Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Chật chội hay rộng rãi đều từ con mắt và cái đầu

Trên báo Tuổi Trẻ ngày 4-10-2015 có bài viết “Nghệ thuật dẫn đường cho nhân cách” do Lam Điền và Quang Thi thực hiện có dẫn lời của ông Phong Lê như sau: “… Mở rộng sang các vấn đề Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… đến nay thì ý thức thế nào, có còn chật chội như hồi đất nước còn chia hai phe hay không? Sao không nhìn nhận lại? Phải có hội đồng làm việc đó chứ. Sau khi thẩm định thì quảng bá, khen chê rõ ràng. Hội đồng phải làm bà đỡ cho chỗ nầy, phải có trọng tài cho văn học, nghệ thuật trong thời buổi hiện nay”.

Trước hết, cần có sự thống nhứt với ông Phong Lê chỗ nầy: Chức năng của Hội đồng Lý luận văn học, nghệ thuật Trung ương là TƯ VẤN cho Đảng và Nhà nước về LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH chứ không có vai trò làm “trọng tài” cho ai và cái gì cả. Đương nhiên, trong quá trình tác nghiệp, khi đụng chạm tới những vấn đề chính trị – xã hội, Hội đồng cũng có thể có ý kiến THAM MƯU với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước.

Trở lại vấn đề chính là vấn đề Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… ông Phong Lê tỏ ra không chịu sự “chật chội”, như vậy ông đòi hỏi phải có sự “rộng rãi” trong đánh giá về nhân cách các nhân vật nầy đồng thời ông nói: “… như hồi đất nước còn chia hai phe không?”. Hai phe nào? Tôi hiểu ông muốn nói tới phe Sài Gòn và phe Hà Nội. Tôi xin ghi lại một ít những gì tôi NHẬN được (Tất nhiên là những gì tôi đọc được của người khác) còn XÉT thì xin để dành cho công luận (Cũng tất nhiên là trong đó có cả ông và tôi). Trước hết, theo sự sắp xếp của ông:

1. Về Phan Thanh Giản

PhanThanhGian
Phan Thanh Giản.

- Năm 1831, ông làm Hiệp trấn Quảng Nam, ông đem binh đi đánh giặc Cao Gồng bị thất trận (điều đáng nói là khi nghe đội tiền quân bị thua, ông lui binh bỏ mặc đồng đội không ứng cứu. Vua Minh Mạng khi xét nội vụ giận đến dựng tóc gáy). Ông bị cách chức từ tòng nhị phẩm xuống chánh cửu phẩm và xung làm tiền quân hiệu lực (phải làm quân đi đầu mỗi khi ra trận).

- Sau khi ký hàng ước 1862, phong trào nhân dân nổi lên chống giặc, ông gởi mật thơ cho Bonard thóa mạ Trương Định nặng nề và thỉnh cầu Bonard cấp thời bình định đất Gò Công và tru diệt ngay Trương Định. Ông còn dâng sớ về triều đình xin chém đầu Trịnh Quang Nghị (còn gọi là Quản cơ Thành tức Trần Văn Thành) khi ông nầy tổ chức nhân dân nổi lên đánh Pháp nhằm giành lại đất đã mất. Tuy nhiên, vua Tự Đức đã bác bỏ với lý do: “Nghị chỉ vì yêu nước mà hoạt động. Pháp với ta chưa hẳn đã yên. Giết Nghị tức là tự mình ly gián với nhân dân và bóp chết phong trào kháng Pháp”.

