Văn học nước ngoài

Chết vì thơ ca

Shorty bước theo một con chim bồ câu đang chạy lon ton dọc theo lề đường. Cậu ta rùng mình kéo cao cổ áo jắckét mỏng của mình lên, đút hai tay vào túi và nói với Boston Jim: “Thằng Tim chết rồi”.

“Tớ cũng nghe thấy mọi người nói vậy”, Boston Jim nói và châm thuốc lá.

- Đáng lẽ nó không nên làm chuyện đó.

- Làm gì?

- Cố lừa lão Fat Man Jack.

- Nó đã làm chuyện đó sao? – Boston Jim sửng sốt hỏi lại.

- Đúng vậy! – Shorty gật đầu.

- Nó đã lừa bao nhiêu?

- Không phải tiền.

- Thế là cái gì?

- Một bài thơ.

Boston Jim trố mắt hỏi: “Lừa một bài thơ á?”.

- Đúng thế! – Shorty nói đủng đỉnh – Lừa một bài thơ.

- Chuyện đó đã xảy ra như thế nào?

- Tớ tin là chuyện đó xảy ra trước đây hai ngày, khi đó lão Fat Man đã cố leo 6 tầng cầu thang với cái thân hình nặng 90 kí-lô lên chỗ ở bẩn thỉu của Tim tận trên tầng sát mái, trong một ngôi nhà tồi tàn có tầm nhìn chữ A hướng xuống những mái nhà được phủ bằng giấy dầu, những ống khói xiêu vẹo, những mảnh sân bẩn thỉu và nhiều thứ khác nữa… Mà thôi, cậu biết rõ chỗ ở của nó rồi còn gì nữa.

Boston Jim gật đầu đồng ý.

- Chẳng hiểu lão Fat Man muốn gì ở đó. Có thể lão ta đã lại dành cho Tim một công việc vặt chán ngắt mà không một thằng con trai nào của lão muốn làm. Cũng có thể là Tim lại mắc nợ lão ta quá nhiều. Chắc chắn đó không phải là một cuộc viếng thăm thân tình. Lão Fat Man thở phì phò leo lên cầu thang, kiệt sức khi đi vào nơi ở tồi tàn của Tim, và ngay lập tức lão ta nhìn thấy bài thơ đó, nó chỉ có vài dòng, được chép vào tờ giấy trắng tinh, được đóng khung kính cẩn thận và treo trên tường.

Lão Fat Man đọc bài thơ, hơi thở của lão ta trở lại bình thường và lão ta nói chuyện với Tim. Khi hai người đã trao đổi xong, lão Fat Man đã định đi xuống, chợt lão ta dừng lại trước bài thơ, hỏi Tim: “Bài thơ của ai thế?”.

- Bác thấy bài thơ thế nào? – Tim reo lên.

Lão Fat Man lẩm bẩm cái gì đó và nói: “Bài thơ hay đấy, tôi mới đọc qua thôi. Nhưng nó của ai vậy?”.

Tim ngập ngừng, lão Fat Man cố đoán xem nó định nói gì. Lão ta hiểu ý Tim và nói: “Thì cứ nói nó là của cậu đi”.

Anh-minh-hoa---Chet-vi-tho-ca

Tim ậm ừ.

- Cậu cho tôi bài thơ nhé?

- Bác cần một bài thơ để làm gì? – Chắc chắn Tim không phải là người thông minh, nhưng đó lại là một câu hỏi thông minh của nó.

Lão Fat Man không nói gì, chỉ chòng chọc nhìn Tim, đợi câu trả lời. Và nếu như lão ta nhìn ai chòng chọc như thế thì có nghĩa là chỉ có một câu trả lời. Điều đó Tim thừa biết. Nó nhún vai, thở dài thườn thượt và hỏi: “Bác muốn gì?”.

Lão Fat Man chỉ đợi có thế, lão ta giật phăng khung kính có bài thơ, kẹp dưới nách và vội vàng đi xuống cầu thang.

