quý trọng hiền sĩ. Nếu để Súc này mang tiếng hâm mộ thần thế thì sao bằng để vua được tiếng quý trọng hiền tài.

Vua nghe nói giận lắm gắt lên rằng:

- Vua quý hay kẻ sĩ quý

Nhan Súc đáp:

- Sĩ quý, vua không quý.

- Có sách nào nói thế không?

- Có! Ngày trước nước Tần sang đánh nước Tề có hạ lệnh: “Ai dám đến gần mộ ông Liễu Hạ Quý mà kiếm củi thì bị xử tử”. Lại có lệnh “Ai mà lấy được đầu vua Tề thì được phong thần và thưởng ngàn vàng. Xem thế đủ biết cái đầu ông vua sống thực không bằng cái mả kẻ sĩ đã chết.

Vua Tuyên Vương nói: “Than ôi! Người quân tử ai mà dám khinh!”

Rồi tôn Nhan Súc là Tiên sinh, xin làm đệ tử, rồi mời Nhan Súc ra làm quan, Nhan Súc nói:

- Ngọc vốn ở núi, lấy ra mài giũa, chế làm đồ vật, tuy đem bày biện có phần quý báu nhưng cũng là hỏng, vì vóc ngọc không còn, kẻ sĩ ở nơi thôn dã, bỏ ra làm quan tuy vinh hiển thật, nhưng hình thần không còn được toàn. Súc xin ở nhà, lúc đói mới ăn thì cũng ngon miệng như ăn cơm thịt, lúc đi, cứ bước một khoan thai thì cũng nhẹ nhàng như lên xe xuống ngựa, suốt đời không tội lỗi cùng ai, thì cũng sung sướng như quan cao chức trọng, hình thần lúc nào cũng trong sạch, chính đính, thế là đủ khoan khoái cho Súc rồi. (Cổ học tinh hoa trang 112 – NXB VH 2001).

Nhà văn khác nhà văn kẻ sĩ có lẽ như thế.

Còn tiến sĩ, sự đã nhiều lắm không dám dài dòng, tiến sĩ là nhà khoa học, nhà khoa học là nhà nghiên cứu phát minh sáng chế ra những công nghệ tiên tiến, thực dụng giúp cho sự sản xuất vật chất và tinh thần phong phú hơn lên, mạnh mẽ hơn lên, sự việc thì nhiều lắm, như phần đầu đã nói, giờ không nhắc lại chuyện Năm lúa Tây Ninh, Hai Trà Vinh, mà chỉ nói ông chủ tiệm photo ở Gia Lai nơi tôi vừa nhờ đánh máy vi tính bản thảo, thay vì gõ vào bàn phím, ông lấy cái micro ra đọc, đọc xong âm nào, câu nào thì màn hình hiện lên phần chữ, chữ đó, câu đó. Chỉ mấy phút xong một trang A4, chỉ xem, sửa lại cho chỉnh theo bản thảo. Nếu chữ khuyến, gõ đến bảy lần, còn thiết bị này chỉ thấy hết có một tiếng đọc, một thao tác. Tôi hỏi ông mua thiết bị này ở đâu? ông bảo tự chế lấy, từ âm thanh qua phần mềm xử lý thành ký tự. Tôi thấy đây là một phát minh có giá trị kinh tế – xã hội rất lớn. Ở Việt Nam, bây giờ độc nhất chỉ có ông thôi, nếu đăng ký bản quyền xin lập xí nghiệp sản xuất hàng loạt có thể tới hàng triệu bộ thiết bị, thì ông trở thành tỷ phú, bảo sao ông không làm, ông bảo mình làm cho mình xài cho đỡ mệt, mà nhanh cho khách hàng, không có ý phổ biến vì ớn cái vụ máy bay, tàu ngầm lắm.

Tôi thấy 24.300  tiến sĩ, nhất là tiến sĩ ngành tin học, công nghệ thông tin biết một sự việc nhỏ này cũng đủ hiểu con đường từ tiến sĩ đến kẻ sĩ. Chung quy cũng chỉ là như thế, lưu ý thêm là ông chủ tiệm này không có bằng cấp, học vị gì cả.

Kẻ bỉ nhân có mấy lời tha thiết, mong được các bậc cao minh chỉ giáo cho, thật là một bài học vô cùng quý giá.

Xin cung kính!

Phố Núi Gia Lai, ngày 10-8-2016

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 415

__________________________

(*) Lưu Ngưng Chi, Thẩm Lân Sĩ, Tô Thức: Xem truyện “Hòa thuận với mọi người” trong Cổ học tinh hoa, trang 188, NXB Văn Học, Hà Nội- 2001.

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chiến sĩ – Tiến sĩ và Kẻ sĩ

(Tiếp theo số báo 413, ngày 4/8/2016)

Chúng tôi vô cùng cảm ơn lời chỉ giáo của Giáo sư – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hội Nhà văn Việt Nam. Xin được đính chính như sau: Việc chuyển đổi học vị Phó tiến sĩ thành Tiến sĩ là có cơ sở và được cộng đồng khoa học quốc tế chấp nhận. Vì học vị Phó tiến sĩ ở Liên Xô cũ tương đương với học vị Tiến sĩ ở các nước Âu – Mỹ. Khi hội nhập quốc tế cần phải chuyển đổi lại. Dùng các học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học là đúng thông lệ. Xin lỗi bạn đọc, các Phó tiến sĩ và các cơ quan chức năng hữu quan.

