Truyện ngắn

Chế Hai tôi

1. Không Hồng, không Ngọc, sinh con gái đầu lòng, ba má tôi đặt tên Nguyễn Thị Hai, chế Hai; tới tôi, Út Thành, chấm hết.

Ngày xuống chiếc “ghe lườn” tản cư từ Sa Co, Tam Bình, dông thẳng xuống vùng đất cùng trời cuối đất, vắng mặt chế Hai. Lúc ấy cũng chưa có tôi, nhưng khi sinh ra được 5, 6 tuổi, một buổi chiều trên bến sông lục bình tím lịm, hoang hoải nơi chiếc “ghe lườn” cắm sào, tôi hỏi ba: “Chế Hai đi đâu lâu quá sao không thấy về vậy ba?”. Ba im ỉm.

Lúc bấy giờ, ba hay quên sau quên trước, và hay buồn. Một hôm, sau khi khoét xong một lõm đất dựng lều, ba nằm ngả ngang cọng dây chùm gởi to tướng bằng bắp chân bảo tôi tới bên ông: “Nhóc đâu? Nhóc muốn biết chế Hai bây đi đâu hả?”. Ba tự nhiên vui lên, kể chuyện chế Hai có thôi có hồi.

chi-em---hs-Hoang-Tram
Chị em – sơn mài – Hoàng Trầm

Thì ra, những năm 44, 45, giặc Pháp đánh chiếm Vĩnh Long. Lính Mã tà cộng lính người Pháp chính thống lùng sục, bắn giết, cướp bóc khắp hang cùng ngõ tắt. Nạn chết chóc, tản cư run rẩy, tối mò trên sông rạch. Càng về sau càng cay cú, gay gắt do chúng mất đồn Mã tà trên sông Trà Luộc. Những người bứng đồn Mã tà không ai khác ngoài ba tôi và già Tám Hương, Tư Cui, thêm vài người khố rách áo ôm, trong đó có A Gà, người chợ Cũ.

“Đấy, đấy, A Gà là anh rể, anh Hai mầy đấy. Thằng dở hơi. Chính A Gà đẩy chế Hai mầy đi ngả khác đấy”. Ba nói. Tôi chau mày…

Tuy nhỏ con, nhỏ tuổi, A Gà là “đồng chí” của ba trong một “Hội kín”. Mũi hơi bị gãy khiến cằm nhọn, mặt nhọn nhưng A Gà nhanh nhạy, từ tốn, đáng tin. Trong một thời gian khá dài, A Gà đêm đêm leo nhánh cây mít qùy lên cửa sổ ngang qua buồng ngủ của chị Hai vào nhà, gặp ba. Một lần mang thư già Tám Hương, Tư Cui gởi cho ba móc ráp chuẩn bị cướp đồn Mã tà, bị lộ, A Gà ém trong buồng chế Hai tôi sáng đêm.

Bốn tháng sau, mọi việc chuẩn bị dao, rựa, mã tấu, đuốc rọi quấn bông băng tẩm dầu… đã xong. Theo kế hoạch, cuộc “ôm hè”, “vật hè” diễn ra chóng vánh, êm thắm. Ba tôi, già Tám Hương áp tới bắt Trưởng đồn Mã tà. Tư Cui, A Gà và đồng đội soi đuốc thu gom binh lính áp giải về vùng trong. Đồn Mã tà bị tiêu diệt. Kế tiếp, giặc chi viện đánh trả ác liệt. A Gà bị giặc đánh rát, từ hầm bí mật chui lên, dao găm, lựu đạn giắt lưng, giơ hai tay xin hàng.

Trớ trêu thay, lúc ba tôi, già Tám Hương, Tư Cui… bị Tây truy nã trốn vào Bưng Vông, Bưng Sen, Bình Ninh, vỡ chuyện chị Hai mang thai, sinh ra con Hương bây giờ…

2. “Muốn ăn bông súng, mắm kho 
Thì về Đồng Tháp ăn cho đã thèm” (Ca dao).

