Người tốt - Việc tốt

Chiến dịch mang tên Bác

Bút ký về Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định năm 1975.

Hơn 40 năm nay, chẳng những người Việt Nam mình mà nhiều người nước ngoài đều biết chiến thắng mang tầm cỡ thời đại trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975. Nhưng đã mấy ai biết được xuất xứ của chiến dịch ấy và bằng cách nào để tình cảm thiêng liêng của Người đối với đồng bào ta được tỏa sáng không chỉ ở thế hệ này mà mãi mãi về sau. Là người trong cuộc và được ở gần Bộ Chỉ huy chiến dịch, nhân ngày 30-4 này, tôi xin kể lại một vài chi tiết của chiến dịch mang tên Bác để chúng ta được sống lại thời kỳ hào hùng của dân tộc.

Như chúng ta đã biết, Đoàn cán bộ mang mật danh A.75 đại diện cho Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh do Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng làm trưởng đoàn đã rời Hà Nội vào chiến trường Tây Nguyên ngay ngày 5-2-1975, tức 25 Tết Âm lịch (1). Đoàn A.75, ngoài đồng chí Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn, còn có Trung tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng Tham mưu trưởng cùng một số cán bộ của Bộ Tổng tham mưu và các binh chủng, quân chủng. Trong Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 3-4-1975), Đoàn A.75 không có ai nằm trong Bộ Chỉ huy chiến dịch mà chỉ đứng bên cạnh để tham mưu cho Bộ Chỉ huy chiến dịch mà thôi. Nhưng trong cuộc họp ngày 8-4-1975 tại một khu rừng phía tây – bắc thị trấn Lộc Ninh do đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị chủ trì thì Đại tướng Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị cử làm Tư lệnh “Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định”. Trong Đoàn A.75, còn có Trung tướng Đinh Đức Thiện được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch và Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền được chỉ định Quyền Tham mưu trưởng chiến dịch, chuyên trách về tác chiến (2). Cũng theo Quyết định của Bộ Chính trị được phổ biến ngày 8-4-1975 thì chiến dịch tiến công vào Sài Gòn – Gia Định được mang tên là “Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định” chứ chưa phải là chiến dịch mang tên Bác. Mãi đến ngày 12-4-1975, nghĩa là sau khi thành lập Bộ chỉ huy “Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định” 4 ngày, hôm ấy đồng chí Vũ Lăng và đồng chí Đặng Vũ Hiệp, Tư lệnh và Chính ủy Quân đoàn 3 đến Sở chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ thì có ý kiến đề nghị nên lấy tên Bác đặt tên cho chiến dịch tiến công vào Sài Gòn. Bộ chỉ huy Chiến dịch thấy ý kiến của ai đó lóe lên trong đầu rất hợp với tình cảm của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta đối với Bác nên đã nhất trí điện ra Hà Nội xin ý kiến Bộ Chính trị cho đặt tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” (3). Sau đó 2 ngày, lúc 19 giờ ngày 14-4-1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận được bức điện số 37/TK của Bộ Chính trị do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương ký gửi vào, toàn văn bức điện như sau: “Đồng ý Chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh” (4).

Bo-chi-huy-chien-dich-Ho-Chi-Minh
Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh – Ảnh: daichung10.blogspot.com

Nhận được bức điện ấy, không khí trong Sở chỉ huy chiến dịch có cái gì rất lạ, rất thiêng liêng. Đêm ấy, cả Bộ chỉ huy chiến dịch đều thao thức. Gió chạy lao xao trên mái rừng, tiếng mối ăn lá mục hòa với tiếng mễn tác xa xa, cảm như tiếng gọi của non sông đâu đó. Đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy chiến dịch mang tên Bác cứ đi đi lại lại. Cả Bộ Chỉ huy chiến dịch và những cơ quan giúp việc đều bồi hồi, vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì được chiến đấu trong chiến dịch mang tên Bác, lo vì sắp tới phải chiến đấu như thế nào đây để đảm bảo được tình cảm của Bác khi còn sống đối với đồng bào trong thành phố Sài Gòn – Gia Định này? Cuộc chiến đấu vào giữa một thành phố nguy nga được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông sao cho khỏi đổ nát; một cuộc chiến đấu vào hang ổ cuối cùng của bọn bán thân cho Mỹ, bán hồn cho đồng đô-la chắc chắn sẽ rất quyết liệt mà xung quanh chúng lại là 3 triệu rưỡi dân lành sao cho không “tắm máu” như bọn chúng đang rêu rao. Làm sao cho hòn ngọc vẫn là hòn ngọc, đồng bào kính yêu Bác càng kính yêu thêm? Các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch, nhất là đồng chí Văn Tiến Dũng và đồng chí Phạm Hùng, ngoài những giờ phút tiếp các cánh quân là vắt óc nghĩ cho ra cách đánh.