Thực ra, học vị Tiến sĩ hay số lượng đào tạo không quan trọng bằng chất lượng đào tạo và hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn. Tình trạng đào tạo hàng loạt Tiến sĩ nhưng chất lượng kém như tác giả Đỗ Trung Lai nêu lên là có thực. Trong bài Đổi mới giáo dục và sách giáo khoa, phần Triết lí giáo dục và cách mạng giáo dục (Luận chiến văn chương, quyển Ba, trang 289-343, NXB Văn học, H.2015), chúng tôi đã trích dẫn ý kiến và số liệu của các tác giả trong và ngoài nước về tình hình giáo dục và đào tạo trên đại học. Nay xin nhắc lại để bạn đọc hình dung được toàn cảnh thực trạng. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT thì đến năm 2013 Việt Nam có khoảng 24.300 Tiến sĩ. Trong đó 633 là giảng viên các trường cao đẳng; 8.519 là giảng viên các trường đại học. Năm 2012, có 440 trường đại học trong đó 77 trường tư thục. Năm 2013, có khoảng 101.000 Thạc sĩ. Như vậy đến nay – 2016, số lượng Tiến sĩ có thể tới gần 30.000.

Đánh giá trình độ khoa học của đội ngũ Tiến sĩ, thường dựa vào các công trình khoa học, các bài báo trên các tạp chí khoa học có uy tín. Số liệu trong 10 năm, từ 1995 đến 2004 như sau: Việt Nam có 3.236 bài báo. Trung bình 300 bài/năm; Hoa Kỳ 300.000 bài; Nhật 75.000 bài; Đức 66.000 bài. So với khu vực thì: Thái Lan 14.594 bài; Malaysia 9.742 bài. Việt Nam bằng 1/3 Malaysia; 1/5 so với Thái Lan.

Về số trường đại học, Thái Lan đã có đại học từ 1887. Đại học uy tín nhất, Chulalongkorn xây dựng năm 1917, đến 2011, chỉ có 159 trường đại học, chưa bằng nửa Việt Nam.

Về năng suất lao động, bằng 1/10 Indonesia; 1/20 Thái Lan; 1/135 của Nhật Bản (Tuổi Trẻ, 2/11/2013).

Trình độ khoa học và hiệu quả thực tiễn là như thế.

Nguyên nhân của tình trạng trên đều ở Bộ GD-ĐT về việc cho mở trường đại học rất ào ạt và số lượng đào tạo Tiến sĩ rất lớn.

Trong một thời gian ngắn, khoảng trên 10 năm, mà mở ra hơn 400 trường đại học, thì giảng viên sẽ vừa thiếu vừa yếu. Dạy trường mình rồi còn đi thỉnh giảng liên miên. Trình độ có hạn, sức khỏe có hạn, thời gian thì cố định. Như vậy còn lúc nào để nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ, cập nhật thông tin khoa học. Tôi có gửi tặng một Phó Giáo sư – Tiến sĩ mấy số báo từ tháng 4/2016 trao đổi học thuật với các Giáo sư Trần Hữu Tá, Nguyễn Đình Chú, Phong Lê và Hội Kiều học, nghĩ rằng những vấn đề này chắc được quí PGS-TS quan tâm. Đến tháng 7/2016, tôi có việc đến Hội Nhà văn, tình cờ thấy hộp thư của PGS-TS để trống (không khóa), mở ra thấy mấy số báo vẫn nằm đó. Tôi ngậm ngùi lấy lại của mình để đỡ phiền đến vị Tiến sĩ khả kính. Hỏi ra mới biết quí PGS-TS hội họp liên miên, chuẩn bị hết Hội thảo này đến Hội thảo kia đến Trại viết nọ. Khổ! Ai bảo đi làm khoa học làm gì cho cực thân. Sao chẳng trả lại cái bằng cho nó nhẹ mình.

Do thiếu thầy dạy cho hơn 400 trường đại học nên chắc chắn phải du di về tiêu chuẩn, về trình độ, rồi cấp tốc đôn lớp dưới lên, mở toang cánh cửa ngôi nhà Tiến sĩ cho đội ngũ Thạc sĩ ào ào xông tới – theo cách nói của nhà thơ Đỗ Trung Lai.

Thầy dạy đã yếu, đã thiếu thì thầy hướng dẫn khoa học cũng không hơn gì, cho nên hướng dẫn khoa học qua loa, xào đi xáo lại mấy đề tài khuôn sáo. Tôi đồ rằng Hội đồng chấm Luận văn Vị trí kẻ bên lề… trong đó có 4 nhà văn hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Điệp, Chu Văn Sơn, Ngô Văn Giá đã đọc rất qua loa, làm việc cẩu thả và nể nang xuê xoa với người hướng dẫn khoa học. Vì, nếu còn một chút trách nhiệm, lương tri, lương năng của người thầy, không ai nỡ làm ngược lại lời Huấn thị của Lãnh tụ được khắc bằng chữ vàng, trang trọng treo cao phía mặt tiền của Đại học Sư phạm Hà Nội:

“Làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước”.
(Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm trường ngày 21/10/1964) 

Nếu nghiêm túc, khoa học thì các quí thầy nên tự nguyện rời bỏ nhà trường sư phạm này, đi làm cái văn đoàn độc lập cho nó… tự do đổi mới…!

