Truyện ngắn

Chiếc áo lính và lời hứa

Trở về sau chuyến đi tham quan Côn Đảo do Hội Cựu chiến binh tỉnh tổ chức, linh tính mất chiếc áo, ông Tư què cuống cuồng đi tìm.

- Đứa nào lấy chiếc áo của tau?

- Chúng nó đi làm hết, mỗi tui ở nhà. Lẽ nào trộm vào lấy đi mỗi chiếc áo?

- Không lấy sao mất?

- Thế ông nghĩ chiếc áo của ông nó là vàng là bạc hay sao mà trộm lấy, hay là tui giấu nó đi? – Bà Năm nói xong liền câm miệng vì sợ chồng nổi khùng. Tính ông Tư què thì cả khu phố này biết, hiền thì rõ hiền, nhưng khi đã trái ý thì dữ như hổ.

Ông Tư què cứ thẫn thờ rồi lăn ra bệnh, gia đình phải đưa đi cấp cứu. Ra viện về nhà, ông vẫn không quên hỏi chiếc áo đâu? Hàng xóm biết chuyện, ai cũng phì cười! Bà Năm bấm máy gọi cho con:

- Thằng Hai về ngay, về ngay xem ba mầy thế nào!

- Ba sao hả má?

- Mầy có biết chiếc áo của ba mầy đâu không?

- Công ty đang diễn tập phòng cháy chữa cháy sao con về được. Mà áo nào?

Một cuộc tìm kiếm được tiến hành. Từ cái giỏ đi chợ của bà Năm cho tới gậm giường gậm tủ, nhà tắm, nhà bếp… đều được mọi người lục soát. Đến bộ đồ chơi của thằng Tý cháu nội cũng được lôi ra kiểm tra! Đúng là một mất mười ngờ, chiếc áo có thể chui cả vào trong túi áo, túi quần? May cho tay Ngẩu đạo chích nhà kế bên bữa nay không ghé chơi, nếu không thì dứt khoát chỉ có Ngẩu đạo chích lấy. Bà Năm thì cứ như người mắc tội, vì bà trông nhà mà để mất của. Bà già rồi, đâu phải con nít mà bỏ nhà đi chơi. Vả lại, cái áo đáng giá bao nhiêu mà trộm nó lấy. Bà Năm bóp đầu suy nghĩ: bộ đồ tốt chồng mặc đi, đến cái huy chương chiến công chồng cũng đeo luôn trên ngực. Mà không biết mất chiếc áo nào?

Chieu-ve-tren-tran-dia-phong-khong---Nguyen-Duc-Tho
Chiều về trên trận địa phòng không – sơn dâu – Nguyễn Đức Thọ.

Ông Tư què mệt ói cả ra chiếc gối đầu, cô con dâu phải đem đi xử lý. Rút cái lõi gối ra, con dâu mừng kêu toáng: Đây rùi đây rùi, áo đây rùi! Mọi người đổ xô tới xem. Tưởng áo gì, hóa ra chiếc áo lính đầy vết thủng.

- Xem trong túi có gì không nào?

- Chẳng có gì!

Bà Năm lên giọng:

- Tui nhớ ra rùi. Đúng là mất chiếc áo nầy thì ông nhà tui chết thiệt! Chiếc áo hồi bảy lăm đánh cầu Săn Máu…

Hóa ra ông Tư què sợ mất chiếc áo nên đã gấp nó lại vuông vức để đệm thêm vào lõi gối, để ngày nào áo cũng được ở bên ông. Ông Tư què giật chiếc áo rồi lấy tay lần lần cái vạt… “Tưởng mất” – Mặt ông sáng dần. Một trận cười và tiếng thở phào nhẹ nhõm cho mọi người…

*

Ông Tư què quyết định chuyến này ra Bắc.

- Ông già rồi đi xa sao nổi? – Bà Năm can chồng.

- Tui đi được!

- Sao lúc trước không đi, giờ sắp…

- Còn lâu tui mới chết, ngày trước chưa có điều kiện.

Người con trai thấy không yên tâm:

- Để con đi cùng ba.

- Mầy cứ lo cho cái công ty của mầy đi, cho ba cục tiền lớn là tau đi được – Ông Tư nói xong cười, để lộ hàm răng đã mất đi gần nửa.

- Mà bây giờ ba ra tìm người ta, lỡ người ta chuyển đâu rùi thì sao?