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc cũng như trong các chiến dịch chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ 30 năm qua, không chiến dịch nào giống chiến dịch nào; như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của các lực lượng võ trang đã đúc kết cho khoa học Quân sự nước nhà rằng “Thực tiễn là thước đo chân lý”, thì bây giờ thực tiễn bố phòng của địch xung quanh Sài Gòn là thế nào? Từ thất bại ở Buôn Ma Thuột, bọn Thiệu thấy, do không bố phòng từ xa để ngăn chặn bước tiến của đối phương nên lần này chúng có 5 sư đoàn bộ binh chủ lực xung quanh Sài Gòn thì cả 5 sư đoàn được bố trí ngăn chặn ta cách Sài Gòn từ 30-50 km để quân ta có tiến vào được ven đô thì cũng đã hụt hơi, lúc đó chúng sẽ phản công lại như Tết Mậu Thân (1968) năm nào. Còn bây giờ, chúng cho sư đoàn 5 đóng tại Lai Khê – Bến Cát chặn ta từ hướng bắc; cho sư đoàn 25 đóng tại Trảng Lớn – Tây Ninh chặn ta từ hướng tây-bắc; cho sư đoàn 18 đóng tại Xuân Lộc – Long Khánh chặn ta từ hướng đông; cho sư đoàn 22 đóng tại Long An chặn ta từ hướng nam và cho sư đoàn 7 đóng tại Mỹ Tho chặn ta từ Hậu Giang lên (5). Chiến thuật của chúng là chặn đứng sự tiến công của ta từ xa, nếu không được thì sẽ lùi dần về thành phố, lùi đến đâu phá cầu đến đấy rồi chống ta trong từng đường phố, từng căn nhà và lấy dân làm lá chắn cho chúng. Nếu để chúng thực hiện được ý đồ này thì thành phố sẽ tan nát và đồng bào ta sẽ chết chóc thảm thương!

Từ thực tiễn ấy, Bộ chỉ huy chiến dịch đã nghĩ ra cách đánh vừa táo bạo vừa bất ngờ là tổ chức lại các đoàn Đặc công và Biệt động thành, cho ém dưới các chân cầu dẫn vào Sài Gòn để khi tiếng súng của chiến dịch phát hỏa thì lập tức xông lên chiếm cầu và đón đại quân ta tiến vào thành phố. Bốn quân đoàn và Đoàn 232 có nhiệm vụ chia lực lượng của mình làm hai bộ phận; một bộ phận đủ mạnh đánh thẳng vào các sư đoàn chốt chặn của địch nhằm tiêu diệt và kìm chân chúng; một bộ phận lớn hơn, trang bị kỹ thuật hiện đại hơn tiến ngay vào thành phố, “qua mặt” chúng ngay lúc chúng còn “nguyên vẹn”, đánh thẳng vào các mục tiêu là cơ quan đầu não của chúng thì không thể có đổ nát và “tắm máu” được. Cho đến 11giờ 30 phút ngày 30-4-1975, chiến dịch mang tên Bác đã diễn ra đúng như vậy. Thành phố vẫn nguyên vẹn, trên 3 triệu dân vẫn yên lành. Đó là một kỳ tài của khoa học Quân sự Việt Nam mà chắc chắn trên thế giới là hiếm có…

Nguyễn Công Viễn
(Nguyên PV Tuần tin Nam bộ, Thái Bình)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 405

_______________

(1), (2), (3), (4), (5) lần lượt ở các trang 44, 175, 179, 183 và 188 của tác phẩm “Đại thắng mùa xuân” do NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội ấn hành năm 2005.

 

Ý Kiến bạn đọc