Tim nhìn chằm chằm vào chỗ trống ở trên tường, nơi còn lại một cái đinh han gỉ, trơ trọi, và gãi đầu suy nghĩ, tự hỏi: “Lão Fat Man Jack định làm gì với một bài thơ nhỉ?”. Đối với nó việc hiểu lão Fat Man Jack cũng giống như một câu đố không có lời giải và ngay cả đối với không ít người được coi là tinh ranh.

“Đúng thế!”, Boston Jim nói. “Nếu lão Fat Man thích cái gì thì lão ta lấy ngay. Nhưng tớ chưa hề nghe thấy ai đó nói rằng lão coi trọng văn chương chữ nghĩa”.

“Tớ cũng chưa bao giờ nghe thấy ai nói như thế”, Shorty tán thành. “Cho tớ xin điếu thuốc nào!”.

Boston Jim chìa cho Shorty bao thuốc lá bị bẹp và đưa diêm cho cậu ta.

Với vẻ mặt đăm chiêu Shorty cố thổi những vòng tròn khói thuốc vào làn gió bấc lạnh cắt da cắt thịt.

- Chuyện về Tim tớ chỉ nghe mọi người kể đến đây thôi. Sau đó cô Lizzy đã kể cho tớ phần còn lại.

- Cô vợ mới của lão Fat Man á?

- Chính xác.

Shorty hút thuốc, còn Boston Jim thì đợi cậu ta kể tiếp: “Về đến nhà mình lão Fat Man vớ ngay lấy búa, đinh và treo bài thơ ngay bên trên chiếc tivi, nơi lão ta luôn nhìn thấy mỗi khi ngồi ở chiếc ghế bành. Sau đó lão ta buông mình xuống chiếc ghế đó, đưa một điếu xì gà lên rít một hơi và nói: “Thế chứ!”. Lizzy đi đến gần bài thơ và đọc vài câu, nhưng cô ta không thể tìm thấy điều đặc biệt gì ở trong đó. Cô hỏi: “Thơ của ai thế anh?”.

“Em không biết được đâu”, Fat Man làu bàu. Lão ta nghĩ: Ngay cả khi lão không làm gì khác ngoài việc đọc bài thơ này trong cả cuộc đời khốn nạn của mình thì điều đó cũng đáng giá. Bài thơ có phong cách riêng với lối tả thực. Và chỉ có một từ để nói về tài năng của người viết ra nó, đó là từ “thiên tài”.

- Thế bài thơ viết về cái gì?

- Cô Lizzy cho rằng bài thơ viết về một con hổ ở trong vườn bách thú hoặc đại loại như thế. Chắc chắn toàn bộ bài thơ đã gợi lên trong Fat Man một cảm xúc. Có thể lão ta tưởng rằng qua bài thơ Tiny Tim đã giúp lão nhìn thấy sự sinh động của cuộc sống. Nhất định ở trong đấy có cái gì đó hết sức quan trọng đối với lão. Chắc hẳn đó là những lời vàng ngọc. Và lão có vẻ rất tự hào rằng lão biết người đã viết ra chúng. Mặc dù lão ta chẳng coi Tiny Tim ra gì.

“Thằng Tim đúng là một kẻ chẳng ra gì”, Boston Jim thản nhiên khẳng định, búng tóp thuốc lá xuống rãnh thoát nước và há hốc mồm nhìn theo chiếc xe Limousine màu đen chạy êm ru lướt qua.

- Có thể là thế. Nhưng bây giờ nó đã chết.

- Cậu vẫn chưa nói cho tớ biết, nó chết như thế nào?

