Tản văn

Chào đón năm Gà, nhớ về một người bạn tuổi Chuột

Những gì rất thật tôi kể sau đây không để giới thiệu về cá nhân mình nhưng để nói về một thứ tệ trạng – đúng hơn, là một tệ nạn – mà tôi đã từng nếm trải, không chỉ một lần ở trong cuộc sống, đó còn là mối nguy hại mà xã hội ta chưa tẩy sạch được.

Vào năm 1945, dưới thời thuộc Pháp, tôi học ở Huế chuẩn bị thi tú tài II thì ngày mồng 9 tháng 3 bọn phát xít Nhật lật đổ chính quyền của thực dân Pháp, đưa tên tay sai là Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng. Thời ấy đa số lớp trẻ chúng tôi chưa hiểu biết về chính trị, chỉ thấy nỗi nhục khi bị bọn Pháp cưỡi cổ, đè đầu, nay thấy Pháp bị hất cẳng đều có niềm vui song vẫn hoang mang chưa rõ sự tình đất nước rồi sẽ ra sao, thì một hôm nọ, đứng ở ven đường trong nội thành Huế tôi thấy một đoàn biểu tình đông đảo đi qua. Những người dân Huế được chính phủ mới điều động đi từ nội thành ra ngoại thành, hô to khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm!”, nhưng tôi thỉnh thoảng lại nghe đôi người hô lớn “Việt Nam đập giập muôn năm!”. Những tiếng “đập giập” rất lạ lùng ấy của người dân Huế yêu nước xoáy sâu vào tâm hồn tôi, khiến tôi suy nghĩ và như bừng sáng ít nhiều băn khoăn về vận nước mình. Tôi nghĩ đất nước đang bị “đập giập”, mà mình ngồi mài đũng quần trên ghế nhà trường thì ích lợi gì. Gia đình của tôi thừa sức cho tôi đi học cao hơn, xa hơn, nhưng dầu có đỗ cử nhân, tiến sĩ mà làm đầy tớ cho bọn ngoại bang xâm lược thì càng thêm nhục. Do vậy còn vài tuần nữa là đến kỳ thi song tôi quyết định bỏ học về nhà.

Tôi trao đổi với vài người bạn học cùng quê và họ đồng ý với quyết định ấy. Tôi ở Thăng Bình, phía trong Đà Nẵng 40 cây số thuộc tỉnh Quảng Nam, và Huế chỉ cách Đà Nẵng 100 cây số nhưng cả đường bộ, đường sắt đều bị quân Nhật phong tỏa không đi lại được, đành phải thuê thuyền theo con đường biển mà trở về nhà.

Mẹ tôi bỏ tôi mà đi lúc tôi mới 3, 4 tuổi nên thân phụ tôi rất thương con, ông không thắc mắc việc tôi bỏ học, bỏ thi. Về nhà được khoảng vài tuần tôi thấy anh Nguyễn Hữu Khiêm đến thăm. Anh là một thầy giáo làng, dạy cấp tiểu học, một người thông minh, linh hoạt, tham gia cách mạng rất sớm và bị đày ra Côn Đảo, sau đảo chính Nhật mới được tự do. Trước kia anh rất thương yêu chị tôi – tên Thiêm – và đã ngỏ lời cầu hôn nhưng chị tôi đã từ chối chỉ vì anh quen ăn trầu với một cái miệng thường xuyên đỏ choẹt. Anh Khiêm hỏi tôi: – Bây giờ thì em làm gì?

Tôi đáp: – Em cũng chưa biết làm gì.

Anh nói chuyện về tình hình đất nước, và đề nghị tôi gia nhập Mặt trận Việt Minh. Bấy giờ tôi nào có hiểu Việt Minh là gì. Anh giao cho tôi vài tờ nói về chương trình Mặt trận để tôi đọc và suy nghĩ, hẹn sẽ trở lại trong vài hôm sau.

