Tản văn

Chiến khu Rừng Sác

Mấy năm gần đây, Khu du lịch Cần Giờ rất được người dân TP. Hồ Chí Minh ưa thích, không những do nó gần mà quan trọng hơn bởi vẻ đẹp hoang sơ, với rừng đước tươi xanh ngút ngát và bãi biển trải dài ngày đêm đón những con sóng nhè nhẹ xô bờ. Với tôi, còn thêm một lý do khác nữa: ở đây có “Chiến khu Rừng Sác”, nơi từ lâu tôi rất muốn đến thăm.

Xe qua phà Bình Khánh, chạy thêm chừng 30 phút là tới nơi. Cách trung tâm Sài Gòn chẳng bao xa, mà khi đến đây ta có cảm giác như lạc vào rừng đước Cà Mau vậy. Xung quanh không một nhà dân, trước mắt điệp trùng các loài cây như mắm, dừa nước, chà là, ô rô và nhiều nhất là đước. Với 32.000 ha rừng ngập mặn, đây đúng là lá phổi xanh của thành phố. Sự ồn ào đô thị, những căng thẳng và mệt mỏi bươn chải đời thường bỗng dưng tan biến trong không gian yên tĩnh.

Khu du lịch còn quá đơn sơ. Nổi bật giữa màu xanh của rừng là ngôi nhà khá đẹp trưng bày hiện vật lịch sử “Chiến khu Rừng Sác”, trong đó chủ yếu là của Đoàn 10 đặc công nước. Hiện vật không nhiều. Một ít vũ khí, trang bị thô sơ và vài đồ dùng sinh hoạt thời chiến được đặt trong tủ kính giản dị như chính cuộc đời của những người lính năm xưa. Chỉ vậy thôi, nhưng đằng sau nó ẩn chứa bao chiến công đã đi vào huyền thoại. Nhìn vào đây, ta không thể ngờ đó lại là những thứ giúp các chiến sĩ đặc công nước chiến đấu bền bỉ suốt 9 năm ngay sát đầu não kẻ thù. Các anh “xuất quỷ, nhập thần”, lập nên những chiến công hiển hách. 

Rung-sac---Hoang-Tram
Rừng Sác – Sơn dầu – Hoàng Trầm (1928)

Từ tháng 4/1966 đến tháng 4/1975, các chiến sĩ Đoàn 10 đã đánh trên 400 trận, phá huỷ 29 máy bay, đánh chìm 356 tàu quân sự (trong đó có nhiều chiếc trên 10.000 tấn). Đặc biệt là 3 trận đánh làm rung chuyển Sài Gòn:

- Trận đánh chìm tàu Victoria chở 100 xe tăng và 2 máy bay trực thăng ngày 23/8/1966.

- Trận đánh vào kho bom Thành Tuy Hạ làm 18.000 tấn bom nổ tung đêm 13/12/1972.

Trận đánh vào kho xăng Nhà Bè thiêu huỷ 250 triệu lít xăng dầu rạng sáng ngày 3/12/1973.

Đoàn 10 đã 2 lần được Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân”.

Chỉ với mấy con số ấy thôi đủ để ta khâm phục họ lắm rồi. Đến khi vào thăm căn cứ trong rừng đước, nơi những người lính đặc công từng sống và nghe chuyện chiến đấu của họ, ta lại càng khâm phục hơn.

Chiếc xuồng máy chở chúng tôi lướt trên con rạch ngoằn ngoèo dưới những tán đước xanh tươi. Đước ở đây mọc chen chúc thành rừng, có cây cao đến gần chục mét. Tán lá xum xuê kết nối lại chẳng khác gì mái nhà chở che đất rừng phù sa. Giống đước có sức sống mãnh liệt nhờ bộ rễ kỳ diệu. Hàng chục rễ to bằng bắp tay vững chãi cắm sâu vào lòng đất, nâng thân đước vượt lên trên mặt bùn cao cả mét. Chính những bộ rễ này đã làm “nền” giúp lính ta dựng nhà ở trên đó.

Rời khỏi xuồng, chúng tôi bước trên hệ thống cầu để vào thăm những căn nhà sàn nhỏ ẩn dưới tán lá um tùm. Đây là nơi làm việc của Ban chỉ huy Đoàn 10, gồm các nhà chức năng: chỉ huy, hậu cần, thông tin, quân y, quân giới, quân nhu, phòng họp… Tất cả từ cầu đến nhà đều làm bằng cây đước, mái lợp lá dừa nước hết sức đơn sơ. Trong nhà có nhiều tượng bằng chất liệu plastic, tái hiện cảnh hoạt động của bộ đội ta thời đó.

Ấn tượng hơn cả là bên bờ rạch gần nhà chỉ huy có 8 pho tượng chiến sĩ đặc công nước lớn gần như người thật đứng quanh sa bàn, đang thảo luận trước trận đánh kho xăng Nhà Bè. Cách đó không xa là nhóm tượng người chỉ huy tiễn 2 đồng đội ra đi làm nhiệm vụ.