- Ra gặp bà con của người ta cũng được. Tau có giấy giới thiệu của Hội Cựu chiến binh tỉnh, tới đâu chính quyền sở tại cũng phải lo giúp, sợ chi.

Biết tính khí đã nói là làm của ông nên vợ con đành chuẩn bị những điều kiện tốt nhất để cho ông Tư què ra Bắc.

- Con mua vé máy bay cho ba?

- Khỏi! Ra ga Biên Hòa đi tàu Thống Nhất, vừa đi vừa ngắm cảnh.

Ông Tư què đã vào tuổi 64, thương binh hạng 3/4, nhưng còn khỏe lắm. Ông là con thứ ba trong gia đình có 6 anh chị em sinh ra ở đất Phú Lý huyện Vĩnh Cửu, mỗi mình ông là trai. Các chị các em đi lấy chồng, người còn, người mất. Cha ông hồi tham gia bộ đội ở chiến khu Đ đã mất tích, cho đến giờ cũng chưa biết mất tích kiểu gì. Nghe người ta đồn đoán thì cũng có thể ông bị cọp vồ. Cũng có thể bị địch bắn chết rồi ném xác xuống sông Đồng Nai đang mùa nước lũ. Hồi đó, những cái chết như thế là chuyện thường. Cha ông Tư rất gan lì, mê cách đánh đặc công của ông Hai Cà. Mẹ ông không đi bước nữa mà ở vậy nuôi con, bà về với đất đã hơn 10 năm. Sau giải phóng, ông Tư trở về Phú Lý với dáng đi cà nhắc. Người ta gọi ông là Tư què. Được mai mối ông đã kết hôn với cô Năm làm nghề bán cá ở chợ Biên Hòa. Thế là bỗng dưng từ quê ra phố ông chẳng mất đồng cắc tiền cò nào do sẵn sàng ở rể!

Hồi ở tiểu đoàn trinh sát, Tư đen (tức ông Tư què bây giờ) và Chiến Công (tức Trần Chiến Công, quê Thái Bình), đang tuổi mười chín đôi mươi, thân nhau như hình với bóng. Chiến Công ngày đó đã kể cho Tư đen nghe câu chuyện tình của mình, lâm li lắm. Ngày Chiến Công lên đường nhập ngũ, anh mang theo mình kỷ niệm của người yêu để, Em lúc nào cũng đi bên Anh. Hằng, người yêu đã nói như thế trong đêm chia tay với Chiến Công bên bờ sông Trà Lý – con sông chia đôi Thái Bình thành hai khu Bắc – Nam để chảy ra biển. Chiến Công kể một cách rành mạch và đầy cảm động đến nỗi làm cho Tư gan như cóc tía mà cũng phải chớp mắt liên hồi, ầng ậc trong cổ họng. Chiến Công nói với Tư đen rằng, nếu chẳng may tao hy sinh thì mày nhớ tìm về thôn Đ, xã T, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình, gặp Hằng và kể cho cô ấy nghe về câu chuyện chiến trường của chúng ta. Và nhớ nói với cô ấy rằng: Hãy vượt qua nỗi đau để xây dựng hạnh phúc mới! 

Những năm sau ngày giải phóng miền Nam, nhiều người Bắc vào Nam sinh sống, trong đó có dân Thái Bình. Tư què cũng quen một số nên biết được huyện Thư Trì mà Chiến Công nói năm xưa bây giờ đã sáp nhập với huyện Vũ Tiên để thành huyện Vũ Thư.

*

Ông Tư què được con tiễn ra ga xe lửa Biên Hòa vào sớm mùa hè ồn ào tiếng ve ran. Sau gần 33 giờ tàu chạy, ông đã có mặt ở thủ đô. Làm theo hướng dẫn của con trai in trong một tờ giấy, ông Tư kêu taxi đến bến xe Mỹ Đình, rồi tiếp tục lên xe khách về Vũ Thư. Đường sá, phương tiện giao thông giờ đi dễ dàng, chẳng phải chen lấn khổ sở như hồi mới sau giải phóng. Trên xe khách, ngồi cùng ghế với ông Tư là một cô sinh viên trường Đại học Luật về quê nghỉ hè. Thật may, cô ấy người Vũ Thư tính tình cởi mở khi ông Tư què hỏi chuyện. Cảm giác đường đi trong ông Tư ngắn lại nhiều. Ông Tư què cũng không ngờ ở tuổi gần thế giới bên kia mình lại được về thăm quê hương bạn hữu – quê hương của đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy đồng đội vào hầm bắt sống tướng Đờ Cát ở mặt trận Điện Biên hồi 54, quê hương của đại đội trưởng Bùi Quang Thận cắm cờ giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập hồi 75…