- Trong báo cáo của Bonard gởi về Pháp ngày 8-9-1862 có đoạn: “… Phải nói rằng tôi chỉ biết hài lòng về chính phủ Tự Đức và những người thay mặt họ (còn ai khác ngoài quan kinh lược Phan Thanh Giản – NV) giúp đỡ tôi tại Nam kỳ để cho hiệp ước được thi hành sớm chừng nào hay chừng ấy”. Ngoài ra, sau khi nộp thành Vĩnh Long cho Pháp (ngày 20-6-1867) Phan Thanh Giản gởi một bức thơ cho Lagrandière khi hay tin Bonard đã chết vì bịnh tim, trong thơ có một số câu: “… tướng Bonard đã kính trọng tôi bằng tình tri kỷ… chúng tôi đã ở trong sự thân tình với nhau. Hồi ấy, Đại Phú Lang Sa đã lưỡng lự về vấn đề lấy xứ Nam kỳ làm thực dân địa. Khi một lần đối diện giữa người và tôi để định ngày cho cuộc thương nghị và vấn đề một khi đã giải quyết xong, những tư tưởng và những nguyện vọng của chúng tôi hòa thành một… Vậy tôi là người già yếu ớt, tôi còn hy vọng gì sống? Vâng, đây rồi tử thần sẽ cho tôi hiệp mặt trong sự vĩnh cửu với người nổi tiếng ấy. Nơi đó, hai ta sẽ sung sướng vô biên giới và tình huynh đệ không thể tan rã được (Tôi gạch dưới – NV). Giặc cướp nước mình mà mình giúp đỡ họ là giúp cái gì? Giặc cướp nước mình mà tư tưởng, nguyện vọng của mình và giặc hòa làm một là sao? Coi giặc là tri kỷ, tới chết vẫn sẽ sung sướng với tình huynh đệ không tan rã được thì có lạ lùng không?

- Khi giao tiếp 3 tỉnh miền Tây cho Pháp, trong thơ gởi cho các tổng đốc An Giang và Hà Tiên, ngoài việc ông yêu cầu họ “bẻ gãy giáo gươm không chống lại” ông còn kêu gọi: “Hỡi các quan và lê dân, các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú Lang Sa, những người nầy chỉ đáng sợ trong lúc chiến tranh mà thôi”. Giặc đến xâm lăng thì bẻ giáo gươm không chống lại (hoàn toàn trái ngược với Võ Duy Ninh, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương) rồi khuyên dân mình cứ yên tâm để cho kẻ thù cai trị thì tinh thần nầy đâu phải của người Việt Nam?

Về Phan Thanh Giản thì còn nhiều lắm nhưng chừng đó chắc cũng đủ khái quát về nhân cách của một vị kinh lược, toàn quyền rồi. Đó là với cái nhìn, cái hiểu còn hẹp của tôi còn rộng tới đâu thì nếu có thể xin ông Phong Lê cho chúng tôi được nghe tiếp.

2. Về Trương Vĩnh Ký

petrus-ky03
Trương Vĩnh

- Nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký chúng ta thấy từ đầu đời ông đã gắn liền cuộc đời mình vào cuộc xâm lược của thế lực thực dân ở nước ta.

Từ năm 8 tuổi, ông đã là con nuôi của một cố đạo người Việt thường được gọi là cụ Tám, một năm sau ông được nuôi dạy bởi một linh mục người Pháp – thường được gọi là cố Long – hành đạo thì ít mà làm chính trị thì nhiều. Ông được đào tạo ở Cái Nhum rồi Pinha-lu Cao Miên. Năm 11 tuổi lại được đưa sang trường Pinang ở Mã Lai để được đào tạo cao hơn và 21 tuổi ông ra trường rồi 23 tuổi ông bắt đầu hoạt động – không phải là truyền giáo – mà làm thông ngôn cho quân đội Pháp vào năm 1860 từ sự chỉ định của linh mục Lefèbvre. Tới đây chúng tôi xin mượn lời kết luận của tác giả Nguyễn Sinh Duy trong tác phẩm Cuốn sổ bình sinh (NXB Nam Sơn phát hành tháng 3-1975 tại Sài Gòn) như sau:

“… Việc nuôi dạy Trương Vĩnh Ký của hội truyền giáo hải ngoại chẳng phải là việc làm không có hậu ý, càng không phải là một thứ khai hóa của văn minh Thiên chúa giáo… Trương Vĩnh Ký sống và lớn lên trong các trường Dòng, thế tất ông không thể thoát ra ngoài quỹ đạo của các giáo sĩ như chúng ta sẽ thấy sau nầy”.

“Người thông ngôn 23 tuổi ấy đã hợp tác với quân xâm lược trong bước đầu chinh phục với tinh thần nào? Theo Buochot thì ông đã đem cái mẫn tiệp sâu sắc (des gages de sa sagacité) và cả tính can đảm ra mà phục vụ; và sau cùng ông đã xuất hiện như một người được chỉ định vào hàng thứ sa Jauréguiberry, trong chiến dịch đặt chân, tổ chức và chiếm cứ vĩnh viễn đất Nam kỳ”.

“Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho giám đốc Sở Thanh tra Sài Gòn và các tàu binh Pháp, một sĩ quan quân đội viễn chinh Pháp nhận xét: Trương Vĩnh Ký hiện diện tại nơi đó như một vị thần trước con mắt của mọi người. Dưới con mắt của đồng bào ông, Trương Vĩnh Ký là một quan lớn ngoại quốc”.

Kết thúc chuyến đi Pháp trong phái bộ Phan Thanh Giản trở về Sài Gòn ngày 18-3-1864 ông đã viết thơ cho một bác sĩ ở Pháp tên Chavanne có đoạn: “Tôi không thể nào quên được lòng biết ơn với chính phủ chẳng những đã chiếu cố đến đứa con dưỡng tử mà lại đem đến nguồn hạnh phúc tràn trề, nhất là lòng tin cẩn”.

Trên đây là những bằng chứng cho thấy Trương Vĩnh Ký là Tây chứ đâu phải là ta.

- Trong báo cáo ngày 28-4-1876 về chuyến đi Bắc kỳ gởi cho Đô đốc Duperré. Nội dung báo cáo nhằm giúp cho soái phủ Nam kỳ những gì cần nắm được để phục vụ cho âm mưu xâm chiếm Bắc kỳ của Pháp đồng thời đánh mạnh vào tâm lý của sĩ phu Bắc kỳ phải phục tùng nước Pháp bằng những câu như: “… Tất cả quý vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý xâm chiếm xứ nầy, họ đã có thể làm việc ấy từ lâu, một cách dễ dàng không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải thấy rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, chi bằng quý vị chỉ nên tin tưởng vào những bạn đồng minh tiếng tăm của quý vị và phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, không hậu ý, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ…”. Thật sự Trương Vĩnh Ký đã dọn đường cho Pháp chiếm Bắc kỳ, công lao đó đã được Duperré chọn đưa vào Hội đồng cai trị thành phố Sài Gòn và là thành viên người Việt duy nhứt. Dưới con mắt của người Pháp, ông chiếm địa vị hàng đầu.

Chưa dừng lại ở đó, khi Pháp dựng Đồng Khánh lên ngôi, Toàn quyền Paul Bert đã đưa Trương Vĩnh Ký vào Cơ mật viện Nam triều. Ở đó, Trương Vĩnh Ký cũng tỏ ra xuất sắc qua báo cáo với Paul Bert: “… Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (tức những người có lập trường yêu nước) và sẽ bao vây lấy nhà vua, tôi cũng sẽ gom góp những người thật sự có khả năng cho viện cơ mật”.

Trong báo cáo cho Paul Bert ngày 10-5-1886, Trương Vĩnh Ký đã tán đồng chương trình triệt hạ quân Cần Vương mà ông cho là quân phiến loạn (chữ của Trương Vĩnh Ký: Annammites rebelles): “Tôi đang lo tiếp xúc để cung cấp cho ngài những tin tức chính trị hữu ích. Tôi hết lòng tán đồng dự án hoàn mỹ của ông Pène về công cuộc bình định bởi những yếu nhân bản xứ và ở đây tôi đang bám sát nhà vua cùng cơ mật viện. Như sứ giả tiên khu của Chúa, tôi tìm cách dọ đường cho ngài; tôi tán dương cái uy danh mà tôi ra sức vây bọc quanh con người cũng như tên tuổi của ngài” (Những yếu nhân ấy chính là Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Lê Hoan, Hoàng Cao Khải) và “Những bọn phiến loạn không đáng sợ; họ chỉ có những binh khí cổ lỗ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua được của bọn buôn lậu Trung Hoa”.

Vai trò của Trương Vĩnh Ký không chỉ là làm tình báo, làm tham mưu về quân sự, làm chiến tranh tâm lý như chúng ta đã thấy ở trên mà còn trong cả lãnh vực chữ nghĩa nữa. Đồng thời với việc Trương Vĩnh Ký được giao phụ trách tờ “Gia Định báo” là tờ Công báo của chính quyền thực dân phục vụ cho việc cai trị của nó, Trương Vĩnh Ký còn viết rất nhiều loại sách và được một số nhận xét như sau:

- Loại “Cẩm nang giao dịch”. Nó là loại sách “tri thức thông ngôn” như một người Pháp tên L.Cadìer đã ca ngợi: “Trương Vĩnh Ký là một tác giả có công rất lớn đối với người Pháp đầu tiên học tiếng An Nam” (Tất nhiên là học tiếng An Nam để có khả năng cai trị).