Phat-lenh-Toan-quoc-khang-chien-ngay-19-12-1946-tai-Ha-Noi
Phát lệnh Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 tại Hà Nội – Ảnh: Internet

Với tâm não thế hệ trẻ ngày ấy tôi đọc tài liệu nhưng không hiểu gì sâu hơn về các từ ngữ, câu nói chính trị, chỉ thích có mỗi bốn chữ “Đánh Tây, đuổi Nhật” nên xin gia nhập Mặt trận. Tôi được mấy anh lãnh đạo ở huyện đón tiếp ân cần và tôi thật sự vui sướng nghĩ đã bỏ thi là điều quá đúng vì thấy lối thoát của dân tộc mình. Sau vài cuộc họp thì đến giai đoạn chuẩn bị cho Tổng Khởi nghĩa để giành – bấy giờ quen gọi là cướp – chính quyền về tay nhân dân. Buổi họp quan trọng hôm ấy, dĩ nhiên là cuộc họp mật, được tổ chức trong nhà của người em ruột anh Khiêm, là Nguyễn Hữu Đức, vào lúc vừa tối, gồm độ 6 người. Đang bàn việc sẽ chuẩn bị Tổng Khởi nghĩa thì không hiểu sao tôi thấy đau bụng một cách lạ thường, có lẽ đã ăn một món gì đó không được phù hợp. Tôi cố nén lại, ngồi nghe các anh trao đổi tình hình nhưng cứ mỗi lúc bụng lại dồn dập cơn đau nên xin phép để đi về nhà. Thời ấy hình như trong các gia đình tư sản hay tiểu tư sản vẫn tránh nói đến chuyện đi vệ sinh, giữa một không khí quan trọng, coi đó là chuyện xấu hổ, xúc phạm người khác, nên tôi đâu dám trình bày nguyên nhân. Anh Khiêm nhăn mặt: “Việc gì mà về gấp vậy?”. Tôi đáp: “Xin lỗi, tôi phải về thôi”. Và tôi đứng dậy vội vàng đi ra trong lúc các người ngồi họp nhìn tôi một cách khó hiểu.

Tôi đi gấp ra bờ bàu gần đó, do không đủ sức chịu đựng được nữa, vì làng tôi có bàu sen khá rộng, khá dài. Ghé vào một bụi dứa lớn ven bờ để mà giải thoát đại trường cho được nhẹ người, tôi về nhà trong một tâm trạng buồn phiền vì phải bỏ họp. Thân phụ của tôi – mà từ tấm bé tôi đã được khuyên là gọi bằng “thầy” – có lẽ đã đi ngủ sớm vì sau khi chia tay với người mẹ tôi, ông cưới người vợ thứ hai và bị bà này truyền bệnh lao phổi cho ông trước khi bà về cõi khác.

Nhà tôi có một tầng lầu là nơi tôi ở, tôi lên thang gác quẹt diêm thắp chiếc đèn dầu – vì bấy giờ vùng này chưa có điện – rồi ngồi ngẩn ngơ không biết làm gì. Bỗng thấy quyển sách toán lớn đặt trên kệ, tôi lấy nó xuống. Trước đây tôi rất ghét toán, và khi rời Trường Tiểu học Thăng Bình để ra Đà Nẵng học cấp trung học tôi từng lo lắng về sự dốt toán của mình sẽ không kiếm nổi được mảnh bằng này. May sao bấy giờ nhà nước thực dân lại cho tổ chức cuộc thi trung học Cận Kim với mỗi đặc điểm là môn thi toán sẽ được thay thế bằng thi Anh văn. Thế là tôi phải bỏ mất hai năm để mà học cái tiếng Anh bấy giờ còn quá xa lạ.

Lôi sách toán trên kệ xuống, tôi lật tìm một bài toán rồi lấy viên phấn vẽ trên sàn lầu, vốn là bằng gỗ, phương trình bài toán để nghĩ ra cách giải đáp. Hình như phải bỏ cuộc họp quan trọng ra về, trong tôi có sự bất bình đối với chính mình và sự tìm giải một bài toán khó là cách để tự quên lãng.

Nhưng ít phút sau tôi nghe tiếng động ở nơi cầu thang, và khi ngước lên thì thấy anh Nguyễn Hữu Khiêm đứng ở đầu thang chăm chăm nhìn tôi. Hẳn người giúp việc cho gia đình tôi vốn đã biết anh, mở cửa để anh được vào. Anh hỏi: “Làm cái gì đó?”. Tôi đáp: “Dạ, làm toán”. Anh có vẻ sững sờ, rồi không nói một lời nào quay ngoắt, đi xuống thang lầu.

