Sáng tác mới

Chiếc mũ cối

Đó là kỉ vật mà tôi giữ gần 40 năm nay. Chiếc mũ cối màu xanh lá cây đặt trên bàn thờ sau ngày 30¬4-1975, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chiếc mũ đã bạc màu với một lỗ thủng đằng trước trán. Phía sau chiếc mũ có ba chữ H-H-S viết bằng mực Cửu Long. Một kỷ niệm buồn đau nhói với tôi.

Ký họa của họa sĩ Giáng Hương

Ký họa của họa sĩ Giáng Hương


Một ngày tháng 3-1972, tôi vào rừng chặt gỗ làm hầm để tránh máy bay. Vừa xuống hết dốc Hòn Bung thì dẫm phải những hòn đá cuội đầy rêu, trượt chân ngã sóng soài trên mặt đường lổn nhổn đá. Cái nạng hầm nằm đè ngang trên ngực. Chiếc mũ bộ đội bị đứt quai, văng lông lốc xuống khe nước. Tôi đau quá không ngồi dậy được. Đang nằm rên hừ hừ thì một anh bộ đội bước tới. Một đoàn tân binh hành quân từ ngoài Bắc vào.
- Có làm sao không chú? Ô, bàn chân chú đã bị chảy máu – Nói rồi anh đỡ tôi dậy, l ấy hộp dầu cù là trong túi tra vào vết thương cho tôi.
Một chiến sĩ khác lại nhặt chiếc mũ của tôi lên:
- Chiếc mũ của chú đã tả quá rồi. Cháu đổi cho chú chiếc mũ mới này nhé. Vào binh trạm, cháu sẽ được cấp phát lại quân tư trang.
Cầm chiếc mũ cối trên tay, lòng tôi phân vân. Chưa kịp nói lời cảm ơn thì anh bộ đội đã hối hả bước theo đoàn quân.
Về nhà, tôi lấy bút viết ba chữ H.H.S vào phía đằng sau chiếc mũ.
Ngày hôm sau, toàn trường tôi tổ chức lao động ở Đồng Đâu. Công việc đợt đầu là phát rẫy, khi nào cây khô thì lên đốt. Đồng Đâu là rẫy cũ của làng tôi lên khai hoang từ những năm 60, hồi mới thành lập hợp tác xã. Nhiều cây xoan đào mọc rải rác trên đồng nên gọi là Đồng Đâu. Có một vạt ổi sum suê chi chít quả. Ổi chín Đồng Đâu mùa này ngọt lắm nhưng ít nước nên hạt cứng. Giữa rẫy khai hoang cây ngấy mọc ken dày tầng tầng lớp lớp. Gần khe Mụ Bà có mấy bụi trâm sừng vươn lên thẳng tắp. Loại này mà lát dưới hầm chữ A thì thật tuyệt. Nó là loại gỗ bền nhất khi nằm trong lòng đất.
Qua hai ngày lao động cật lực, lớp 10A do tôi chủ nhiệm đã phát hết diện tích được giao. Cả lớp xuống khe Mụ Bà rửa mặt mũi, chân tay. Mấy cô cậu được dịp cười đùa, té nước nhau. Tôi tập trung cả lớp lại trên một bãi cỏ bình bầu, chấm điểm. Trời về chiều, bóng núi đổ dài trên thung lũng Đồng Đâu, gió u u thổi. Tôi vừa nhét cuốn sổ chủ nhiệm vào chiếc cặp mang bên hông thì cả lớp đã ù chạy hết. Các cô cậu lại rượt đuổi nhau cười nói râm ran. Tôi dựng vác cây trâm sừng dậy, dựa vào một cây to rồi đi tìm mũ. Quái lạ, chiếc mũ cối của tôi bỏ trên cục đá không cánh mà bay. Tìm quanh thì thấy một chiếc
mũ khác đã bạc màu vứt gần khe nước. Tôi cầm lên. Lớp giấy bện bên trong đã rạn nứt chân chim. Cậu nào vứt cái mũ nát mèm lại đây mà vớ lấy cái mũ mới toanh của tôi. Tôi bước về nhà với tâm trạng bực dọc. Vừa mệt vừa đói, bước đến đầu ngõ tôi nói oang oang:
- Bực quá! Hôm nay không biết cậu nào lấy mất cái mũ mới của mình mà vứt cái mũ nát bét lại.
Thằng con tôi trong nhà chạy ra. Nó cầm lấy cái mũ săm soi một hồi rồi nói:
- Cái mũ này là của thằng Sinh đây mà. Mấy hôm trước con thấy nó có đội một chiếc mũ bạc màu như thế này.
Mũ của anh Bình nó mang từ chiến trường ra.
Vợ tôi cau mặt:
- Con sang mà nói với hắn, trả lại cái mũ cho ba tao.
Tôi ngăn lại:
- Nhưng có chắc là cái mũ của thằng Sinh không? Con mình cáo ốm ở nhà, tự nhiên chạy sang bên đó lộ tẩy cái mặt trốn đi lao động.
Vợ tôi sừng sộ, giật phắt chiếc mũ:
- Con không sang được thì để mẹ sang. Chữ Hoàng Hữu Sinh đây này. Học trò mà đi ăn cắp của thầy giáo.
Phải trị cho tiệt nọc đi mới được. Đừng cho thi tốt nghiệp lớp 10 nữa. Bắt nó
ở nhà đi cày. Cả nhà nó, mẹ thì lấn nương, con thì trộm cắp – Vợ tôi mặt đỏ như gà chọi, nói một thôi một hồi.
- Từ từ cái đã. Mẹ mi cứ sồn sồn. Biết đâu nó không lấy thì sao. Cái mũ đội trên đầu chớ có phải cái kim đâu mà giấu được. Ở gần nhà, nó không dám lấy của mình đâu.
Vợ tôi gầm lên:
- Còn bênh nó nữa à. Tôi biết ngay mà. Cha Huỳnh Hữu Sang, con Hoàng Hữu Sinh. Tôi biết ông đã có tình ý với con mẹ ấy từ lâu rồi.
- Ách giữa đàng lại mang vào cổ. Con của ai lại buộc vô cho chồng mình
- Thấy thái độ hồ đồ vô lối của vợ, tôi không chịu được – Thôi, mụ có giỏi thì sang bên đó mà đôi co với người ta.
Vợ tôi lồng lên, giơ tay quất mạnh cái mũ vào cọc nạng giàn bầu. Chiếc mũ bẹp dúm, lớp giấy bện toanh toe từng mảnh. Bà chạy ra đằng sau vườn, chỏ mồm qua bờ rào chửi cạnh, chửi khóe. Thế là bà Hòa, mẹ của thằng Sinh cũng ra miệng. Hai bên chửi nhau suốt một buổi tối.
Chuyện chẳng to tát gì, nhưng đầu mù lâu hóa ra mưa. Vợ tôi đặt điều ra bao nhiêu chuyện. Nào là từ khi chồng bà Hòa chết, tôi thường hay qua lại.
Nào là tôi viết giấy chứng sinh cho bà Hòa, lại còn đặt tên cho thằng Sinh nữa chứ. Thực ra, hồi đó bà Hòa không biết chữ nên nhờ tôi viết hộ. Khi đó bà Hòa có hỏi tôi: “Đặt tên cho cháu là Sinh có được không hở thầy?”. Tôi nghĩ mẹ là Hòa, cha là Bình, thì em là Sinh cũng được. Chuyện thằng Sinh con ai sao lại buộc vào cho tôi.
Mấy ngày sau, thấy thằng Sinh đi học về, đội chiếc nón buộc quai bằng sợi mây, tôi bảo:
- Sinh dừng bước, cho thầy gặp
riêng một chút.
Cả đoàn học sinh đứng lại, vây quanh:
- Có chuyện gì thế thầy?
Tôi xua tay:
- Chẳng có gì đâu. Các em về trước đi.
Mặt thằng Sinh tái mét rồi dần dần
ừng đỏ.
- Em có lấy cái mũ của thầy không?
Sinh lúng túng trả lời ấp a ấp úng:
- Dạ. Dạ không thầy ạ!
- Thế cái mũ của em đâu?
- Dạ rách rồi ạ. Dạ mất ạ!
- Em nói cho thật. Chuyện này chỉ có hai thầy tro mình biết. Thầy không trách cứ em đâu. Nếu em đã lỡ lấy thì cứ giữ lấy mà dùng. Cái mũ ấy thầy cũng được một chú bộ đội tặng cho mà.
Sinh gãi đầu, gãi tai thanh minh:
- Hôm ấy vì sợ tối, em vội vàng chạy theo các bạn. Tìm quanh cũng chỉ thấy một cái mũ có ba chữ H.H.S nên em đội về. Khi nghe thím và mẹ em chửi nhau, coi lại mới biết là không phải mũ của mình. Sang trả thì ngại, mà giữ lại cũng không đành.
Tôi thầm nghĩ Sinh nói cũng phải. Hôm ấy em đã biết tôi có chiếc mũ mới đâu. Tôi vỗ vai Sinh:
- Em cứ lấy mà đội. Thầy cũng không có cái mũ nào mà thế lại cho em nữa đâu. Cái mũ của em bị vợ thầy làm hư mất rồi.
Em nói:
- Nhưng mà em sợ thím.
- Yên tâm đi! Không việc gì phải sợ cả. Thầy sẽ về nói lại với thím.
Về nhà tôi thuật lại với bà vợ tôi, vì cả hai cái mũ đều đề ba chữ H.H.S đằng sau nên thằng Sinh đội nhầm. Vợ tôi cứ khăng khăng là Sinh đội nhầm một cách cố ý. Bà làm đơn gửi cho Ban chấp hành Đoàn trường. Kết quả trong đợt thi đua 26-3, Hoàng Hữu Sinh không được kết nạp vào Đoàn. Em bị giữ lại để xét đợt sau.