Việc mở trường đại học và đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ như thế không tránh khỏi tình trạng thương mại hóa. Có 77 trường đại học tư thục. Mà tư thục trong cơ chế thị trường là lợi nhuận. Có mấy chục tỷ là mua được trường đại học. Một tư nhân hạng vừa vừa sở hữu 2 trường đại học. Đã kinh doanh thì lợi nhuận làm đầu làm chính, chất lượng học thuật không nên nói đến. Cứ mỗi mùa tuyển sinh là ào ạt, điểm đầu vào đến dưới sân, mới thi xong đã có giấy báo giấy mời vào học. Miễn sao cho đủ số. Chất lượng miễn bàn. Mấy năm trước, tôi có đưa người nhà đi giảng bài cho hệ Đào tạo đại học từ xa. Tổ chức hay lắm. Thầy ở Huế ra Sơn Tây dạy. Thầy ở Hà Nội vào tận Đồng Tháp. Hỏi học trò như thế nào. Dễ lắm. Ghi tên vào lớp. Đến kỳ giảng tập trung lại một hội trường. Hàng trăm. Thầy giảng bài bằng míc, ampli đeo phía sau lưng. Đúng là trò nghe như vịt nghe sấm. Mà thầy giảng thì như nước đổ đầu… vịt!

Đào tạo đại học như thế, làm sao có chất lượng nói chi đến nhân tài!

Trong đời một nhà khoa học, nên hướng dẫn mấy học trò thì vừa? Nếu hướng dẫn khoa học như ở Viện nọ mà nhà thơ Đỗ Trung Lai đã nêu, trong 2 năm đào tạo tới 700 Tiến sĩ. Nếu trừ ngày nghỉ, lễ Tết ra, thì ở Viện đó, mỗi ngày phải có hơn một Hội đồng chấm luận án. Thế thì thầy chấm Luận án đọc vào lúc nào, viết nhận xét, phản biện vào lúc nào, Bảo vệ ở cơ sở vào lúc nào, hay chỉ làm cai đầu dài khoán cho các cơ sở khác? Phải chăng đã có thêm một loại hình hoạt động khoa học là chuyên khoa khoán đào tạo Tiến sĩ? Mong nhà thơ Đỗ Trung Lai chỉ đích danh cái Viện đó cho quốc dân được biết.

Nhưng cách tổ chức hệ thống trường đại học và đào tạo Tiến sĩ không phải do ông Nam Tào Bắc Đẩu nào chủ trương. Nó phải xuất phát từ quan điểm, triết lý giáo dục – đào tạo của cơ quan chủ quản.

Có lẽ bắt nguồn từ quan điểm, triết lý đào tạo nguồn nhân lực. Khái niệm này hướng đến người làm, đến sức người hơn là hướng đến con người hài hòa giữa tri thức nhân văn và tri thức khoa học – kỹ thuật. Thế giới hiện đại, thời hiện đại, khoa học – kỹ thuật giữ vai trò như thế nào thì không cần phải nói. Nhưng con người trong thế giới đó, thời đại đó, thì cần phải suy nghĩ cho thấu đáo. Nhân lực cho khoa học – kỹ thuật không mâu thuẫn nhưng cũng không đồng nhất với nhân lực quản lý, nhân lực tổ chức lãnh đạo, nhân lực trong ngành khoa học – xã hội và nhân văn. 

Ngày nay, học sinh chỉ lao vào những ngành nghề có khả năng có thu nhập cao. Các bộ môn khoa học – xã hội và nhân văn như văn học, lịch sử, triết học… rất ít người vào học. Và tình trạng dạy và học thì cũng không có gì tin tưởng lắm. Người ta hay nói đến dạy kỹ năng sống. Nhưng âm hưởng của cụm từ này cũng như đào tạo nguồn nhân lực, nó hướng người ta về mặt kỹ thuật, sức mạnh kỹ thuật thực dụng hơn là tâm hồn, tình cảm, tinh thần, bản lĩnh tự chủ trong cuộc sống.

Từ quan điểm, triết lý giáo dục – đào tạo đến thực tiễn tổ chức đào tạo đại học và trên đại học, đào tạo Tiến sĩ đã đưa đến kết quả như thế: Thừa Tiến sĩ, thiếu Kẻ sĩ.

Có thay đổi được tình trạng không?

Sao lại không! Vấn đề là có dám nhìn vào thực tại để thay đổi hay không?

Trước hết hãy xem thực trạng chất lượng đào tạo Tiến sĩ, cả thầy và trò như thế nào. Hãy lấy ra khoảng 50 hay 100 Luận án đã được bảo vệ, lập một Hội đồng thẩm định thật khách quan, nghiêm túc đánh giá xem như thế nào. Hãy lấy các Luận án về khoa học – xã hội và nhân văn, như văn học, để xem xét. Chúng tôi đề nghị xem xét các Luận án về khoa học – xã hội và nhân văn vì lĩnh vực này tuy phức tạp hơn – vì tri thức, đồng thời thể hiện tư tưởng. Một Luận án có thể bộc lộ các yếu tố liên quan cấu thành: Nghiên cứu sinh. Người hướng dẫn. Hội đồng chấm Luận án. Người phản biện. Bộ phận quản lý khoa học… Đồng thời công bố trên báo chí, tạp chí chuyên ngành về danh mục các Luận án đã được bảo vệ trong khoảng 10-15 năm nay, về văn học chẳng hạn, để thấy tình hình đại cương, chẳng hạn xem có sự trùng lặp về đề tài nghiên cứu hay không.