Rất lâu lắm về sau tôi mới biết được nguyên nhân chuyện gặp trong thoáng chốc ấy. Bởi sau khi tôi bỏ họp mà về, anh em sinh nghi, giải tán cuộc họp và cử anh Khiêm đến nhà tôi để điều tra. Tôi thật không ngờ chỉ chút e thẹn vì đã không dám mở lời xin đi “vệ sinh” mà tôi đã gây phiền nhọc cho cả tổ chức. Hình như vấn đề bài tiết một thời bị coi là chuyện ô-uế, một thứ tồi tệ không được có mặt – dầu chỉ là bằng lời nói – trong những giờ phút trang nghiêm. Mãi trên ba mươi năm sau, khi đất nước đã thống nhất, ở Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tình cờ tôi được nghe cô quản thủ thư viện – một cô xinh đẹp đã có chồng con – kể chuyện riêng tư với một người bạn, rằng ngày còn bé cùng với gia đình tập kết ra Bắc, đến thời sinh viên cô đã gặp được một người mà cô mến yêu, quyết định chọn làm bạn đời. Vào một tối nọ, hai người hẹn gặp ở một bờ đê, nói chuyện tâm tình. Giữa lúc đang tâm sự ấy, anh chàng xin phép cô gái để đi giải thông đường tiểu. Anh đến cách đó khá xa, nhưng nghe dòng chảy từ chàng trai nọ rót xuống rổn rảng trên nước ven đê, cô gái – dầu chẳng thấy gì, và chẳng dám thấy – nhưng cô thẹn thùng, coi như đã bị xúc phạm rồi cô đứng lên, ra về, chấm dứt cuộc tình từ đấy. Hóa ra, bài tiết – dầu là tiểu tiện – cũng có một thời là chướng ngại vật ở trong tình yêu. Rất may, những thứ mặc cảm như thế ngày nay đã không còn nữa.

Lần gặp tôi đêm ấy chắc rằng anh Khiêm dầu không mất cả niềm tin nhưng không xóa được nghi ngờ, nên mấy hôm sau anh đến tìm tôi và giao thực hiện cấp bách một việc mà vào thời ấy có lẽ không ai ở tại địa phương làm tốt hơn tôi. Đó là lập một đội kịch tuyên truyền, kêu gọi Tổng Khởi nghĩa để cướp chính quyền. Tôi đã vui sướng nhận lời vì chuyện kịch nghệ từ lâu tôi đã đam mê và khi còn học tiểu học ở trường Thăng Bình tôi đã có những kịch ngắn tự tạo để cùng các bạn diễn vào dịp Tết, đến khi ra học trung học ở Đà Nẵng tôi đã gia nhập rất sớm vào đoàn Hướng đạo là một tổ chức sinh hoạt quốc tế rèn luyện kỹ năng sống cho lớp trẻ, với các khẩu hiệu “sẵn sàng”, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, sẵn sàng xông pha vào những khó khăn… Vài tuần, đoàn lại tổ chức cắm trại vào chiều thứ bảy và ngày chủ nhật, và tối thứ bảy trước khi đốt lửa trại lên vào khoảng nửa giờ thì đoàn trưởng gọi các tiểu đội trưởng đến để tiếp nhận chủ đề nào đó, đặng nửa giờ sau có một màn kịch thể hiện chủ đề cho cả đoàn xem. Trong 5, 6 tiểu đội cắm trại, có đội đã không nghĩ kịp vở kịch, hoặc có vài đội diễn đạt chủ đề một cách ép uổng, song tiểu đội tôi – gọi là tiểu đội Chim Yến – luôn có kịch bản và luôn đoạt được giải nhất. Thật tình tôi chẳng có tài nghệ gì, nhưng vì ngay từ tấm bé tôi đã trải chịu khá nhiều nghịch cảnh gia đình nên dẫu chưa biết đến sự mâu thuẫn như Duy vật biện – chứng – pháp đề cập, tôi vẫn dễ dàng nhận thấy kịch tính ở trong cuộc sống. Từ lớp đệ thất đến lớp đệ lục, chỉ sau vài năm vào Hướng đạo đoàn, người ta chỉ một cành cây hay một cục đá bảo tôi nghĩ một kịch bản, tôi cũng dễ dàng tạo ra tác phẩm về chủ đề ấy, trong vòng nửa tiếng đồng hồ, hẳn nhiên chưa thể nói về giá trị kịch bản. Vào năm tôi học đệ lục ở trường Chấn Thanh Đà Nẵng tôi đem truyện Lục Vân Tiên ra chuyển thành kịch cho bạn học diễn, bấy giờ ông Lưu Quang Thuận (thân sinh của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ) có ghé lại trường, xem vở kịch ấy và rất khen tôi, hẳn để khuyến khích.