Không. Không cá, không gạo… hà huống chi bông súng chấm mắm kho. Một thân một mình, chế tôi nách theo con bé Hương, khi quá giang, khi thả bộ theo đường Ô Trư, Trà Mòn qua bên nầy Đồng Tháp Mười mịt mờ sương khói. Nghe tới đó, lòng tôi se sắt, vênh vang bên tai thứ gió âm u thổi theo đường Ô Trư, Trà Mòn, xen lẫn tiếng thở dài não nuột của những linh hồn phiêu dạt. Đoàn người đi miết tới Kinh Nước Đen, Đồng Tháp Mười thì dừng. Đố cha thằng Tây, tà ngoài Sa Đéc dám bén mảng tới Lung Nước Đen? Yên chí, tốp người tản cư nương náu trong những túp lều vắng chủ trên những gò nổi giữa đồng không mông quạnh.

Chế Hai nhỏ người, dáng thắt đáy lưng ong nhưng rắn chắc, xăng xốm làm mọi việc vì con Hương bé bỏng: cắm sào căng võng, lặn đất đắp ụ nổi nấu cơm, cắt cỏ phơi khô, đốt lửa… Đêm tối bưng như trời sập, sấm chớp nhì nhằng; ban ngày sương khói bay lãng đãng, se sắt, tái tê.

Con Hương ăn, ngủ, chơi giỡn trên nước…

Có một hôm, túp lều đón ông khách “đồng hương” cơ nhỡ từ Chợ Cũ tới, chế tôi luống ca luống cuống nói câu gì lí nhí trong cổ họng. Nhờ cây đèn dầu tù mù treo giữa lều, hiện ra khuôn mặt gãy gập, cằm nhọn, A Gà mặt mày xanh dờn, ướt sũng từ ngoài đồng vào lều, kéo theo sau một luồng gió độc khiến con Hương giật mình la khóc ngằn ngặt. A Gà đứng chết trân mấy phút hướng cái nhìn chằm chằm về con bé Hương, khẩn khoản đòi hôn con Hương một lần trước khi đi nhưng bị chế tôi cấm. Lạ thay, thằng cướp cạn vô cảm, vô tích sự vẫn biết thương con, thương người!

Đáng nói, khách “đồng hương” ra đi nhưng để lại điềm chẳng lành: dịch bệnh lan tràn Đồng Tháp. Con bé Hương biết nói bập bẹ kêu đau: “Con nhức mắt quá má ơi! Nhức chỗ này, chỗ nầy”. Vừa nói, con bé vừa xỉa một ngón tay chỉ chỏ vào hai mắt mình…

Chế Hai ôm con bé đặt lên võng, ngồi gò lưng săm soi vào hai mắt con. Một vằn đỏ tợ như tia lửa nhỏ vắt ngang mắt trái khiến chế rùng mình. Chế bối rối ra mặt. May mà còn tốp người tản cư sống xúm xít bên chế, trong đó có anh Rị Mọ (họ Văn) do trên đường tản cư là thương binh 2/4, khập khiễng, đi sau cùng, mách cho chế biết trong hoàn cảnh nơi khỉ ho cò gáy nầy cần chất mát trị nóng, trị độc, không gì khác hơn, lấy nước con ốc bươu nhỏ mắt may ra con Hương khỏi đau.

Kinh Nước Đen ốc đàn, ốc đống nhưng tất thảy toàn ốc đen, có lẽ vì vậy mà có tên Kinh Nước Đen. Chế lao ra khỏi lều, ra nữa, ra nữa… tìm làn nước trong xanh quyết bắt cho kỳ được con ốc bươu gậm nhấm trên chiếc lá sen xanh rờn. Nước dâng tới ngực, hẫng chân, chế chìm nghỉm. Trời xui đất khiến lúc đó Rị Mọ bơi xuồng đi ngang, nhảy ùm xuống nước. Chế thoát nạn.

Không có chun đựng nước ốc, chế đặt con ốc bươu chúi miệng xuống chiếc lá sen trải ra, tay cầm cây que tre quấn vải chấm nước ốc chạm vào khóe mắt cho con. Ngày thứ hai, con bé bớt kêu đau, chế mừng…