- Loại nghiên cứu truyền thống bản xứ, loại nầy theo Nguyễn Sinh Duy nhận xét: “Nhìn lại toàn bộ trứ thuật của Trương Vĩnh Ký từ 1864 đến 1894 hẳn thấy những chính sách đó không đi ra ngoài chủ đích nghiên cứu để cai trị của người Pháp” và ông cho rằng chính Bonard là người đề xướng và áp dụng. Cụ thể hơn nữa ông còn dẫn chứng một ví dụ dụng tâm của Trương Vĩnh Ký khi cho đăng trên “Thông loại khóa trình” do ông chủ trương bài thơ đả kích những người kháng chiến như sau:

Tân trào nhân chánh ca

Trách ai khuấy rối ngày xưa
Cãi trời mấy lúc đặng chưa mà hòng
Làm cho vợ lại xa chồng
Làm cho dân chúng mắc vòng hàm oan
Làm cho sự nghiệp điêu tàn
Làm cho lê thứ bùn than trăm phần
Làm cho làng xóm phân vân
Làm cho thiên hạ phong trần bấy lâu
Bề trên vẫn thật không cầu
Giả danh trung nghĩa làm sầu cho dân
Trên còn hòa nghị giao lân
Sá chi mình phận thần dân tài gì
Làm cho tróc vảy trầy vi
Làm cho trăm họ lưu ly khốn nàn
Làm cho điền địa tan hoang
Làm cho người khóc người than
thảm sầu
Thương thay làng xóm đâu đâu
Khác nào sâu nọ làm rầu nồi canh
Bất nhơn lòng thật chẳng lành
Dốc tình cầu lợi cầu danh hại người
Bạc một sao xứng vàng mười
Trứng đem gieo đá nực cười cho ai
Nói ngay nhiều kẻ trái tai
Xôn xao cũng gọi mình trai anh hùng
Những trang vi chánh vi tùng
Hư trương thanh thế vẫy vùng
xong chưa
Từ đây sắp tới xin chừa
Tầm vông mà chống sao vừa Sácbô
Gạo cân sao lại lúa bồ
Chén chung sao lại ví tô con rồng
Chi bằng giữ việc tang nông
Ngư, tiều, canh, độc noi trong
nghiệp hằng…

(Miscellanée – Mai,1889, số 1, trang 14)

- Cuối cùng là lời “tự thú” của Trương Vĩnh Ký trong thư gởi soái phủ Nam kỳ (bản viết tay) đề ngày 12-11-1882 có đoạn như sau: “Làm công tác nầy (tức công tác in sách) ý định của tôi là chứng tỏ cho các ông thấy trong số 13 tác phẩm do tôi ấn hành cho đến ngày hôm nay, tôi không bao giờ đi lệch mục đích chính và trực tiếp mà tôi đã đề nghị và trước đây tôi có dịp đã trình bày cho nhà nước cũng như Ủy ban cứu xét các tác phẩm của tôi. Mục đích nầy là Sự biến cải và đồng hóa dân tộc An Nam (Tôi nhấn mạnh – NV). Về vấn đề đồng hóa, Trương Vĩnh Ký không chỉ nói một lần, trong một bức thư khác gởi Ban duyệt xét bản thảo cũng có đoạn: “… Về phương diện chính trị và kinh tế, người Pháp là người đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Người yếu cần dựa vào người mạnh để đưa mình lên bằng người khỏe. Đó chính là mục đích cần đạt tới. Bằng cách nào? Bằng cách đồng hóa. Vậy mà đồng hóa chỉ có thể thực hiện bằng giáo dục và học vấn. Từ đó mới nảy sinh mối thiện cảm giữa kẻ chinh phục và người bị chinh phục”.

Về Trương Vĩnh Ký còn nhiều việc cần bàn nhưng chừng đó chắc cũng đủ để chúng ta “nhận diện” nhân cách của một con người mà vì sao trước khi chết còn trăn trối “Xin hãy thương tôi ít ra là các bạn của tôi”.

3. Về Nguyễn Văn Vĩnh

ong-co-Vinh
Nguyễn Văn Linh

- Sự nghiệp chữ nghĩa của Nguyễn Văn Vĩnh kể ra cũng khá dày. Từ năm 1908 đến 1931, ông là người chủ trương và là chủ nhiệm các tờ báo sau đây: Notre Journal, Notre Revue, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp chí, Trung Bắc Tân Văn, Học Báo, Tùng Thư – Âu Tây tư tưởng (cùng với người Pháp tên Vayrac), Annam Nouveau.

