Tản văn

Chị và tuổi thơ

Chị và tuổi thơ là những kí ức của đời tôi. Khi nào trống trải, buồn, muốn tìm một chỗ dựa tinh thần tôi lại tìm về vùng kí ức đó.

Ngày tôi còn bé, ba mẹ đi làm suốt ngày, có khi cả tháng mới về, tôi ở với chị nhiều hơn. Chị gần gũi hơn về tình, dịu dàng hơn về nết. Chị lại đảm đang công việc gia đình. Chị tập đánh tranh phụ ba lợp nhà, chị tập sàng giần gạo giúp mẹ. Nhà chỉ có hai chị em, chị nhường nhịn tôi đủ điều. Còn tôi, đứa em gái ngang tàng bướng bỉnh, cứ luôn chọc phá cho chị đến phát khóc mới thôi. Cái gì tôi cũng giành phần hơn. Nhớ cái hôm mẹ chia quà, phần bánh chưng mẹ cắt đều quá, tôi không chịu. Cắn thêm một miếng ở phần bánh của chị, tôi còn hát nghêu ngao trêu tức chị: “Tập tầm vông/ Em có chồng, chị ở giá/ Em ăn cá, chị mút xương/ Em nằm giường, chị nằm đất…”. Tất nhiên tôi đã đổi chữ chị thay cho em. Phải vậy chứ! Em phải ưu tiên hơn chị chứ! Nghe vậy, chị chỉ cười, không giận. Còn bé tí, chị tập tành nấu ăn. Nhà tôi trồng cà, chẳng chịu phun thuốc như mọi người vẫn làm. Sợ nhất là con sâu đục thân, không biết nó sinh từ đâu. Sáng ra thấy cây héo đọt, là cứ y như rằng ả sâu nằm gọn trong thân cây. Chị tôi gỡ nhánh cây, rút con sâu căng tròn béo mẫm ra. Vậy là cây cà sống được. Cà ra trái, đến bữa cơm, chị cho tôi ăn toàn cà mà vẫn thấy thích. Nào là cà luộc, cà xào, cà um, cà dầm mắm, cà ăn sống… Tôi chọc chị là chị Hai Cà quả không sai!

Chong-chenh---Tranh-khac-go---Cao-Thi-Song
Chông chênh – Tranh khắc gỗ – Cao Thị Song.

Mùa hè, chị theo người lớn bẻ củi khô về chụm. Một túm nhỏ bé tí, chị chỉ bẻ vừa đủ những cây khô nhỏ như con ong cái kiến tha mồi về tổ “Ham của rừng rưng rưng nước mắt”, chị nói vậy. Có hôm đi củi gặp con khỉ lạc bầy ôm con nhảy chuyền mấy nhánh cây trước mặt, chị ngăn không cho mọi người rượt bắt: “Đừng rượt đánh nó mà phải tội. Nó còn có con nhỏ”. Bài học đầu tiên chị dạy cho tôi về cách sống ở đời, về lòng nhân hậu là như thế, như thế. Nhà gần chợ, chị nảy ra ý nghĩ kinh doanh. Mua chịu chú Ba buồng chuối, chị đem ra chợ bán, lãi được vài ngàn. Lần đầu tiên chị biết kinh doanh là như vậy. Lại nhớ cái hôm hết tiền ăn, không ngồi yên chờ mẹ gửi tiền, chị cắt môn nhà đem bán. Bé tí, cái quang gánh cứ la đà kéo sát đất, loay hoay một hồi, chị vấp làm bể cái vò nước bên cạnh. Vậy là hôm đó, chị cố bán hết môn chỉ để… mua lại cái vò. Nhớ những đêm đông rét mướt, tê cóng chân tay, chị xách giỏ đi bắt cua, còn tôi đi bên cạnh chầu rìa cho chị khỏi sợ. Cua bắt về, chị đem nướng, giã cùng lá gừng xắt nhỏ cho mắm vào, vậy là có món mắm cua ngon tuyệt. Nồi cơm nóng hổi, hai chị em ăn hết veo. Có lẽ đó là những bữa cơm ngon nhất đời tôi.

Chăm chút tôi là vậy, nhưng lúc nào chị cũng chuẩn bị sẵn gói kẹo cục (loại kẹo làm bằng đường đen, cắt thành cục bằng ngón tay cái, có khi để lâu lại đường, ngậm vào tan ngay trong miệng) để “hối lộ” em không mách mẹ những việc chị làm mà chị biết là không vừa ý mẹ (ví dụ như chuyện cái vò bị bể). Rồi những đêm xem hát lăng, hát bội. Nghe tiếng rao, tôi nằm không ngủ, đập chân xuống giường bình bịch đòi chị dẫn đi. Tôi cao gần bằng chị, cố thấp cổ khom lưng để “người lớn kèm trẻ em” vào xem khỏi tốn tiền. Trai làng chọc ghẹo chị, theo về tận nhà. Tối đó, tôi trốn vô hóc nhà, bưng mặt khóc hu hu, như là sắp mất chị đến nơi. Tôi đâm ghét đám trai làng quây quanh chị.