Nhớ lại thời tản cư vào Đồng Tháp Mười, chế nghe lạnh sống lưng…

3. Sau Hiệp định Genève, đình chiến, gia đình tôi bất ngờ nhận được bức thư của chị Hai gởi về. Trong thư chị nói khá tỉ mỉ năm Kinh Nước Đen bị nước dâng, cuốn hết người tản cư thảy lên con lộ liên tỉnh. Xuồng ai nấy lạo. Riêng Rị Mọ thề chết sống bám Kinh Nước Đen. Chế Hai tôi dắt díu con Hương qua tận Sóc Trăng vào một ngôi chùa xin làm công quả. Tại đây, chế gặp anh Hai, dĩ nhiên không phải A Gà mặt nhọn đã cao bay xa chạy từ lâu. Trước khi gặp chế Hai, anh Chọn chưa vợ, chưa con. A Gà sống buông thả, vô tích sự bao nhiêu, anh Chọn siêng sắng, ham làm, chăm sóc vợ con bấy nhiêu. Anh Chọn thức suốt đêm điều khiển chín mười nhân viên phục dịch cho một khách sạn tư nhân ở Sài Gòn, được lòng ông chủ; còn ban ngày về hủ hỉ với vợ con.

Từ một đứa bé nghèo rớt mồng tơi, bệnh hoạn, rách rưới, nay được ăn no, mặc ấm, cắp sách tới trường âu cũng là con Hương hưởng được lộc trời.

Hôm nhận được thư chị Hai, má tôi khóc nức nở… Ba tôi mắt đỏ hoe ngồi lật lựa từng trang, đọc đi đọc lại cho cả nhà cùng nghe. Đặc biệt, cuối thư ghi rõ lời căn dặn ba má thế nào cũng dẫn Út Thành lên Sài Gòn chơi một chuyến.

Thế là gia đình tôi chuẩn bị chuyến lên Sài Gòn thăm anh chị. Đang loay hoay vỡ đất trồng lúa nước, không đủ lộ phí khiến ba tôi đành ở nhà than buồn, dành suất đi xa cho má và tôi. Hành lý mang theo chỉ là gói quần áo nhỏ, mấy túm ốc đồng, vài cân khô cá mặn, mớ nếp than… Tôi nghiêm chỉnh trong bộ đồ pyjama kẻ sọc, mang guốc dông, ngồi trên con ngựa sắt Đại Đồng phóng vù vù. Sống đời tản cư lênh đênh sông nước, giờ được đi xe hơi chạy ngời ngời, oai chớ bộ!

Bến xe An Đông. Chị đón mẹ con tôi tại đây. Tôi ngây ngô nghĩ chính nơi nầy để dành cười, dành khóc, nói lời chia ly não nề. Chị tôi tóc pha sương lẫn màu tóc của má, rắn rỏi, thu gom hết hành lý, ôm chầm lấy má trước khi bà bước xuống xe. Là đứa con gái lớn, khi má có bầu 6 tháng phải trèo hái cau bị sảy thai, chế Hai sinh ra èo uột, tóc lưa thưa được má cưng nhất nhà. Vả lại, trên 10 năm gặp lại nhau khiến hai mẹ con khóc ngoài sân không đã, còn nán lại khóc trong nhà chờ xe…

Nhà chế 1 gian, 1 tầng, vén khéo, sạch đẹp. Sau một đêm mẹ con, bà cháu hàn huyên tâm sự, sáng ra, anh Hai Chọn từ khách sạn chỗ làm về tới nhà. Chiếc taxi sơn 2 màu xanh vàng (không trương bảng taxi) đỗ xịch trước cửa. Gốc gác người miền trung du Hòa Vang, Đà Nẵng, anh Hai Chọn từ trong mui xe bước ra lịch sự như một công tử vườn: tóc chảy bảy ba, mắt to đen, mũi dọc dừa, dáng cao ráo, thanh tú, ngơ ngơ ngác ngác như đang tìm mẹ vợ.

Má tôi thức muộn. Khi thức, Hai Chọn ngồi dưới chân giường lăng xăng hỏi chuyện má. Day sang con Hương, anh hỏi: “Con gái biết bà ngoại thích món gì, đi ăn”. Con Hương chộp ngang lời ba, đáp: “Bún nước lèo. Quán bà Ba Bụng”. Thế là Hai Chọn dẫn cả nhà tới chỗ con Hương thích ăn sáng. Ăn xong, đích thân Hai Chọn đưa Hương tới trường, trưa rước về, rồi đầu giờ chiều lại đưa Hương đi học. Những ngày tôi và má ở nhà anh chế Hai, anh Hai hí húi mang chiếc bàn con đặt trước hiên cho má ngồi ăn trầu, ngắm cảnh; cầm kềm, búa sửa lại cầu thang phòng hờ má lên gác hai… Và sẵn có xe nhà, anh Hai chở mẹ con tôi, chị Hai, con Hương dạo chơi vài chỗ Sài thành hoa lệ.