- Nguyễn Văn Vĩnh từng có các chức vụ trong nền hành chánh của chánh phủ bảo hộ: Hội viên Hội đồng Thành phố Hà Nội, hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc kỳ, hội viên sáng lập của Đại hội Nghị đông Pháp.

- Trong tác phẩm “Thành ngữ, Điển tích, Danh nhân từ điển” của TG Trịnh Văn Thanh xuất bản và phát hành ngày 6-10-1965 tại Sài Gòn có nhận xét như sau: “Nếu đứng riêng lãnh vực văn học, Nguyễn Văn Vĩnh rất được ca tụng với những công trình văn nghiệp của mình. Tiếc thay, ông lại tham gia vào chánh trị, một thứ chánh trị vong bản mà thực dân Pháp cố tình đưa ra hầu làm lợi khí trong việc thống trị… Vì lẽ đó, sự nghiệp văn chương của ông bị lu mờ, và ông bị các nhà cách mạng lúc bấy giờ cho là tay sai của thực dân, ông bị nghi ngờ là phản lại quyền lợi của dân tộc…”.

- Nổi trội trong vai trò tay sai và phản lại quyền lợi dân tộc của Nguyễn Văn Vĩnh là giọng điệu và tư tưởng của tạp chí Đông Dương. Khi ở Bắc kỳ, đảng Việt Nam Quang phục tổ chức cho nổ mấy quả bom ở Hà Nội và Thái Bình diệt một số Tây và Việt gian bị thực dân đàn áp và 7 người bị xử chém, 9 người bị khổ sai chung thân và 54 người bị tù với nhiều mức án thì tờ Đông Dương tạp chí với “chủ nghĩa Pháp – Việt” ngay số ra đầu tiên đã cho những người cách mạng tổ chức cho nổ bom là “quân cuồng dại, dùng khí giới tiểu nhân, là dùng chước ăn mày, là dòi bọ ngoại quốc, là mấy anh ốm đói chỉ tày một nắm, là cỏ ăn hại, đáng bỏ rọ lăn sông và hô hào: Quan hai nước Pháp, Việt phải hợp lực mà trừ cho hết đi”. Đông Dương tạp chí kết thúc sự kiện đánh bom ấy bằng một lời ta thán: “Than ôi! Công việc cải lương gắn bó hàng năm mới thành được chút đỉnh mà một phút bị quân cuồng dại phá tan. Những quân ấy tưởng rằng làm hại người Đại Pháp thì làm hại dân tộc ta chẳng biết muôn vàn nào kể” và “Ngẫm nghĩ cho cùng, những quân nầy không có vì nghĩa nước nhà gì, mà làm loạn, chúng nó chỉ cốt hại người và hại cả đồng bào”.

- Tạp chí Đông Dương chủ trương khuyến khích theo chủ nghĩa cải lương để chống lại cách mạng. Số 3, năm 1913 Đông Dương tỏ rõ: “Được nhờ ân nhà nước Lang Sa bảo hộ mà làm nên danh giá hoặc hưởng các quyền lợi văn minh”. Đông Dương tạp chí kịch liệt chống lại bạo động cách mạng. Trong số 2 của tạp chí nêu rõ: “Chớ có thấy mấy nước liệt cường có hồi đại loạn mà tưởng rằng sự tiến hóa phải có cách mạng mới được. Cách mạng là bất đắc dĩ, chớ có cho là việc nên làm. Phàm cách mạng chỉ làm cho bị hãm sức khai hóa lại, chớ không làm cho tiến bộ bao giờ…”.