Khảo sát cụ thể như thế sẽ có biện pháp cụ thể để thay đổi điều chỉnh. Chẳng hạn những GS-TS dù là cao niên nhưng học thuật hạn chế, thái độ nghiên cứu khoa học không nghiêm túc, tư tưởng học thuật cực đoan quá khích đi ngược lại đạo lý khoa học và đời sống như các vị Trần Đình Sử, Phong Lê… thì nhất thiết không để vào cương vị hướng dẫn khoa học. Những người thầy mà hành xử trái với đạo lý sư phạm như Hội đồng chấm Luận văn Vị trí của kẻ bên lề… không thể tiếp tục ngồi vào ghế Hội đồng…

Người xưa nói: Có lỗi mà biết sửa thì không còn lỗi. Có lỗi mà không sửa thì thêm một lỗi nữa.

Thiết nghĩ, với tinh thần cầu thị, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật thì không có sai lầm khuyết lỗi nào không sửa chữa được.

Về hệ thống trường đại học phải tổ chức lại. Không thể địa phương hóa đại học. Bởi đào tạo đại học không chỉ là kiến thức mà quan trọng hơn là phương pháp tư duy, trình độ tư duy. Ở phổ thông là đọc hiểu, học hiểu để làm bài. Ở đại học, qua khảo sát lĩnh vực tri thức cụ thể để có tư duy xem xét, nghiên cứu, xử lý. Không chỉ có tri thức về hiện thực mà quan trọng hơn là tư duy về hiện thực. Những năm 60 của thế kỷ trước, do yêu cầu phổ thông cấp I, rồi cấp II (Trung học cơ sở và phổ thông) phải đào tạo cấp tốc giáo viên. Hệ sư phạm 7+1/2 năm (6 tháng), rồi 7+1, 7+2, 9+1, 10+1… là chấp nhận được và sau này đều phải bổ túc lại. Nhưng đại học và Tiến sĩ có thể như thế được không? Sự phát triển không đều giữa các cá nhân trong một cộng đồng là một qui luật tự nhiên. Tài năng được hình dung như hình chóp nón. Càng lên cao, càng tài, càng ít, càng hiếm. Nếu ai cũng qua đại học thành Einstein cả thì phải chờ sang thế giới đại đồng.

Trường đại học là cơ sở, trung tâm nghiên cứu khoa học. Sinh viên học và được thực hành qua các phòng thí nghiệm. Các trường đại học về khoa học – xã hội và nhân văn phải có thư viện lớn, có trung tâm thông tin khoa học. Yêu cầu này, đại học địa phương không thể có được. Và đó cũng là yếu tố làm cho chất lượng đào tạo đại học, trên đại học yếu kém. Tôi hỏi một biên tập viên văn học ở một nhà xuất bản nọ chuyên ngành lịch sử văn học, ra trường đã mươi năm nay, rằng đã đọc Đi bước nữa chưa? Có biết Nguyễn Thế Phương là tác giả của những tác phẩm nào không? Cháu chưa đọc, cháu không biết. Để rồi cháu đọc bác ạ. Đến bao giờ bạn mới đọc? Nếu thầy giáo đại học chỉ dẫn cho các sinh viên phương hướng, nhiệm vụ nghiên cứu chứ không phải giảng cho xong giáo trình thì tình hình đã khác. Bốn năm năm đại học là dài nhưng làm sao học hết được tri thức dù chỉ một bộ môn. Biết phương pháp và phương hướng nghiên cứu, ra đời họ sẽ biết làm được những việc không có trong bài giảng của thầy. Nên chăng phải xem xét lại hệ thống trường đại học hiện nay? Chỉ nên tổ chức đại học theo ngành học và khu vực để có khả năng đầu tư cho nhà trường và chọn lọc tuyển sinh. Cả nước chỉ nên có mấy trung tâm đại học. Thủ đô Hà Nội và đồng bằng Bắc bộ. Miền núi và Trung du phía Bắc có thể 2 trung tâm cho Tây Bắc và Đông Bắc. Miền Trung độ 3 trung tâm Vinh – Huế và Qui Nhơn hoặc Phan Thiết. Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Cửu Long có 1 hoặc 2 trung tâm (Cần Thơ, Long Xuyên). Tây Nguyên nên 1 hoặc 2 trung tâm: Đà Lạt, Buôn Ma Thuột. Ngành đại học mà tổ chức như công nghiệp hồi bao cấp, có công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương… thì hậu quả như thế nào lịch sử đã ghi nhận.

Nguyện vọng học lên đại học của con em nhân dân là rất chính đáng. Xã hội chúng ta mong đến ngày mọi người dân đều được học như nhau “ai cũng có cơm ăn áo mặc. Ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh). Nhưng điều kiện hiện thời chưa cho phép thì phải “liệu cơm gắp mắm”. Không phải có bằng đại học là mới thành người.

Thế nếu không vào đại học, không làm Tiến sĩ, thì họ sẽ làm gì?