Con Hương 14, 15 tuổi, tóc cắt chấm vai chạng tuổi tôi nhưng trông con bé như mới lên 9, lên 10. Mắt vảy cá, đen láy, một hôm tập tôi cưỡi xe đạp vườn Bách Thảo, con Hương kề tai nói nhỏ như thể nói với người bạn gái: “Cậu Út ơi, cậu Út, dẹp bộ đồ pyjama đi, đồ ngủ mà. Cậu phải sắm sanh thứ này, thứ này. Má con mua cho cậu”.

Những ngày mẹ con tôi ở nhà chị Hai, Hương bắt ngoại nằm xuống cho nó nhổ tóc ngứa. Chị Hai để ý chăm sóc mẹ hằng giờ, đặc biệt mỗi bữa ăn, ngắm mẹ đăm đắm…

4. Bẵng đi thời gian dài, chiến tranh chống Mỹ vừa kết thúc, ba má tôi thở phào nhẹ nhõm do một phần bắt được liên lạc với gia đình anh chị Hai. Ba má đã già. Không ai ngờ rằng sau chiến tranh bị tàn phá nặng nề, cái nghèo từ đâu rơi trúng phóc làng xóm tôi còn vướng lại những hố bom sâu hoắm, và thêm gia đình anh chị Hai tôi. Bắt đầu từ khi khách sạn dẹp tiệm, anh Hai mất sở làm. Ban đêm, con Hương đội xịa bánh tiêu bán dạo. Chị Hai làm nghề mổ gà, mổ vịt tại chợ Chánh Hưng bị ế ẩm chuyển sang nghề bán vé số.

Hết đường “binh”. Con Hương vừa học vừa giữ nhà. Anh chị Hai dông tuốt xuống quê mượn đất làm ruộng. Ba má tôi cắt cho 5 công đất, nhằm khoảnh đất gò, phải thuê người vai u lưng bắp phát lác chém lột da dép, dỡ cỏ. Mệt lừ, đứng tréo chân vịt nhìn trời nhìn nước, nhiều khi Hai Chọn muốn bỏ cuộc. Nhưng nhờ chế Hai theo kềm, giở cơm bưng ngồi bờ giồng cùng ăn với anh, Hai Chọn trụ vững hai mùa ruộng. Mùa vụ đầu, lúa trổ bông không ngậm sữa lép kẹp làm thức ăn cho vịt. Mùa vụ sau, lúa trổ cờ, đi đứt.

Lại một lần nữa hết đường “binh”, anh chị tôi nhắm mắt bán chiếc taxi xoay xở nợ nần. Hôm người mua xe chung nốt tiền, anh chị Hai tôi đứng chết lặng chỗ chiếc xe đậu trống huơ trống hoác, khóc rấm rứt. Rồi không biết sao, anh Hai xuôi xị, ngã bệnh bất đắc kỳ tử.

Bệnh lạ. Bệnh ngặt nghèo kêu trời không thấu. Tốp bác sĩ Chợ Rẫy chẩn đoán anh Hai bị rối loạn sinh tủy, không sản sinh được hồng cầu và tiểu cầu. Có bệnh nhân xạ trị tốt, kéo dài sự sống 9, 10 năm. Nhưng không may, Hai rơi vào thể bệnh diễn tiến nhanh quá, phải vào xạ trị ngay đợt 1.

Hai đau đớn, chân tay run rẩy. Chế Hai vừa bán vé số vừa tới lui bệnh viện chăm sóc chồng. Con Hương đội xịa bánh tiêu trên đầu càng nặng, tiếng rao bán bánh dẻo quẹo, âm thanh xa xôi, thăm thẳm…

Thế rồi, dẫn đến ngày con Hương mồ côi cha. Hôm nghe tin dữ từ Bệnh viện Chợ Rẫy bay về, Hương chới với, khụy xuống như thân cây đổ. Lẩn thẩn, liêu xiêu, Hương bưng chiếc lư hương đi trước đoàn người thẳng tiến về phần đất chùa Hòa Linh, Hóc Môn nơi chôn cất Hai Chọn. Chế Hai thất thểu, lọm khọm, đầu tóc rã rời, vẻ mặt xám ngắt, theo sau. Trong cơn hoảng loạn, chợt tỉnh, người đàn bà trừng mắt nhìn cỗ quan tài lấp loáng trong nắng chiều, sững người trước mặt đứa con gái gầy xọp, liêu xiêu, tha thẩn bước đi. Ánh nhìn của người đàn bà chan chứa, níu kéo những hoài niệm đẹp đẽ về người đàn ông Hòa Vang, Đà Nẵng…