- Được rồi, để tớ kể tiếp. Cô Lizzy chỉ hiểu láng máng nội dung bài thơ và cũng không biết rằng lão Fat Man biết người viết ra nó. Nhưng đối với lão ta điều đó không quan trọng, lão ta đang vô cùng vui sướng. Tối hôm qua, khi lão Fat Man vừa mới đi ra ngoài một lát, còn cô Lizzy thì xem phim trên truyền hình, khi đó diễn viên trong phim đọc đúng bài thơ đó. Như vậy, nhất định đây phải là một bài thơ thực sự hay thì người ta mới đưa lên phim. Và trong phim người ta còn nói tên tác giả của bài thơ là Reelkie hay là một cái tên gì đó na ná như thế, nhà thơ đó không sống ở đây, cậu biết ông ta không?

- Không, tớ không biết rõ các nhà thơ, cho dù họ sống ở đây hay không.

“Cứ trốn học thường xuyên như cậu thì người khác còn học được gì ở cậu nữa”, Shorty càu nhàu. “Như vậy, nhất định đó không phải là tên của Tiny Tim. Khi Fat Man quay trở lại phòng khách thì cô Lizzy cười rũ rượi và nói với lão ta rằng lão đã bị chơi xỏ”.

Khi đó mặt lão Fat Man trắng bệch ra, sau đó đỏ lựng lên. Đoạn, lão ta đã giật bài thơ đang treo ở trên tường và cầm nó lao ra khỏi nhà.

“Chắc chắn là lão ta đến chỗ ở của thằng Tim rồi”, Boston Jim suy diễn.

Shorty gật đầu xác nhận. “Và sau đó chính xác điều gì đã xảy ra thì chỉ có mình lão Fat Man biết. Có thể là do quá sợ mà Tim nhảy ra ngoài cửa sổ khi nó nghe thấy lão Fat Man thở hồng hộc leo lên cầu thang. Cũng có thể nó chuồn lên mái nhà và bị ngã xuống dưới. Hoặc là chính lão Fat Man đã tự tay quăng nó xuống từ trên tầng thượng. Chắc chắn cảnh sát đã bắt và tống giam lão ta”.

- Nhưng Tim đã không hề nói rằng bài thơ đó là của nó.

- Đúng thế! Và nó cũng không đề tên mình ở bên dưới bài thơ.

Boston Jim châm một điếu thuốc khác, nói: “Tuy nhiên, nó đã phá hỏng một giấc mơ đẹp của lão Fat Man, đó có thể là giấc mơ duy nhất lão đã từng có”.

- Có lẽ vậy. Hình như năng khiếu thưởng thức văn chương tiềm ẩn trong con người lão mà không ai biết đã bị chà đạp.

Boston Jim khịt mũi và dè dặt hỏi: “Thế ai lo việc tang lễ cho thằng Tim? Hình như là nó không còn người thân thì phải?”.

Shorty bật cười. “May mắn thay! Nó còn nhiều chiến hữu, việc gì cậu phải lo cho nó”.

“Thôi được”, Boston Jim giảng hòa. “Thằng Tim không chơi thân với bọn mình. Nhưng dù sao thì cũng là bạn bè cùng trang lứa. Chúng ta nên cùng lo liệu cho việc an táng nó được chu đáo”.

Shorty nhìn cậu ta với ánh mắt dò hỏi.

- Hôm nay là thứ ba, vào buổi tối bọn thanh niên sẽ tụ tập tại quán bia của Barney. Chúng ta có thể đứng ra quyên góp để ít nhất cũng đủ tiền mua cho nó một tấm bia mộ hẳn hoi.

Shorty ngẫm nghĩ. “Thế chúng ta thuê khắc gì lên đó?”.

“Ồ, cái đó thì khó gì!”, Boston Jim cười nhăn nhở. “Đơn giản là chúng ta thuê người ta khắc lên đó dòng chữ mạ vàng: NƠI ĐÂY YÊN NGHỈ TINY TIM, NGƯỜI ĐÃ MẤT VÌ THƠ CA”.

(Từ bản tiếng Đức)

Cobblestone Riley (Mỹ)
Phạm Đức Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 424

Ý Kiến bạn đọc