- Cuối cùng, lòng trung thành của Nguyễn Văn Vĩnh đặt vào đâu? Chúng ta hãy cùng đọc những lời “tâm huyết” của ông: “Ân nghĩa ấy, dù lấy tình mà ở, dù lấy lý mà ở, dù người nghĩ điều lợi nông nổi trước mắt, dù người nghĩ đến nghĩa ái quốc, bảo chưởng loại cao xa, cũng là hợp cả”. Và: “Người Tây từ ngày sang đây bảo hộ tới giờ, các công việc làm ra toàn là việc mở mang cho nước Nam chóng tiến bộ cả, giữ cho được bình yên để cho dân sung sướng mà theo lẽ tuần hoàn lên cõi văn minh, thì hà tất phải phi phản mới là yêu nước. Tưởng lấy lòng trung nghĩa mà giúp bảo hộ, thế mới thực là một cách yêu nước phải mà cao”. Lòng trung thành đó nhằm đạt tới lý tưởng: “Đem số phận mai sau của Việt Nam mà phó thác cho chế độ Pháp Lang Sa, học thầy Lang Sa mà cầu lấy thuật Lang Sa, đồng tâm hiệp lực với người Pháp, giúp cho thành nước Á châu chi Đại Pháp để mà cùng nhau chống cự với lũ ngụy văn minh tưởng rằng cứ phải đuổi Tây về mới có cơ tiến hóa”. Lòng trung thành và lý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh được đặt vào một chủ nghĩa rõ ràng: “Nghĩ trong bấy nhiêu lẽ, thì dân ta thời nay chỉ nên giữ lấy một chủ nghĩa, chủ nghĩa Pháp – Việt. May mà ta được thầy Đại Pháp thì cố mà giữ riết lấy thầy Đại Pháp. Chuyên làm ăn, dốc chí học hành. Mấy đứa bàn nhảm, xui càn, bắt được ta nên bỏ rọ lăn sông”.

Giặc Pháp đến cướp nước mình rồi đặt chế độ bảo hộ, ông Vĩnh khuyên dân mình phải trung nghĩa với chế độ ấy, phải ôm riết lấy người Pháp để nước ta được thành nước Đại Pháp Á châu, ai chống lại người Pháp thì phải giết đi vì họ chỉ là dòi bọ, là lũ ăn mày, là quân cuồng dại. Như vậy gọi ông Vĩnh là tay sai, là phản quốc thì có “chật chội” không?

4. Về Phạm Quỳnh

pham-quynh
Phạm Quỳn

- Cũng như về Nguyễn Văn Vĩnh, ông Trịnh Văn Thanh trong “Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân từ điển” có đoạn nhận xét về Phạm Quỳnh như sau: “Trong phạm vi nầy chúng ta chỉ xét Phạm Quỳnh qua con người văn học của ông mà thôi, vì dính liền với chính trị Phạm Quỳnh đã có thái độ và hành động phản lại quyền lợi của dân tộc do chính quyền thực dân chỉ định”.

- Nói tới Phạm Quỳnh, trước hết phải nói tới Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong. Năm 1917, theo đề nghị của Louis Marty – Giám đốc Phòng chính trị của Pháp, ông đứng ra chủ trương biên tập tờ Nam Phong tạp chí. Giáo sư Trần Văn Giàu đã có khái quát về Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí như sau: “Đông Dương tạp chí hô hào theo Tây mà không chú ý tới học vấn Việt Nam và học vấn Đông Dương. Đông Dương tạp chí chống lại cách mạng giải phóng dân tộc một cách quá ư thô bạo, nó nịnh Tây một cách quá ư lộ liễu, trơ tráo; nó tán dương khai hóa và những cải cách của Pháp mà không hề tự mình yêu cầu Nhà nước thuộc địa phải cải cách chính trị và xã hội. Bởi vậy cho nên Đông Dương tạp chí thực tế là một cơ quan, một nhóm người được trả tiền để làm việc tập hợp các lực lượng thân Pháp, chuyên lo việc tuyên truyền chủ nghĩa Pháp – Việt, tức là sự hợp tác với Pháp, trong từng lớp người Việt Nam có học; một cơ quan như thế, một nhóm như thế, trong tình hình hậu chiến sẽ không có thể làm tròn nhiệm vụ mà Pháp giao cho. Nó đã mất ảnh hưởng, Pháp bèn lập ra tạp chí Nam Phong từ giữa năm 1917 để tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trên ở trong tình hình mới nhằm duy trì và củng cố chủ quyền của Pháp trên Đông Dương. Trong 20 năm dài, Nam Phong đã góp sức xây dựng lên cho tư sản và địa chủ phong kiến thân Pháp một chủ nghĩa, một hệ thống tư tưởng làm vũ khí đấu tranh với lý tưởng cách mạng, đã câu kết chúng nó lại tới chừng mực nào đó để làm một lực lượng chính trị có đường lối trái hẳn với đường lối cách mạng và chân chính yêu nước. Trùm của Nam Phong là Phạm Quỳnh”.