Tôi đi học xa nhà, chị vẫn quanh quẩn với việc ruộng nương nuôi tôi ăn học. “Nhà mình nghèo, học hai đứa lấy tiền đâu ra?”, chị nói vậy. Nhập trường, không được chị lo hết mọi việc như ở nhà, tôi nhớ chị, nhớ nhà. Học được một tuần, tôi trốn học bỏ về, không chịu đi học nữa. Vậy là chị khăn gói theo tôi đến trường, ở hẳn một tuần cho tôi quen rồi mới về. Đến khi tôi quen chỗ ở, vui bạn vui bè, tôi quên luôn chị, chỉ nhớ đến chị những lúc hết tiền.

Chị có chồng xa, tôi về đưa dâu chị. Hôm theo chồng, chị khóc còn tôi vẫn vô tâm vui đùa cùng chúng bạn. Chị theo chồng xa xứ, lâu lắm mới điện về. Giọng Nẫu nghe thân thương đến lạ “Khi nào Tết, chị dìa”. Chị đi rồi bát đũa cũng mồ côi, đến giờ tôi mới nhận ra hình ảnh chị luôn gắn liền với cuộc đời tôi. Nhớ chị, nhớ quá đi thôi! Nhớ cái tuổi thơ của hai chị em nghèo hèn lam lũ, nhớ bờ tre kẽo kẹt những đêm hè, đầm sen quê nhà ẩn hiện nụ cười lấp lóa của chị. Và còn nữa cánh diều vi vu, gió đồng chấp chới. Hình bóng chị tôi bước thấp bước cao trên đường làng khấp khểnh. Dù xa cách nhưng tôi vẫn thầm mong trong lòng chị sống hạnh phúc yên vui.

Câu đồng dao ngày xưa tôi thường chọc ghẹo chị đã vận vào đời chị. Mười hai bến nước chị không gặp được bến trong. Có phải cuộc đời chị tôi vốn đa đoan, nên bất hạnh theo chị cả cuộc đời? Lở dở chuyện chồng con, chị khăn gói về lại quê nhà. Ba mẹ tôi đêm nào cũng thức, đôi mắt thâm quầng thương chị khổ từ nhỏ đến lớn, thương cho thân chị lỡ làng. Đôi mắt đẹp mê hồn của chị từ ấy vương nét buồn. Chị cứ ở vậy, trống vắng, cô đơn. Mái tóc vơi dần sợi đen, bóng thời gian bắt đầu in hằn lên đuôi mắt chị những nét chân chim. Lụm cụm ra vào trong căn nhà trống trải, một mình chị một mâm, ngồi bên nào cũng lệch. Đêm đêm chị thao thức với cái bóng thân quen của mình.

Ba tôi đã nằm trong vùng “Vô cùng thương tiếc…”, tôi chỉ còn có chị: kí ức tuổi thơ của đời tôi. Tôi sợ… sợ chị rồi sẽ bỏ tôi mà đi. Năm rồi, con amip ăn não người xuất hiện ở quê tôi. Nghe đài báo mới té ngửa khi đầm sen quê nhà là nơi có cái chết đầu tiên ở Việt Nam về con amip. Hoảng hồn gọi điện về nhắn chị đủ điều: không được lội xuống đầm, nấu nước đun sôi mà uống,… đủ thứ. Rồi vẫn không yên tâm, tôi bươn bả về chỉ để ngắm chị từ xa, để được nghe trong gió nồng nàn mùi rơm rạ, nhắm mắt lại mơ màng thả hồn về lại ngày xưa nghe tiếng cười trong veo của chị. Hình ảnh chị tôi cùng các bạn mặc áo dài đủ màu sắc đi lễ chùa đầu năm, gặp trời nắng hái mảnh lá chuối bên đường che đầu. Một bức họa làng quê “rất Việt Nam” mà sau này tôi cố đi tìm vẫn không gặp lại. Những kỉ niệm ngày xưa cứ ùa về rưng rức. Có lẽ hình ảnh quê hương tuổi thơ tôi gắn liền với hình ảnh chị, từ dạo đó đẹp lên nhiều…

Ngô Thị Phúng
(Tỉnh Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 391

Ý Kiến bạn đọc