Thấy tôi hăng hái nhận lời, anh Khiêm liền giới thiệu tôi thêm một người bạn để cùng gấp rút lập đội tuyên truyền. Người bạn mới ấy là Nguyễn Công Hương, một anh giáo làng, hơn tôi hai tuổi, vì anh tuổi Tí – tuổi của con Chuột – còn tôi tuổi Dần – tuổi của con Cọp. Anh Hương là người cùng làng, nhưng tôi không quen biết nhiều. Anh vạm vỡ, cao lớn, dầu chưa học đến trung học nhưng nói năng rất hoạt bát, hùng hồn. Tôi bàn với anh lấy tiểu thuyết Tấm lòng vàng của Nguyễn Công Hoan để viết thành kịch, độ 3 – 4 màn rồi khi trình diễn được chừng vài màn đợi cho khán giả tập trung theo dõi thì sẽ đứng ra kêu gọi quần chúng vùng lên giành lấy chính quyền. Anh Hương đồng ý, và nói anh sẽ nhận cái trách nhiệm đứng ra hô hào. Tôi viết vội vàng kịch bản chỉ trong vài hôm, gói trọn trong 5 nhân vật rồi tìm trong làng thêm 4 chàng trai vốn thích kịch nghệ để mà tập diễn. Tôi chọn vài anh bạn trai nhỏ nhắn để cải trang đóng vai nữ cho được thuận lợi trong sự di chuyển, vì mục đích đoàn là sự tuyên truyền, kêu gọi quần chúng.

Nha-van-Vu-Hanh
Nhà văn Vũ Hạnh – Ảnh: Thường Đoan

Thường là buổi sáng, đoàn nấu cơm sớm để ăn và để mang theo, dùng cho cả trưa và chiều, thức ăn đơn giản như là cá khô, cá mắm… đợi lúc tối bà con đi làm trở về đông đủ mới diễn kịch để kêu gọi Tổng Khởi nghĩa. Ở các nơi tạo dựng được sân khấu – một loại sân khấu giản dị, tạm bợ – thì sau hai màn, hoặc ba màn lúc rèm kéo lại thì anh giáo Hương vén rèm bước ra hùng hồn kêu gọi tất cả bà con sẵn sàng đứng lên hưởng ứng lực lượng Cách mạng để lật đổ bọn cầm quyền ngoại bang cùng lũ tay sai, giành lấy chính quyền về tay nhân dân. Bấy giờ chưa có các loại dụng cụ phóng thanh, nhưng lời lẽ anh Hương nói có sức vang dội đáng nể. Và cứ mỗi lần anh ra hô hào quần chúng tôi lại rút liền con dao găm bén, luôn được mang theo ở trong túi đồ, tiến ra sau rèm, kề sát lưng anh để mà bảo vệ. Tôi chưa bao giờ tự hỏi với một con dao như vậy làm sao có thể chống trả lại sức tấn công của một đám người, chưa nói là họ có súng, nhưng chỉ với những gậy gộc thì cũng bị họ hạ gục. Nhưng có lẽ với niềm tin ở lý tưởng cao cả của Cách mạng sẽ chiến thắng, tôi không nghĩ gì đến sự thua thiệt. Và ở nơi nào không có rèm che tôi cũng nắm cây dao đứng phía sau anh giáo Hương.