- Nam Phong trước hết là cái loa phát thanh cho An-be Xa-rô và Phạm Quỳnh là người diễn giải lại những ý tưởng của Xa-rô trong một số nội dung chính như:

- Đề cao Khổng giáo: “Quân thần, phụ tử, phu phụ, cả nền gốc gia đình, xã hội, quốc gia ở nước ta là gồm trong ba cái giềng mối đó… Tôn quân là phục tùng cái hiệu cờ làm tiêu biểu cho nước… Tôn quân không phải là vận động mánh khóe, mưu tính những việc đâu đâu không ích gì cho nước nhà mà lỡ ra có hại đến ngôi vua. Tôn quân là cứ trung thành với bảo hộ… quốc dân cũng như quốc quân quyết không thể rời bảo hộ mà thành lập được”.

- Đề cao tinh thần hợp tác Pháp – Nam (nhưng Pháp vẫn coi mình là huynh trưởng: “… Lấy đạo huynh trưởng đưa dắt vào đường tự do, tiến bộ”; là cha của dân Việt. Trong diễn văn đọc ở Hội Khai trí Tiến đức, Xa-rô nói: “Từ thương dân như cha thương con… Dân đã quá mến ta mà gọi ta là cha hiền. Người cha nào lại bỏ con?”. Hợp tác nhưng vẫn khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của Pháp ở Đông Dương. Trong bài trả lời phỏng vấn của La Dépêche coloniale (Điện tín thuộc địa) ở Pháp, năm 1930, hỏi: “Việt Nam 50 năm sau như thế nào? Phạm Quỳnh trả lời: 50 năm sau, Việt Nam sẽ là một nước tự do trong cái vòng khuôn nước Pháp, người Việt Nam về mặt trí tuệ là những đứa con tinh thần của Pháp)”.

- Nam Phong đề cao ý tưởng xác lập vai trò của giới thượng lưu: “Phá đổ bọn thượng lưu đi là cuồng dại, hạn chế bọn thượng lưu lại là nguy hiểm… phàm chính phủ muốn giữ đạo công bằng, muốn theo phép khôn ngoan, thì phải mở rộng lần lần cái bọn thượng lưu ấy ra” (Theo Phạm Quỳnh, thượng lưu trí thức có 5 hạng:

1- Nho lão thành, 2- Thanh niên tốt nghiệp các trường Pháp, 3- Quan trường, 4- Điền chủ, 5- Thương gia. Như vậy thượng lưu chỉ là tư sản, địa chủ, phong kiến và con em của họ. Họ mạt sát hạ lưu một cách dữ dội: “Ôi cái hạnh phúc của quốc dân đều chú trọng vào bậc thượng lưu là thế. Bọn hạ lưu chỉ là một lũ dân đen, một bộ máy sẵn cái lòng phục tùng, hay có thời cảm hóa, cái roi cái vọt, cái dây, cái rợ có thể sai khiến được đàn chiên, đàn cừu; bậc thượng lưu ví như gió mà bọn hạ lưu ví như cỏ, gió hay chiều nào thì cỏ lướt chiều ấy… Các cuộc tiến hóa của xã hội ta ngửa trông thiện chí của nhà nước bảo hộ mà sự tác thành vang bóng ở bậc thượng lưu ta”.

- Nam Phong xướng xuất một chủ nghĩa quốc gia. Lý tưởng, chủ nghĩa quốc gia gồm 5 nội dung:

1. Lấy Khổng giáo làm cốt cách tinh thần của dân Nam.

2. Về văn hóa thì kết hợp văn hóa Tàu với văn hóa Pháp.

3. Về xã hội thì theo những nguyên lý: Công cộng, từ thiện, hữu ái, đồng bào.

4. Về chính trị nước ta bây giờ toàn là việc châm chước cả (?)

5. Về kinh tế thì cố thu hồi quyền lợi, nhà kinh doanh phải tự cường.

Phạm Quỳnh quảng cáo cho chủ nghĩa quốc gia nhưng rốt cùng trong thư ngỏ gởi Pôn Rây-nô – Bộ trưởng thuộc địa Pháp có đoạn: “Về phương diện quốc gia thì sự khủng hoảng ấy có thể tóm lại một câu như sau: Chúng tôi là một dân tộc đương đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu! Mà cái tổ quốc đó, nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến pháp thế nào cho cái quan niệm quốc gia của chúng tôi được phát triển ra, cho chúng tôi cũng có cái đời làm nước xứng đáng ở ngay trong đế quốc của Pháp… Chúng tôi chỉ thỉnh cầu quan lớn có một điều, một điều rất thiết tha quan hệ hơn cả các điều khác, là xin ngài cho chúng tôi một cái tổ quốc để chúng tôi thờ”.

Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, chủ nghĩa quốc gia của Nam Phong là chủ nghĩa quốc gia ăn xin.

Mới đây, trên báo Hồn Việt số 79 tháng 3-2014 có bài của tác giả Đặng Minh Phương có đoạn: “Trong thời gian làm trụ cột của triều đình Huế, ông có một việc làm được nhiều người nói đến đó là việc ông sang Pháp “đòi” hay “xin” Pháp thực hiện Hòa ước năm 1884 (hòa ước mà triều đình huế ký chịu đầu hàng Pháp). Về việc nầy, báo Ngày Nay ở Hà Nội ngày 28-9-1939 viết: “Trong bảy năm ông làm một trụ cột trong triều đình Huế, lương cao bổng hậu, ông đã không làm được một mảy may cho dân cho nước. Và mới đây công việc của ông định làm là sang Pháp xin trở lại Hòa ước 1884 sáp nhập Bắc kỳ vào Trung kỳ dưới triều đình Huế, thật là một việc thất sách và vụng về hết chỗ nói… kết quả cuộc thử nghiệm của tướng công thật là hư vô. Trong bảy năm ông chỉ là một cái bù nhìn đáng thương. Cho nên vì tướng công chúng tôi kêu lên: Về đi thôi, từ chức đi thôi ông Phạm Quỳnh”. Và ở một đoạn khác, tác giả đã trích dẫn một câu của bác sĩ Trần Đình Nam (Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ Trần Trọng Kim) nhận xét về một số việc làm của Phạm Quỳnh: “Đó là việc làm của một người phản quốc”. Cụ nói tiếp: “Từ đó tôi thật sự thất vọng và khinh Phạm Quỳnh” (Trích theo Nguyễn Văn Trung trong “Trường hợp Phạm Quỳnh” tủ sách Tìm về dân tộc – Nam Sơn, Sài Gòn, 1975). Bài báo của tác giả Đặng Minh Phương còn có hai chi tiết quan trọng sau đây:

- Bảo Đại, ông vua cuối cùng triều Nguyễn trong hồi ký cũng đã viết về Phạm Quỳnh: “… Tôi đóng vai trò bình phong, làm phổng đá, để cho các quan lại cai trị của họ (Pháp) tha hồ làm mưa làm gió. Họ cũng đặt ở các địa vị then chốt những bọn tay sai dễ bảo, bọn trung thành tuyệt đối. Họ đặt cạnh tôi Phạm Quỳnh là họ được bảo đảm rồi!”.

- Ngay trong thời điểm Cách mạng tháng Tám nổ ra, tướng De Gaulle đã cho 6 sĩ quan do tên quan tư Castella chỉ huy nhảy dù xuống Hiền Sĩ cách Huế 25 km về phía bắc với bản mật lệnh: “Quan tư Castella có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh… với các lực lượng Pháp hải ngoại và các lực lượng Pháp nội địa để chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền bảo hộ ở miền Trung Việt Nam”.

Chuyện lịch sử nước nhà trước đây có nhiều sự kiện, con người còn khuất tất nay đã dần sáng rõ, nếu thật sự quan tâm, chúng tôi nghĩ với khả năng của ông Phong Lê, ông thừa sức tìm hiểu cặn kẽ để không phải phát biểu như ở cuộc hội thảo vừa qua. Trừ khi ông muốn mượn chuyện nầy để gởi gắm ý ông vào chuyện khác.

Trong bài viết nầy, có một số sự kiện, chi tiết tôi không dẫn nguồn tư liệu tham khảo, tôi chỉ nói một ý chung rằng: Những tư liệu đó phần nhiều tôi lấy từ nguồn của “phe Sài Gòn” trước 1975. Nói như vậy chắc ông Phong Lê cũng biết dụng ý của tôi là đối với lịch sử thì không nên có phe nầy phe kia vì trước một sự kiện hay hành trạng của một con người, với con mắt nhìn để ghi nhận sự việc còn phải qua cái đầu kiểm định nữa. Đó là yếu tố đầu tiên trong các bước để trở nên một con người hoàn chỉnh. Đó chính là “Cách vật – Trí tri”.

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 377

 

Ý Kiến bạn đọc