Phía bờ rạch bên lối ra vào, ngay mép nước là hình ảnh vô cùng kỳ lạ: con cá sấu to tướng đang ngậm cánh tay phải của người chiến sĩ. Tất nhiên đây là tượng plastic mô tả câu chuyện đã xảy ra vào năm 1966. Lần đó, chiến sĩ Hoàng Dương Chương đang bơi trên sông để làm nhiệm vụ, thì bất ngờ bị một con cá sấu rất lớn ngoạm chặt cánh tay phải. Mặc dù rất đau đớn nhưng anh vẫn bình tĩnh dùng tay trái rút dao găm đâm vào mắt con cá sấu, nó vội nhả cánh tay anh ra. Hoàng Dương Chương thoát chết, chỉ bị thương nặng cánh tay phải. Vậy đó, lính đặc công nước còn có thêm một kẻ thù nữa, đó là cá sấu.

Không có mặt trận nào vừa gian khổ, vừa ác liệt như ở chiến khu Rừng Sác. Trận tuyến sát nách Sài Gòn, trong tầm bắn của các trận địa pháo. Máy bay ném bom cất cánh từ sân bay Biên Hòa đến đây chưa đầy 5 phút. Có thể nói Rừng Sác là nơi mặc sức cho chúng trút bom đạn. Mỹ còn rải xuống đây hàng trăm tấn hóa chất làm trụi lá cây. Lực lượng địch rất mạnh, máy bay cán gáo, cá lẹp bay sát ngọn cây kiểm soát từng mét vuông đất. Trên sông dày đặc tàu chiến. Trong khi đó bộ đội ta lại ở xa dân, lương thực nước uống khan hiếm, vũ khí thiếu thốn – nhất là thiếu loại đặc chủng. Ở trong chiến khu Rừng Sác, sống được đã là kỳ tích. Vậy mà các anh đã vượt lên tất cả, bám trụ kiên cường, độc lập tác chiến suốt 9 năm trời.

Có nhiều trận đánh ly kỳ mà ngay cả những người cùng binh chủng như tôi cũng không tưởng tượng nổi. Tiêu biểu là trận đánh vào kho xăng Nhà Bè. Đây là kho xăng lớn nhất của địch, cung cấp nhiên liệu chủ yếu cho bộ máy chiến tranh ở toàn miền Nam. Địch canh phòng rất nghiêm ngặt, lực lượng đặc công bộ binh không thể đột nhập vào được. Chỉ có đặc công nước mới có thể vào từ phía sông là hướng địch khó phòng thủ hơn cả. Lần ấy, 8 chiến sĩ do Đội phó Đội 5 Hà Quang Vóc chỉ huy lợi dụng nước triều lên, “thả trôi” từ hạ lưu ngược lên phía kho xăng Nhà Bè, tiếp cận bờ sông, đột nhập qua 12 lớp hàng rào dây thép gai dày đặc mìn, có chó béc-giê và lính tuần tra canh giữ, rồi cài mìn hẹn giờ vào các bể xăng của địch… Mìn nổ, 250 triệu lít xăng dầu cháy kéo dài tới 9 ngày sau mới tắt. Bọn địch không thể tin là do đặc công vào đánh, chúng cho là bị pháo kích. Trận này, ta có 2 chiến sĩ hy sinh là Nguyễn Công Bao (quê Quảng Ninh) và Phạm Văn Tiềm (quê Thanh Hóa). Hai anh sau này đều được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân”.

Còn trận đánh vào kho bom Thành Tuy Hạ, các chiến sĩ ta đã vượt qua 14 lớp hàng rào, đặt mìn làm 18.000 tấn bom đạn nổ tung, phá huỷ gần như hoàn toàn kho bom này. Địch nghi là do Biệt động thành cài người vào nội bộ bọn chúng, rồi phá hoại từ trong ra.

Có một trận đánh đặc biệt diễn ra sau Tết Mậu Thân 1968 do Trịnh Xuân Bảng và hai chiến sĩ nữa thực hiện. Vì thiếu vũ khí, các anh đã sử dụng một quả bom “câm” của địch, tháo hạt nổ ra, đưa kíp hẹn giờ của mình vào. Ba chiến sĩ đã khéo léo “dìu” quả bom suốt 30 km dọc sông vào trong cảng Nhà Bè. Một giờ sau, chiếc tàu chở 15.000 tấn xăng dầu đang đậu ở đây biến thành “biển lửa”. Trịnh Xuân Bảng là người được phong danh hiệu Anh hùng đầu tiên của đơn vị.

Cho đến tận bây giờ, người dân xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai vẫn nhắc đến một chiến công bi hùng của Đoàn 10. Đó là vào tháng 11/1967, khi 3 chiến sĩ đặc công nước cùng một chiến sĩ biệt động đã đặt thuỷ lôi dưới lòng sông Đồng Nai đánh đoàn xà lan chở vũ khí của quân đội Mỹ. Quả thuỷ lôi đã kích nổ hàng ngàn tấn bom đạn trên xà lan, tạo ra cơn “sóng thần” khủng khiếp trùm lên một đoạn sông dài hàng cây số, xé nát toàn bộ 8 xà lan chất đầy bom đạn cùng một chiếc tàu kéo lớn và 4 tàu chiến đi theo bảo vệ. Chiếc L19 đang bay hộ tống phía trên có lẽ bị sức ép cũng cắm đầu xuống sông. Nhưng do sức ép của vụ nổ quá lớn, 4 chiến sĩ của ta ở trên bờ cũng anh dũng hy sinh. Sau đó, người dân địa phương đã lập đền thờ tưởng nhớ các anh ngay nơi diễn ra trận đánh.