Cuối cuộc hành trình, cô sinh viên đã giúp ông Tư què tìm vào Ủy ban Nhân dân huyện. Họ chia tay nhau để lại một kỷ niệm nho nhỏ mà khó quên. Giờ hành chính đã hết, Ủy ban vắng teo. Hỏi chuyện người bảo vệ có mái tóc pha sương, ông Tư mới hay xã Đ mà ông cần tìm chỉ mất một cuốc xe ôm ngắn. Thế là người bảo vệ gọi giúp ông một chiếc xe ôm. Tài xế xe ôm khi nghe ông Tư nói thì vui như gặp người thân:

- Con sẽ đưa ông tới tận nhà bà trẻ Hằng trong tích tắc!

Mấy phút đồng hồ sau họ đã tới cổng một ngôi nhà xây cấp 4, trong một khuôn viên khá đẹp có giàn bầu trĩu quả.

- Bà trẻ có nhà không, ra đón khách này?

- Ai đó? – Người đàn bà vừa nói vừa chạy từ trong nhà ra, rồi dừng lại, ngạc nhiên.

- Tốn hả, chở ai vậy con?

- Thì lát bà sẽ biết, con đi đã nhé. Chào ông!

- Tiền, tiền, anh ui!

- Thôi ông, đáng bao nhiêu! Chiếc xe máy rồ ga vụt mất.

- Thằng cháu đấy, mời bác vào nhà đi! – Bà Hằng đưa tay đỡ chiếc ba lô cho khách. Bà thắc mắc về ông khách lạ đi khập khiễng, nói giọng Nam bộ mà chưa dám hỏi.

Bà Hằng ở với người con trai út. Anh ta đi làm xây dựng ở Hà Nội, cả tháng mới về nhà một lần. Hai cháu nội, đứa cấp 1 đứa cấp 2, mẹ nó là giáo viên tiểu học đang tham gia lớp bồi dưỡng hè trên tỉnh, tuần sau mới về. Nhìn căn nhà cũng biết được, đây là một gia đình căn cơ. Chồng bà Hằng vào Đắk Nông chơi với vợ chồng người con trai cả. Nghe đâu con trai bà làm ăn được lắm. Anh ta đang có ý định chuyển cả gia đình và anh em vào đó định cư. Bà Hằng chỉ có hai người con trai. Ngày xưa chắc bà đẹp lắm, ở tuổi lục tuần mà trông bà còn tươi tắn, nhanh nhẹn, quần áo gọn gàng tươm tất. Tóc chưa một sợi bạc. Nhưng dưới ánh mắt của người từng trải sẽ nhìn thấy trong khóe mắt người đàn bà ấy khắc một nỗi buồn sâu thẳm.

Sau bữa cơm tối quê mùa mà ngon cùng chủ nhà, ông Tư què bắt đầu câu chuyện… Ngoài kia trăng tròn đã qua mái nhà trước ngõ. Người đàn bà chăm chú nghe người kể chuyện mà quên đi cả chớp mắt, như đang chờ đợi một biến động gì…

Trận đánh ở Suối Đỉa hằn sâu trong tâm can Tư què. Nhiệm vụ tiểu đoàn 4 là phải chặn đứng chiến đoàn xe tăng, thiết giáp của địch từ Tam Hiệp, đồng thời phản công lữ đoàn lính thủy đánh bộ ở khu vực Hố Nai để địch không thể chặn được quân ta trên hướng đường số 1 ở Suối Đỉa. Tình thế hết sức căng thẳng. Các trận địa pháo của địch dồn dập trút đạn vào khu vực ta. Tiếng đạn nổ chát chúa, trận địa mịt mù khói lửa. Hình như còn bao nhiêu đạn địch đều tập trung trút tất cả vào dốc Suối Đỉa.