Vấn đề này có liên quan đến nhiều vấn đề khác, có dịp sẽ bàn, như vấn đề số dân và chất lượng dân số, về nhân sinh quan của các thế hệ trẻ, cả già lẫn trẻ… Nhưng trước mắt là tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Tình trạng này gây lãng phí rất lớn cho xã hội. Công nhà trường đào tạo. Công của gia đình lo cho ăn học. Cầm tấm bằng đại học đi làm thợ phổ thông trung cấp thì xấu hổ, mà vào các ngành đòi hỏi trình độ cao thì không được. Rơi vào trạng thái bơ vơ, trống rỗng, mất niềm tin vào cuộc sống…

Còn với các “Tiến sĩ giấy” chúng tôi sẽ nói tiếp ở kỳ sau:

Con đường từ nhà văn đến nhà văn Kẻ sĩ, từ Tiến sĩ đến Kẻ sĩ nó như thế nào?

5/8/2016

(Còn tiếp)

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 414

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chiến sĩ – Tiến sĩ và Kẻ sĩ

Cần phải phân biệt các danh vị, học vị, danh hiệu Chiến sĩ – Tiến sĩ – Kẻ sĩ. Nhà văn – Tiến sĩ Chu Văn Sơn (Đại học Sư phạm Hà Nội) cho rằng nhà văn chiến sĩ đã qua thời, nay là nhà văn kẻ sĩ (Hội thảo ở Đại học Văn hóa).

Nhà thơ Đỗ Trung Lai không có hàm vị sư sĩ gì cả, vừa đưa ra nhận xét bây giờ đang thừa Tiến sĩ mà thiếu kẻ sĩ, nêu luận điểm có cơ sở tư liệu rất thuyết phục (Văn nghệ số 30, ngày 23-7-2016).

Mấy năm trước nghe nói ngành Giáo dục – Đào tạo có chủ trương đào tạo 200.000 tiến sĩ trong mấy năm.

Chu Giang xin lần lượt trình bày cách hiểu của mình.

* Chiến sĩ, hiểu nôm na, có mấy nghĩa.

1/ Chỉ người (một hay nhiều) thuộc về một lĩnh vực nào đó. Ví dụ: Chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến sĩ Công an nhân dân, chiến sĩ Hải quân, chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ thuộc tiểu đoàn II… chiến sĩ Hồng quân Liên Xô… với ý trung tính.

2/ Chỉ người đi đầu, tiên phong, xuất sắc trong một lĩnh vực hoạt động xã hội nào đó với ý nghĩa kính trọng, là một danh hiệu.

Ví dụ: Chiến sĩ thi đua, chiến sĩ diệt dốt, chiến sĩ nông nghiệp. Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc…

Cũng nét nghĩa này có thể mở đến tầm cao rộng hơn. Các chí sĩ yêu nước là những chiến sĩ tiên phong trong công cuộc Cần vương hồi đầu chống Pháp. Phan Châu Trinh là người chiến sĩ tiên phong trong phong trào duy tân hồi đầu thế kỷ trước. Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Đàm Tự Đồng là những chiến sĩ tiên phong trong cuộc duy tân ở Trung Quốc; Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch… là những chiến sĩ tiên phong trong xu thế duy tân, đổi mới ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX… Danh hiệu này còn có thể tôn vinh là nhà cải cách, nhà tiên phong…

Như vậy, danh hiệu chiến sĩ vừa có ý nghĩa trong phạm vi xác định vừa có ý nghĩa trong phạm vi rất rộng, rất lâu dài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó”.

Thuật ngữ nhà văn chiến sĩ – hay chiến sĩ văn hóa văn nghệ – vừa mang ý nghĩa xác định về không gian thời gian, vừa mang ý nghĩa rộng lớn, lâu dài, vô tận…

Nghĩa xác định, đó là các chiến sĩ trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ trong công cuộc kháng chiến cứu quốc. Thời kỳ chống Pháp có khẩu hiệu: Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa. Nhà văn chiến sĩ đi đầu trong công cuộc đó.

Nghĩa rộng, thì trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ sĩ luôn luôn là người chiến sĩ, người tiên phong, tiên khu, hăng hái đi đầu, toàn tâm toàn lực chiến đấu – hay phấn đấu, đấu tranh – cho công cuộc đem văn hóa, lấy văn hóa, dùng văn hóa phụng sự cho công cuộc xây dựng xã hội và con người theo hướng Chân – Thiện – Mĩ: Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa phải phò chính trừ tà, khuyến thiện trừng ác. Công cuộc này không hạn chế, bó gọn trong một cuộc cách mạng, một cuộc vận động mà vô cùng lâu dài. Văn hóa là vũ khí là phương tiện hữu hiệu trong công cuộc hoàn thiện con người, vượt qua con người tha hóa (Marx) để tiến tới con người chân thật, con người của một xã hội hòa đồng, không còn cuộc chiến tranh giữa người này với người kia (ý của Marx) Nhà văn chiến sĩ ở đây đồng nghĩa với nhà văn kẻ sĩ.

Với cây bút và quyển sách trong tay chúng ta chiến đấu cho tự do của nhân loại (Romanh Rôlăng). Hãy tạm hiểu chiến sĩ và nhà văn chiến sĩ như thế.