Cuộc chiến đấu không cân sức, ác liệt và kéo dài nên phía ta cũng bị tổn thất nặng nề. Hơn 800 chiến sĩ đã ngã xuống trên mặt trận này, trong đó hơn 500 hài cốt không thể tìm thấy. Các anh vĩnh viễn hóa thân vào dòng Đồng Nai, Lòng Tàu, Nhà Bè hay những con rạch chằng chịt trong Chiến khu Rừng Sác…

Một tượng đài chiến sĩ đặc công nước khá lớn được dựng giữa trung tâm căn cứ. Hình tượng 2 chiến sĩ ôm mìn đang bơi như muốn vươn lên bầu trời xanh thẳm. Tôi thầm cảm phục nhà điêu khắc đã tạo nên một tác phẩm vừa đẹp, vừa sinh động. Chẳng mang theo nén nhang nào để thắp tưởng nhớ các anh, tôi chắp tay thành kính mà lòng bâng khuâng nhớ đến đồng đội xưa. Không rõ trong số những chiến sĩ ngã xuống nơi đây, có bao nhiêu người đã từng được huấn luyện chung khóa với tôi?

Tháng 7/1971, sau khi hoàn thành 9 tháng huấn luyện tại trung đoàn đặc công Hải Quân 126 (ở Quảng Ninh và Hải Phòng), tôi cùng một nửa khóa này vào mặt trận Cửa Việt (Quảng Trị), nửa còn lại đi “B dài”, tức là đi bổ sung cho các mặt trận từ Đà Nẵng trở vào, trong đó chủ yếu là Chiến khu Rừng Sác. Cho đến nay, gần nửa thế kỷ trôi qua tôi chỉ mới gặp lại được một người.

Hôm đó, tôi là sinh viên năm cuối của Học viện Quân y đang thực tập tại Bệnh viện Chợ Rẫy, tình cờ thấy cậu sinh viên ngồi đọc sách bên hành lang. Hắn ngẩng lên. Tôi nhận ngay ra hắn, mặc dù đã xa nhau 10 năm. Hắn là Hoàng Đình Lan, đang học năm thứ 6 trường Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh. Chúng tôi mừng lắm.

Mười năm trước, tôi và Lan cùng chung tiểu đội. Khi chia tay để vào hai mặt trận khác nhau, chúng tôi mới 19 tuổi. Lan kể, hồi ấy phải hành quân vượt Trường Sơn hơn 4 tháng mới đến được Đoàn 10. Chiến đấu bao nhiêu trận, Lan không thể nhớ hết. May mà hắn còn sống, đến cuối năm 1975 thì đỗ vào Trường Đại học Y dược. Ra trường, Lan công tác tại TP. Hồ Chí Minh cho đến lúc nghỉ hưu. Lan cho biết, hàng năm họp mặt cựu chiến sĩ Đoàn 10 hiện cư ngụ ở thành phố này chỉ còn vài ba chục người tới dự.

Giờ đây, cuộc sống yên bình đang ngự trị trên vùng đất từng là chiến trường ác liệt. Những chiếc tàu lớn hàng vạn tấn tấp nập vào ra cửa Cần Giờ, Soài Rạp. Sông Đồng Nai, sông Sài Gòn ăm ắp nước vẫn miệt mài cuộn chảy, đưa phù sa tắm mát vùng hạ lưu rộng lớn. Hơn 3 vạn héc-ta rừng nơi đây đã hồi sinh. Hàng ngàn người dân thành phố vui vẻ đến Khu du lịch Cần Giờ nghỉ ngơi, thư giãn vào mỗi cuối tuần…

Xế trưa, những tia nắng đầu xuân lấp loáng xuyên qua kẽ lá. Tiếng chim rừng líu lo như chào đón du khách vào đây. Tôi mải mê ngắm cặp vợ chồng cùng đi với hai con nhỏ xúng xính trong bộ đồ mới rất dễ thương. Chúng bi bô, chỉ chỏ khi cùng cha mẹ đứng bên nhóm tượng 8 chiến sĩ. Một đôi tình nhân dắt nhau đến trước tượng đài, ngước lên cầu khấn. Và ngoài kia mấy chàng trai tuổi đôi mươi đưa smartphone bấm lia lịa hình ảnh kỳ lạ dưới rạch nước: người lính bị cá sấu ngoạm cánh tay. Họ chuyện trò, bàn tán sôi nổi. Chao ôi! Bao chiến sĩ đặc công nước năm xưa khi ngã xuống cũng tuổi đôi mươi như thế này đây…

Bs. Trần Thanh Chương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 441

Ý Kiến bạn đọc