Tiểu đoàn 4 được tăng cường xe tăng để đột phá vào tuyến phòng thủ Hố Nai, mở đường cho sư đoàn vượt cầu Đồng Nai tiến vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Xạ thủ B40 Trần Chiến Công xuất hiện kịp thời dập tắt ngay khẩu trọng liên của địch. Bộ binh chớp thời cơ, đánh thốc vào cứ điểm địch. Địch đưa xe tăng ra cản phá. Chiến Công trúng nhiều mảnh đạn M79, Tư đen nhào tới để băng bó cho bạn. Vết thương quá nặng, Chiến Công tắt thở. Trước khi ngừng thở anh vẫn còn kịp nói với Tư đen hai từ: Nhớ nhé. Tư đen nhanh như chớp đổi chiếc áo lành cho bạn, rồi tiếp tục chiến đấu. Đang trườn mình về phía địch, Tư đen dính luôn mấy viên AR15 vào cẳng chân, đồng đội phải đưa ra tuyến sau.

Ông Tư què lấy ra từ ba lô chiếc áo lính…

- Đây, chiếc áo của anh Chiến Công lúc hi sinh, tui vẫn giữ từ hồi đó!

Bà Hằng như người mất hồn, khi nhìn thấy tấm áo của người yêu xưa. Tấm áo trổ nhiều vết rách. Anh ấy bị nhiều vết thương quá! – Người đàn bà rân rấn nước mắt. Ông Tư què lấy ra từ vạt áo cái túi ni lông đã đi qua hơn 40 mùa mưa nắng. Bà Hằng như đã đoán ra…

Đó là một túi ni lông nhỏ kích thước chừng 2 x 2 cm, bên trong là một sợi tóc dài nút thành nhiều vòng nhỏ. Chính tay cô Hằng ngày đó đã thiết kế. Cô đã dặn dò người yêu: Anh hãy rạch một vết ở vạt áo cho em nằm trong đó, để em theo anh suốt chặng đường chiến đấu!

Bà Hằng òa khóc nức nở rồi ôm chặt lấy ông Tư kêu toáng: “Ới, anh Công ơi…”. Hàng xóm thấy tiếng kêu chạy tới, người thân của Chiến Công cũng có mặt khi trăng xanh đã qua đỉnh đầu. Tiếc thay, cha mẹ của

Chiến Công đã qua đời, chỉ còn lại hai em gái lấy chồng làng. Lúc Chiến Công đi bộ đội các em còn nhỏ, chỉ mang máng nhớ hình dáng anh mình thư sinh.

Thế là qua một đêm không ngủ.

Chính quyền xã đã tới nhà bà Hằng vào sáng hôm sau để nghe ông Tư què kể lại câu chuyện người con quê mình đã anh dũng hi sinh nơi chiến trường sát cộm ngày giải phóng miền Nam. Chính quyền xã đã tổ chức đón tiếp ông Tư như đón tiếp một chính khách. Và không quên bày tỏ lòng biết ơn vô hạn! Ông Tư được ra viếng Nghĩa trang Liệt sĩ xã nhà. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã giới thiệu:

- Đây, mộ của đồng chí Trần Chiến Công, hài cốt đem về từ Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đồng Nai năm 2010.

Ông Tư cố ghìm để giữ nước mắt trong người mà không nổi, ông như muốn ôm cả ngôi mộ vào lòng mình: Chiến Công ơi, tau xin lỗi mầy nha, giờ tau mới về được đây để giữ trọn lời hứa với mầy. Điều mong muốn của mầy đã được toại nguyện. Hôm mầy đi, thì hôm sau giải phóng Sài Gòn. Đồng đội vẫn nhớ mầy lắm. Mầy đi, linh hồn siêu thoát nha Chiến Công ơi! Tất cả những người có mặt ở Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đ mắt buồn nặng trĩu, trong đó có cả thân nhân những gia đình liệt sĩ khác. Người ta cũng không thể tin nổi trước mặt mình lại là một cựu chiến binh già chân đi cà thọt tận cuối chân trời đất nước về đây. Một lão cựu chiến binh cao tuổi nhất xã Đ cũng có mặt, ông nói giọng hùng hồn sâu lắng: Tình bạn chiến đấu của người chiến sĩ cao cả lắm, nó là sức mạnh vô biên, không tiền của nào có thể đánh đổi được. Và tình cảm đó đã làm nên chiến thắng!

Biên Hòa, tháng 11/2016

Đào Sỹ Quang
(Hội VHNT Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 433

Ý Kiến bạn đọc