5. Sau khi anh Hai mất, nhà chị Hai xuất hiện thằng Văn Tèo. Không phải khách khí gì, Văn Tèo cùng ăn cùng ở chung với con Hương mặc dù hai đứa như trâu đen, trâu trắng. Mười hôm sau, láng giềng phăng ra lai lịch Văn Tèo chính là con trai ông Rị Mọ người ra tay cứu chế Hai chết hụt ở Đồng Tháp. Rị Mọ có thành tích bám Kinh Nước Đen, không may trong trận “đổ giò” bị giặc bắt; thấy Rị Mọ khập khiễng, lơ tơ mơ, bèn “tỉa” cái “đoành” trước khi Rị Mọ đứng sững người 2 phút, ngã xuống, vừa lúc đám giặc hoảng hồn cút thẳng. Hôm chị Hai bán vé số tới cầu Mỹ Thuận, tiện đường về thăm quê cũ, tạt qua Kinh Nước Đen chị mới hay thế sự nhiễu nhương, giật mình. Trước khi chia tay, chị nhét trong túi Văn Tèo mấy chục bạc lẻ và tấm giấy nhàu nát ghi rõ địa chỉ nhà chị ở TP.Hồ Chí Minh: Hẻm 743/1, Phạm Thế Hiển, P.4, Q.8 (đi hướng cầu Chữ Y, qua cầu Mật 500m, tới).

Văn Tèo chưa vợ, mang tiếng kỵ vảy đàn bà, con gái, sống độc thân, phóng đãng, nói chuyện nhát gừng. Con Hương kỹ tính hay để ý lặt vặt, muốn tẩy chay thằng em một mẹ khác cha. Bắt đầu từ chuyện Văn Tèo không ăn được cá có vảy (da trơn), Hương đi chợ mua toàn cá chốt, tàu hũ (đậu phụ). Tèo ngồi ngậm tăm, ăn cơm với muối. “Có giỏi đi chợ mua về ăn, không ăn nhịn đói ráng chịu”, Hương nói. Văn Tèo không nhịn: “Tao đi bụi. Giỏi, mầy nuôi má, tao chống mắt coi”. Chế Hai tôi tính nguội ngắt, dàn hòa. Nhưng sau đó mấy hôm, việc xô xát diễn ra…

“A Xít (do làm việc trong môi trường dễ nhiễm chất hại a-xít nên con Hương đặt tên A Xít cho thằng em mất dạy), mày nhận mặt bà đây nghe. Mầy đi, tao ở? Nghe rõ, trả lời bà”. Lẽ dĩ nhiên, Văn Tèo không chịu đi, mà biết chỗ nào để đi? Chế Hai ôm vai con Hương, khẽ nói: “Mía sâu có đốt, nhà đột có nơi, con ạ”. Con Hương ừ, ờ cho qua chuyện. Hôm sau, con Hương bị bệnh ngã ra, kêu la rống riết. “A Xít, mầy ác lắm. Mầy ở, tao đi đây”. Nói xong, con Hương bỏ đi một nước… Sáng dậy, gian buồng Hương ngủ bật khóa. Rương bị cạy nắp. Bao nhiêu quần áo cũ, mới đều theo chủ. Hoàn cảnh ấy diễn ra trước mặt chế tôi thật hoang vắng, lạnh lùng đến kinh ngạc.

Đặc biệt việc thôi học của con khiến chế đi rảo qua nhiều nơi trong thành phố tìm cho ra con Hương. Trời xuôi đất khiến, chế gặp con Hương ngủ vùi tại vườn Tao Đàn. Chỗ con nhỏ ngủ có mặt tốp trẻ choai choai, vài gã đàn ông dị hợm râu tóc bùm xùm. Chế đứng lặng người trước mặt con Hương mấy phút trước khi cuối gập người xuống dìu con Hương ra xe taxi…

“A Xít đi đâu rồi hả má?”. Con Hương mới bước xuống sân, đã hỏi. Chế đáp nhanh: “Nó đi làm”; lại tiếp: “Thân má trồng mía hai đốt thôi con. Một bị sâu, lẽ nào đi chặt bỏ? A Xít nó tốt với con”, Chế nói. Con Hương xì một tiếng rõ dài.