Chúng tôi đi đến một số phố chợ, đến nhiều đình làng, để tập họp dân nhưng chưa hề có sự chống đối nào. Cho đến một hôm đi vào một làng giáp ranh vùng núi, nơi mà chúng tôi từng nghe có một nhóm người Cao Đài thân Nhật thì vừa nghe những lời gọi chống phát xít Nhật của anh giáo Hương, quanh đấy vang lên tiếng hô “Đả đảo!” cùng những hồi trống dồn dập dội theo của một đám người hầm hập, đổ xô về phía sân khấu. Lập tức, chúng tôi tắt đèn, bốn người trong đoàn đã nhờ bóng tối tìm con đường thoát, tôi và anh Hương phóng ra phía sau sân khấu, chạy về phía rừng gần đấy để tìm đường về.

Trên những sườn đồi, những con đường dốc đã bị bụi rậm làm cho trời đêm càng tối tăm hơn, hai người chúng tôi nhiều khi mò mẫm từng bước, và lo sợ nhất là phải lội qua những lòng suối nhỏ mô đá gập ghềnh. Nhờ có hai người cùng dìu tay nhau nên những nỗi khổ ở các đoạn đường cũng dễ vượt qua.

Suốt đêm không ngủ chúng tôi cứ đi cho đến mờ sáng thì về đến chợ Hà Lam. Đoàn có 6 người, bây giờ chỉ có hai người. Với mối nhiệt tình sôi nổi đón chờ ngày Tổng Khởi nghĩa, anh Hương thấy buổi chợ sớm đã tụ nhiều người liền vội leo lên bức tường đầu chợ để kêu gọi đồng bào vùng lên đánh đuổi ngoại bang xâm lược. Và tôi lại rút cây dao, đứng dưới chân tường để bảo vệ anh.

Hà Lam là quê nhà của chúng tôi. Đó là lần cuối của đợt xung phong tuyên truyền kéo dài trên hai tuần qua. Anh Nguyễn Hữu Khiêm đánh giá công tác chúng tôi thực hiện kết quả rất tốt. Hai ngày sau đấy anh lại đến giao cho tôi một nhiệm vụ khác, cũng rất quan trọng, là cầm lá thư của lãnh đạo Cách mạng địa phương đến gặp tri phủ (bấy giờ Thăng Bình còn gọi là phủ) tên là Lê Phổ bảo phải đầu hàng Cách mạng, trước hết là phải thu gom vũ khí vào kho để mà dâng nộp khi Cách mạng đến tiếp quản. Có người nói rằng việc trao thư này là rất nguy hiểm, bởi nếu tri phủ không chịu đầu hàng thì người đưa thư có thể bị giết nếu không là bị cầm tù. Tôi không hề nghĩ như thế, vì tôi rất tin ở sức mạnh của Cách mạng, hơn nữa bấy giờ nghe đâu miền Bắc nhiều nơi đã nổi dậy rồi. Thời ấy, thông tin èo uột, nghèo nàn nên không thể nào nắm hết sự việc ở cách xa mình.

Tri phủ Lê Phổ là người hiền hậu, biết điều. Ông nhận lá thơ, đọc xong, chỉ nói: “Tôi xin đầu hàng. Hôm nay tôi sẽ thu gom tất cả vũ khí để mà chờ đợi”. Chỉ hai ngày sau, anh Khiêm lại đến bảo tôi sáng mai đạp xe ra cầu Hương An, cách phủ lỵ 5 cây số, đúng lúc 10 giờ đón lãnh đạo tỉnh vào phủ tiếp thu chính quyền. Tôi biết các đồng chí lãnh đạo địa phương sẽ có mặt ở cửa phủ lỵ để đón đoàn lãnh đạo tỉnh nhưng sao phân công chỉ một mình tôi – lại đi xe đạp, vì thời buổi ấy chưa có xe máy tràn lan như là hiện nay – ra đón một hay nhiều chiếc xe hơi. Nhưng ở trên đã ra lệnh thì mình tuân hành, mong sao sớm đến cái ngày đất nước thuộc về dân mình.

Tôi ăn mặc chỉnh tề, đạp xe ra cầu Hương An đúng 9 giờ sáng. Đến gần 10 giờ có một xe hơi mui trần, trên xe cắm 2 cờ đỏ sao vàng rất lớn, chở hai người vệ quốc quân cầm súng và ngoài lái xe có hai người lãnh đạo tỉnh, là ông Võ Toàn (về sau đổi tên là Võ Chí Công), và bà Trương Thị Nể, bấy giờ chưa là phu nhân của ông.