* Tiến sĩ là một học vị khoa học. Mỗi thời mỗi xứ đều có tên gọi cho học vị này. Người Tây gọi là docteur (đốc-tờ) Việt Nam xưa gọi là Tiến sĩ, ông Nghè. Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.

Là học vị khoa học nên có tiêu chuẩn nghiêm ngặt của nó. Tuy tiêu chuẩn cũng tuỳ thời tuỳ xứ nhưng nói chung là nghiêm ngặt, xứng danh.

Trong cuốn “Tổ chức công tác nghiên cứu khoa học” của Prôkhônốp Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ) NXB Khoa học ở ta ấn hành năm 1972 (tôi quên mất tên người dịch, xin cáo lỗi) thì ông phân định tiêu chuẩn khoa học của các học vị Tiến sĩ và Phó tiến sĩ (Thạc sĩ) như sau:

- Phó tiến sĩ: Có khả năng hệ thống được tri thức trong một lĩnh vực khoa học nhất định.

- Tiến sĩ: Người khám phá, đề xuất, đưa ra một khái niệm khoa học với một thuật ngữ khoa học định danh khái niệm đó.

Ở đây, Tiến sĩ là nhà khoa học, đề xuất ra được khái niệm mới, cái mới, lĩnh vực mới. Chẳng hạn Luận án Tiến sĩ: Thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng, nghe nói hôm bảo vệ chính thức, cố giáo sư Đặng Thai Mai đã đến dự. Luận án Tiến sĩ của giáo sư toán học Hoàng Xuân Sính bảo vệ ở Pháp mấy chục năm trước, cũng là danh bất hư truyền. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, các Luận án Tiến sĩ của cố giáo sư Nguyễn Văn Huyên, cố giáo sư Trần Đức Thảo… cũng như thế. Cũng là Luận án Tiến sĩ, Học vị Tiến sĩ, nhưng ở đẳng cấp nhà bác học.

Bởi chất lượng khoa học như thế nên đạt được học vị Tiến sĩ là rất khó. Người được phong học vị đó cũng rất ít. Thường là có quá trình nghiên cứu khoa học, có công trình khoa học, chí ít là nhiều bài báo, tiểu luận có giá trị khoa học, mới tiến lên làm luận án, bảo vệ Luận án trước một Hội đồng khoa học thực sự, có trách nhiệm trước lịch sử khoa học.

Xem thế, tình trạng Tiến sĩ ở ta, như nhà thơ Đỗ Trung Lai nêu lên là hoàn toàn đúng và vô cùng đau xót. Đó là sự tụt lùi, tự tụt xuống về cả tri thức và ý thức khoa học, mà đau xót hơn, là tụt đến độ mo về ý thức học thuật, không còn gì là học phong nữa! Nguồn gốc của tình trạng này thuộc về hai phía. Phía tổ chức quản lí và phía người làm khoa học.

Đổi tên gọi từ học vị Phó tiến sĩ thành Tiến sĩ là khởi đầu của thảm họa. Đến nay vẫn còn câu nói đùa cười ra nước mắt. Ngủ qua đêm, gã phun thuốc sâu (PTS: Phó tiến sĩ) trở thành Ngài Tiến sĩ. Ngài Tiến sĩ! Ngài vui quá, mừng quá, còn hơn bắt được của, hơn nhặt được vàng nên ngọng líu ngọng lô… “… đi sâu tìm hiểu âm đạo chủ yếu của Ban-zắc qua bộ “Tấn trò đời” (thay vì nói Âm hưởng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ban-zắc qua bộ Tấn trò đời)…

Đem sự này hỏi Viện sĩ Prôkhônốp, chắc ông phải… khó nói lắm.

Thứ đến là qui chuẩn hóa (tiêu chuẩn hóa) một cách hình thức máy móc trong đãi ngộ (lương thưởng, thời gian công tác), trong chọn lựa, đề bạt, phong tặng danh hiệu, trong hành nghề (có sư-sĩ thì được mời ngồi hội đồng hướng dẫn khoa học, chấm luận án…).

Phía khác, là giới nghiên cứu sinh. Nói bao nhiêu cho hết. Nên tóm lại: Rất ít có khát vọng khoa học thực sự, khát vọng khám phá, sáng tạo dâng hiến… mà phần nhiều là khát vọng đủ tiêu chuẩn đủ qui trình… thực chất chỉ là vụ danh lợi.

Nữa là cầu danh. Phải làm cái đốc-tờ (Tiến sĩ) chứ! Nhà thơ nhà văn rồi vẫn cố làm thêm cái Tiến sĩ cho nó… sang!