Cuối năm học, thằng con tôi được đi học ở Ba Lan. Nó có người cậu ruột, anh của vợ tôi làm chủ tịch xã. Hoàng Hữu Sinh thì lên đường đi bộ đội. Em làm đơn tình nguyện xin đi bộ đội. Ở xã một số người ái ngại vì hoàn cảnh của em một mẹ một con, nhưng bà Hòa mẹ em ra xã bảo đồng ý cho con tình nguyện đi chiến đấu. Ban đầu Sinh ở Sư đoàn khu vực 471, bộ đội Trường Sơn. Trong những ngày chiến đấu gian khổ trên con đường huyền thoại, em được kết nạp vào Đoàn sau một trận đánh trả máy bay giặc Mỹ. Tôi ân hận lắm. Chỉ vì bà vợ tính nhỏ nhen ích kỉ cộng thêm sự nhu nhược của tôi mà tôi làm mất đi hình ảnh cao đẹp của người thầy trong con mắt học sinh. Trong lúc học sinh cả trường tôi xung phong ra mặt trận thì gia đình tôi lại chạy chọt cho con đi học nước ngoài. Tôi viết thư thay mặt cả nhà tôi xin lỗi em như một lời tạ tội với non sông.


Năm 1974, Sư đoàn 471 đứng chân trên khu vực ba biên giới được chuyển thành sư đoàn vận tải. Mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 471 lật cánh từ tây sang đông Trường Sơn. Sư đoàn đã cơ động thành Sư đoàn bộ binh 968 từ Hạ Lào vào phía tây nam Pleiku thay cho Sư đoàn 10, làm nhiệm vụ nghi binh trong chiến dịch Tây Nguyên. Sư đoàn 968 trực tiếp uy hiếp tuyến phòng thủ của địch ở Pleiku, Kontum, giam chân một lực lượng lớn quân địch ở Bắc Tây Nguyên, và “củng cố” thêm nhận định “sai lầm chết người” của Bộ Tư lệnh quân đoàn 2 ngụy.
Ngày 10-3-1975, quân ta nổ súng tấn công thị xã Buôn Ma Thuột. Quân địch ở Tây Nguyên tan vỡ nhanh chóng. Hoàng Hữu Sinh lúc này đã là trung đội trưởng một trung đội ô tô vận tải. Cậu dẫn đầu đội hình sư đoàn, cơ động Sư đoàn 320 tiến theo đường số 14, đuổi địch đến Buôn Hồ, Đạt Lý.
Đầu tháng 4-1975, sư đoàn Sinh lại được lệnh cơ động toàn bộ Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên vào Nam bộ phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh. Cả núi rừng Trường Sơn rùng rùng chuyển động. Dòng người và xe pháo ào ào đi như nước chảy. Đến đèo Am Pun, con đường ngang 88 chạy qua cao nguyên Bu Prăng thì ách tắc. Đường hẹp, xe pháo dồn lại ước chừng 4, 5 cây số. Lúc này những chiếc máy bay của ngụy chỉ còn thưa thớt trên bầu trời nhưng vẫn lồng lộn bắn phá điên cuồng xuống đội hình tiến quân của ta. Pháo cao xạ ta bắn lên rền trời làm chúng không dám bay thấp. Có một phụ nữ người dân tộc trúng đạn đại liên 30 li trên máy bay bị gục ngã bên đường. Trong tay chị là một đứa bé chừng 2 tuổi. Sinh nhảy xuống bế xốc đứa bé lên ca-bin. Sau đó xe anh vừa xuống chân đèo thì một chiếc máy bay AC130 xuất hiện. Chúng nhằm vào xe anh, chiếc xe đi đầu nã đạn. Một mảnh đạn xuyên qua trán, cướp mất cuộc đời Sinh. Trước lúc chết anh trao lại đứa bé cho đồng đội và nói với người lái phụ: “Nếu còn sống, cậu về Quảng Bình quê tôi, trao lại cho thầy giáo chủ nhiệm của tôi cuốn nhật kí này. Thầy sẽ hiểu tất cả”.
Bốn mươi năm, chiến tranh đã trôi qua. Mấy đứa con tôi đua nhau lên sống trên thành phố. Thằng con trai tôi, bạn cùng lớp với Sinh ngày xưa, nay là một cán bộ có chút chức quyền, nhà cao cửa rộng.
Bà Hòa, mẹ của Sinh và bà vợ tôi thì đã nằm yên dưới cỏ lâu rồi. Trên vùng đất hai nhà ngày trước nay chỉcòn lại một mình tôi, 86 tuổi với nhiều đêm không ngủ. Tôi lao lung suy ngẫm sự đời. Cảnhà tôi ai cũng có lỗi với em. Chiếc mũmang tên tôi nhưng Hoàng Hữu Sinh lại là người hứng đạn. Em ngã xuống, chưa kịp thấy hòa bình.
Cứmỗi năm đến ngày 30-4, tôi lại ra nghĩa trang liệt sĩcủa xã thắp hương. Tôi đặt chiếc mũ thấm máu của em lên ngôi mộ, nói với em những lời tạ tội.

Ý Kiến bạn đọc