Chiếc xe hơi chạy hơi chậm, để tôi phóng chiếc xe đạp đi trước và vừa nỗ lực đạp xe vừa gắng hết sức kêu gọi đồng bào hưởng ứng Cách mạng tiếp thu chính quyền địa phương. Đến phủ lỵ, tôi suýt ngất đi và đã khàn giọng. Mọi việc xảy ra êm ả. Tri phủ bị bãi chức, không chịu một hình phạt nào, người dân nô nức trong một niềm vui khôn tả.

Sau đó anh Nguyễn Hữu Khiêm là chủ tịch huyện, vì không còn dùng tiếng “phủ”, phân bổ anh Nguyễn Công Hương nhận vai chi trưởng Công an của huyện, còn tôi về mặt chính quyền là thư ký Ủy ban Nhân dân Huyện và về phía Đảng được giao nhiệm vụ quá lớn là Chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh Kiệt Sơn. Tôi rất ngạc nhiên, trình bày với anh Khiêm rằng tôi không là đảng viên làm sao có thể đứng đầu một tổ chức Đảng quan trọng như vậy, thì anh trả lời: “Em cứ yên tâm. Rồi đây sẽ có tổ chức lớp học để em vào Đảng”.

Tôi phải chấp hành nhưng không yên tâm chút nào. Dầu việc ở Tổng bộ Việt Minh chỉ đòi hỏi tôi có mặt 2 buổi mỗi tuần song với não trạng của một thế hệ trẻ ở thời ấy, trong khuôn khổ của nền giáo dục thực dân và sự khép kín của một nề nếp gia đình phong kiến, tôi không hiểu hết ý nghĩa của các văn bản chính trị nên rất buồn lòng. Ngay như mấy chữ “thi đua yêu nước” tôi cũng cho là vô lý vì yêu nước là điều thiêng liêng, làm sao có thể đem ra thi đua. Cho đến khi được thấy rõ Bác Hồ đã nói điều đó, tôi mới hiểu được. Còn việc học tập chính trị tôi thấy quá mất thì giờ vì tôi thấy rằng cách mạng là để lật đổ cái chế độ cũ, thế thì cái gì là xấu, là sai của chế độ ấy ta phải làm ngược hẳn lại, thí dụ họ bóc lột dân thì ta không bóc lột, họ coi thường dân thì ta quí trọng dân… Những nhận định ngây thơ ấy đã ở trong tôi một thời gian dài, không rõ mấy tháng, mấy năm. Tôi luôn nghĩ rằng thực hiện Cách mạng là để xây dựng một xã hội tốt đẹp, như vậy người làm công tác ở trong bộ máy chính quyền Cách mạng phải đáp ứng được yêu cầu của bộ máy ấy. Nhưng tôi, trong cái vai trò Chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh thì thiếu quá nhiều khả năng để mà phục vụ, còn ở vị trí thư ký của Ủy ban Huyện thì bị quá thừa năng lực vì không thiếu gì bạn trẻ địa phương có thể thay tôi để làm việc ấy.

Sự thiếu và thừa làm tôi băn khoăn thì một sự kiện xảy ra khiến tôi hết sức buồn lòng, đó là từ ngày có chính quyền mới hẳn vì bận việc nên anh giáo Hương với tôi không hề gặp nhau, nhưng chỉ mấy tháng làm ông chi trưởng công an ở huyện đã nghe nhiều người than phiền về sự hống hách của nhân vật này. Đến lúc có tin bọn thực dân Pháp đã quay đầu lại những mong tái chiếm nước ta, và ở đâu đó đã có chiến sự bùng nổ thì có vài người ở trong huyện nhà bị anh giáo Hương nửa đêm cho người đến bắt đưa đi thủ tiêu vì sợ họ sẽ tiếp tay cho địch. Khi nghe tin ấy, tôi quá bất bình vì tôi thấy rằng đất nước đã có luật lệ thì mọi hành động sai trái phải được xét xử công minh còn anh giáo Hương nào có quyền gì sát hại mọi người, cho dù anh là ông chủ tịch nước cũng không được phép hành xử như vậy, huống hồ anh chỉ là một chi trưởng công an cấp huyện. Đến khi nghe tin cô Kìa, chủ tiệm thuốc Bắc ở mặt tiền đường gần chợ, một người phụ nữ đơn độc, lớn tuổi bị anh giáo Hương kết tội là đã giao du với nhiều phần tử bất hảo, đáng ngờ nên cho đàn em thủ tiêu thì tôi thật sự uất ức, tự thấy mình quá bất lực trước sự ngang ngược, tàn ác ở ngay nơi địa phương mình và càng thắc mắc một người được xem là rất đoan chính như anh giáo Khiêm lại không ngăn cản sự tồi tệ ấy, hay vì giữa 2 ông giáo làng này có sự quan hệ gia tộc nên đã giả điếc, làm ngơ. Tôi bèn viết đơn, xin nghỉ công tác ở Huyện và ở Tổng bộ Việt Minh Kiệt Sơn.