Từ các phía đó hội lại tạo nên một sự đáng buồn. Buồn từ thuật ngữ, học vị: Thạc sĩ, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học. Tức là Thạc sĩ, Tiến sĩ là các học vị không có khoa học, không cần khoa học. Chỉ có Tiến sĩ khoa học mới có khoa học. Đây quả là cách phân định độc đáo nhất trong lịch sử khoa học nhân loại, có lẽ: Do sợ có sự không sòng phẳng rõ ràng khi viết tắt: PTS, thường hay quên, bỏ sót yếu tố P, chỉ giữ lại hai yếu tố TS, cố tình hay vô ý lầm PTS là TS, nên chăng có sáng kiến đổi Phó tiến sĩ thành Tiến sĩ (PTS – > TS) vừa sang trọng vừa khó “lầm”. Còn Phó tiến sĩ thì gọi là Thạc sĩ. Rất khó nhầm Tiến sĩ với Thạc sĩ. Thật là cao kiến! Nhưng Tiến sĩ (TS) với Tiến sĩ khoa học (TSKH) lại cũng dễ lẫn lộn lắm. Tiến sĩ là nhà khoa học rồi. Lại còn thêm khoa học vào, vẽ rắn thêm chân, bỏ “KH” đi cho nó gọn. TS vừa gọn vừa sang: ấy, vỏ quýt dày…! Trong mươi năm, từ mấy chục trường Đại học phát triển lên đến hơn 400 trường Đại học. Rồi các Viện, các Học viện, các Trung tâm… bổ sung vào. Cho nên cái đích 20 vạn tiến sĩ chẳng mấy chốc mà cán đích, hoàn thành xuất sắc. vì “Phàm là Đại học đường là có chức năng đào tạo Tấn sĩ”. Tấn sĩ mẹ đẻ Tấn sĩ con. Cho nên mới có điển hình tiên tiến, Viện khoa học nọ trong hai năm đào tạo được 700 Tấn sĩ (Văn nghệ đã dẫn).

Cái sự này, hệt như ngạch phổ thông: Thầy cô phải dạy giỏi. Trò phải học giỏi. Học giỏi tức là nhiều điểm 10. Học để có điểm 10 thì khó nhưng để có điểm 10 thì có khó gì. Con xin cô… điểm. Cô cho con… điểm. Thầy trò đều vui. Thầy có bằng khen Thầy giỏi. Trò có giấy khen trò giỏi. Thời trước (1955-1975), học sinh giỏi độ 5%. Đa số trung bình. Yếu kém in ít. Nay thì đa số giỏi. Tiên tiến trung bình. Trung bình còn ít. Yếu kém càng ít hơn. Đến học thêm là thành học giỏi. Không học thêm thì không giỏi. Học thêm là chính. Học chính là thêm!

Cứ bảo bệnh thành tích. Cũng đúng. Nhưng bệnh thành tích là cái vỏ, bệnh cơ chế thị trường mới là chính. Trò giỏi thầy giỏi trường giỏi thì… Có tiền mua được trường Đại học! Một nhà đầu tư cỡ xoàng sở hữu mấy trường Đại học.

Mà thôi! Con cháu mình nó đang phải đi học từ mầm non đến cao học. Gì thì gì chúng cũng phải “đáo bỉ ngạn”, phải sang sông, cho nên cái cầu Kiều cứ phải là chắc chắn!

Nhưng mà… dở khóc dở cười. Cười thì khó, cho nên, thi sĩ Đỗ Trung Lai nói đúng lắm: Thừa Tiến sĩ thiếu Kẻ sĩ!

Nhưng Kẻ sĩ là gì?

Chỗ này khó hơn cái Tấn sĩ gấp bội.

Một bậc túc Nho bảo mười năm nấu sử sôi kinh mới hiểu được. Ấy là thực học, nếu mười năm mà chín năm rưỡi đi đánh quả đánh hàng thì chữ thầy lại trả cho thầy thôi.

Đến hỏi thầy học cũ, nhà văn dịch giả Ông Văn Tùng, Cụ đưa cho cuốn Nhàn đàm vừa in xong, bảo về đọc đi, cũng biết được ít nhiều. May quá. Đói ngủ lại được chiếu manh. Trong sách này có mấy mục: chữ Sĩ, Quân tử, chữ Liêm, chữ Lễ, chữ Khiêm, chữ Nhân… hay lắm. (Nhàn đàm. Ông Văn Tùng. NXB Hội Nhà văn H.2016, khổ 13×20,5, 486 trang).

Về chữ sĩ Cụ viết riêng một bài. Theo sự giải nghĩa của Thầy thì hay lắm. Chữ sĩ trên là chữ thập là 10, dưới là chữ nhất là 1. Ý rằng, kẻ sĩ biết mười chỉ nói một, biết mười để hiểu một, học một mà biết mười (suy luận, như nói đào sâu suy nghĩ, suy đi xét lại…) là chủ động, năng động tư duy. Đấy là ưu việt của thứ văn tự tượng hình. Đã học đã hiểu thì ghi nhớ suốt đời, lại giúp cho suy nghĩ thêm lên, thông minh lên chứ không phải như học thuộc lòng, học gạo học vẹt. Ấy là nghĩa chiết tự.

Kẻ sĩ như thế, về sự học là đến nơi đến chốn. Mà sự học của kẻ sĩ thì… khiếp lắm. Thầy vẫn nhắc câu của Lã Mông: Sĩ biệt tam nhật, tiện đương quát mục như tương đãi (Xa kẻ sĩ ba ngày gặp lại phải rửa mắt mà nhìn). Thực là kẻ sĩ thì ngày nào cũng học, lúc nào cũng học, ở đâu cũng học. Cổ học tinh hoa có câu: Kẻ sĩ ba ngày không đọc sách thì dung mạo khó coi, lời nói khó nghe. Thầy Tử Cống bắt đom đóm thay đèn đọc sách cũng đáng tin lắm. Ấy là chuyện xưa, ở xa. Chuyện xa nhưng chưa cổ xưa, như Macxim Gorki, hứng ánh trăng vào đáy nồi để chiếu vào trang sách mà đọc thay đèn. Gần như giáo sư Tạ Quang Bửu, khi ăn cơm cũng đọc, vừa ăn vừa đọc, thời gian của ông trở nên quá ít. Như Chế Lan Viên, 70 tuổi vẫn chăm chỉ học. Ông dặn con: Học không phải để chơi mà học để không ai giết được mình (Cha tôi. Phan Thị Vàng Anh. Tạp chí Thơ số 2/2012).