“Con nhức tai quá má ơi. Nhức chỗ nầy, chỗ nầy”. Con Hương kêu đau đớn. Không phải đau mắt như thủa ở Kinh Nước Đen (nhớ thoáng qua, chế rùng mình) đằng này, con Hương đau tai…

Mấy tháng đằng đẵng trôi qua, không có bệnh viện nào chế không dắt con Hương tới khám. Đất nước đang hồi khan hiếm thuốc men, lần nào đến khám cũng được tiêm thứ Phi-la-tốp, ra về, mang theo bọc thuốc xuyên tâm liên, bệnh hoàn bệnh. Con Hương người nghễnh nga nghễnh ngãng, nói chuyện hớ hênh, tâm hồn như căn lều trống hoác, gió thổi vù vù…

Nhằm ngăn chặn con Hương bỏ nhà đi đợt 2, nhân lúc má đi bán vé số, Văn Tèo vây gí con Hương lên xe taxi chở bỏ nhà thương điên Biên Hòa. Đứng lù lù chỉ huy, mặt vất hất hao hao ông Rị Mọ đứng sững giữa đồng 2 phút sau khi bị bắn, A Xít hô hoán, chỉ chỏ mươi mười thằng A Xít đàn em toàn bạn bè sửa, sạc bình ắc-quy vây gí con Hương. Sức yếu xìu, một giờ chống trả quyết liệt, con Hương phè cánh nhạn… Khi chế Hai về tới nhà, không nói không rằng, đâm bổ lên xe taxi hướng Biên Hòa, chạy miết…

Về tới nhà, con Hương rướn cổ lên, la làng: “A Xít đâu, mầy chạy đường trời khỏi nắng. Bà đâm!”. Khi đó, A Xít hoảng hồn lẳng lặng ngủ, nghỉ tại công ty chờ thời… Chế Hai tôi khổ sở, buồn nẫu ruột trước tình cảnh hai con không thuận thảo nhau.

Hai năm sau, chế tôi già yếu lắm rồi, bao phủ quanh chế một sắc vàng tận thế, sống như chiếc lá rụng xuống khe rừng không trả lại tiếng vang. Rồi dần dần sau đó một hôm năm ngón chân chế cứng lại, đôi mắt chờn vờn, cổ nghèn nghẹn, tiếng nói trở nên xa lạ, thao thiết như thể truyền lại cho hai con ý tưởng đẹp đẽ, cao thượng về tình yêu thương con người!

Lạ thay, cái tang lớn trong gia đình đến với Văn Tèo, con Hương đột ngột quá, sớm quá, tự nhiên hai đứa dừng hẳn việc ẩu đả nhau. Thằng Văn Tèo âm thầm che rạp, tiếp khách. Con Hương hí húi sau bếp dọn dẹp, nấu nướng; và vẫn con Hương ôm lư hương đi trong đoàn người tiễn cỗ quan tài về đất chùa Hòa Linh nơi Hai Chọn nằm an nghỉ vĩnh viễn.

Mãi cho đến ngày cúng xả tang chế Hai, thằng Văn Tèo tự nhiên xởi lởi với chị: “Báo cho bà hay nghe, Tết này, Tèo cưới vợ, nghe. Em sướng. Bà sướng. Bà cơm bưng nước rót, Tèo có người nấu ăn!”. Con Hương trong tâm trạng sắp nhập học, phập phồng, xót đau nỗi nhớ ba, nhớ má, trề môi, nói ngượng: “Nói nghe thì hay ghê. Giỏi làm cho thấy!”.

Tất cả những gì kể trên đây do cậu Út Thành dựa vào câu chuyện thật trong gia đình viết thành truyện ngắn. Tác giả có lỗi nhiều; không đổ cho đường xa biệt mù san dã; thời gian phôi pha, nhạt nhòa nhưng luôn lưu giữ hình bóng cũ tiều tụy, rắn rỏi, giọng ru con nghe xót xa vì chế sẵn lòng xa xót; bùi ngùi gởi tới hương hồn anh chế Hai xấu số, hai cháu thân yêu, dẫu là kỷ niệm buồn!

Nguyễn Thanh 
(Hội VHNT tỉnh Cà Mau)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 400 

Ý Kiến bạn đọc