Sự học để có tri thức mới là phần đầu của kẻ sĩ. Phần quan trọng hơn là dùng sự học vào cuộc đời. Kinh bang tế thế, cứu đời giúp dân. Học để hành.

Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ nên hiểu là tu thân để gia đình được êm ấm, nước được thịnh trị, thiên hạ được thái bình.

Kẻ sĩ như Phạm Trọng Yêm nói: tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc (lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ). Kẻ sĩ ưu thời mẫn thế, coi thường danh vọng, vật chất: quân tử thực bất cầu bão (quân tử ăn chẳng cầu no). Kẻ sĩ mà còn xấu hổ vì ăn mặc, nhà cửa (không được đầy đủ sang trọng…) thì không đáng gọi là kẻ sĩ.

Nói đến kẻ sĩ, là nói đến phẩm chất, tư cách, nhân cách, đến tiết tháo. Trong tam bất hủ của nhà Nho thì trước hết là lập đức, thứ đến lập công, sau mới là lập ngôn lập thuyết. Viên Mai nói lập thân tối hạ thị văn chương là ý nói lập thân bằng văn chương là thấp nhất (so với lập công lập đức). Không phải ý xấu như là hèn hạ, hạ tiện mà một số người hiểu sai khi bình câu của Phan Bội Châu: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch. Lập thân tối hạ thị văn chương (Mỗi bữa ăn đều tâm niệm làm sao để ghi tên vào sử sách – ý là công đức – còn lập thân bằng văn chương thì là… thấp nhất). Có lần đến thăm nhà sử học đáng tin cậy hiện nay, Giáo sư Tạ Ngọc Liễn, thấy ông có bức đại tự rất quí, khắc hai câu của Khổng Tử: Dĩ hòa vi quí Tuỳ thời chấp trung. Ông bảo đạo của thầy Khổng tóm vào hai chữ Trung Dung. Nghe mà không hiểu, lại giấu dốt không dám hỏi. Đến hỏi Thầy, Cụ bảo cũng phải nấu sử sôi kinh mới thấu hết. Nhưng mà đại thể thế này: Thầy Khổng viết: Bất vị thiên nhi vị trung. Bất vị dịch như vị dung (Không thiên vị ấy là trung. Không xê dịch ấy là dung). Quân tử hòa nhi bất đồng. Tiểu nhân đồng nhi bất hòa (quân tử hòa nhưng không a dua. Tiểu nhân thì ngược lại, đồng và vẫn bất hòa, như đám ô hợp). Các đời sau nhà Nho phát triển phong phú lắm. Kẻ sĩ, người quân tử yêu điều nghĩa, thấy lợi liền nghĩ đến nghĩa (Kiến lợi tư nghĩa) Kẻ tiểu nhân yêu điều lợi. Thấy lợi quên nghĩa. Muốn chống tham nhũng nên lấy câu này làm đầu. Kẻ sĩ quân tử là người cang cường trung thực, thẳng thắn, nhất quán: Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất. Ngô đạo nhất dĩ quán chi (đạo của ta trước sau nhất quán). Quân tử lạc nhi bất phản (có thể sai lầm nhưng không phản bội). Rất chân thật. Biết nói biết. Không biết nói không biết. Và có trách nhiệm với đời, có ý thức về lời nói của mình: Không biết mà nói là ngu. Biết mà không nói là hiểm… Nhà Nho thường lấy phẩm chất của ngọc, của trúc làm biểu tượng. Ngọc khả toái bất khả cải kì bạch. Trúc khả phần bất khả cải kì tiết (Ngọc có thể đập vỡ nhưng không đổi được sắc trắng. Trúc có thể đốt cháy nhưng vẫn không đổi tiết). Hoàng Văn Thụ trước lúc hi sinh có mấy câu: Việc nước xưa nay có bại thành/ Miễn sao giữ trọn được thanh danh/ Phục thù chí lớn không hề nản/ Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành. Cũng như Nguyễn Trung Trực xưa trước khi vươn cổ đón lưỡi gươm thù vẫn khẳng khái: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam chống Tây…”. Có đâu như vị đại thần kia Tây chưa đánh đã dâng thành lại còn khuyến dụ cho sĩ dân hãy ném gươm bẻ giáo đừng chống lại người Tây vì họ mạnh lắm! Thời Mỹ – Ngụy, trong các lao tù đều dùng những thủ đoạn tra tấn đày đọa man rợ để khuất phục ý chí, khuất phục khí tiết của các chiến sĩ cách mạng nhưng bất thành. Tên chúa ngục Côn Đảo đã phải quì xuống thốt lên: Uy lực không khuất phục được trái tim người. Mong các ông tha thứ cho… (Bất khuất. Nguyễn Đức Thuận). Kẻ sĩ đâu phải chuyện bằng cấp!

(Còn tiếp)

 Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 413

Ý Kiến bạn đọc