Tôi không tiếp cận với chủ tịch Khiêm song nghe vài người kể lại anh rất bất bình vì tôi xin nghỉ tất cả công tác. Còn anh chi trưởng công an không biết có nghe những lời tôi chỉ trích anh, qua đôi người bạn, nhưng một tối nọ tôi đang lang thang đi trên đường làng với một tâm trạng buồn phiền thì đến một ngã ba nọ có lối rẽ vào trong xóm bỗng nghe tiếng người quát lớn: “Đứng lại!”. Rõ ràng là giọng của anh giáo Hương. Tôi bèn ngước nhìn và thấy lờ mờ qua cái màn đêm ông Nguyễn Công Hương đang đứng, hai tay chống nạnh. Tự nhiên, tôi thấy khó chịu và muốn chọc tức anh ta. Tôi không đứng lại cũng không bước tới nhưng chạy… tại chỗ, một kiểu thách thức. Bỗng anh giáo Hương quát lớn: “Phản động!” rồi rút từ trong túi quần khẩu súng bắn một phát lớn lên trời. Tiếng nổ trong đêm khiến nhiều dân quân trong xóm chạy ra. Tôi vẫn chạy nguyên tại chỗ. Ông chi trưởng công an chỉ về phía tôi, bảo mấy dân quân: “Giải ngay tên phản động này lên xã! Mau lên!”. Nghe lệnh thủ trưởng, mấy người dân quân áp lại, dẫn tôi lên trụ sở xã, vốn là cái đình làng đầu chợ.

Thoáng chốc, được người báo tin, ông chủ tịch xã đã đến. Ông tên là Võ Hưng Khoan, nhân vật có thể thuộc loại đặc biệt trên toàn quốc. Vốn là lý trưởng thời thuộc Pháp, được hàm cửu phẩm – người dân quen gọi là ông xã Cửu – ông còn là thầy thuốc Đông y loại giỏi, chuyên khám và bốc thuốc nhưng không hề lấy tiền ai, đồng thời còn là nhà thơ có tài. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, mặc dầu ông không phải là đảng viên cũng được chính quyền Cách mạng đưa lên làm chủ tịch xã. Và sau 9 năm chống Pháp, lực lượng Cách mạng tập kết ra Bắc, ngụy quyền kéo vào, ông cũng tiếp tục được chế độ này cử làm chủ tịch suốt 20 năm cho đến 1975, là ngày thống nhất đất nước thì ông đã suy kiệt rồi. Con người ấy vượt qua mọi thể chế chính trị đối đầu, để vẫn tồn tại, chỉ nhờ lòng yêu thương dân và rất được dân thương yêu.

Đêm ấy, bước vào trụ sở, thấy tôi đang ngồi có mấy dân quân canh giữ, ông lại gần tôi, bắt tay tôi rồi nói với mấy dân quân: “Các bạn lầm rồi. Đây là anh Dũng, một trí thức ở địa phương, một người rất tử tế, rất hiền lành. Thôi, các bạn về đi!”. Đợi cho đám người lũ lượt kéo ra về hết, ông lại gần tôi lắc đầu nhè nhẹ rồi nói: “Chắc là trời tối, họ lầm. Thôi, anh Dũng về. Đừng buồn”.

Tôi cám ơn ông, ra về, lòng buồn hơn bao giờ hết. Tôi quá hoang mang trước sự đổi thay thái độ của anh giáo Hương vì mới ngày nào – cũng rất gần đây – chúng tôi đã có giai đoạn là bạn chí cốt, và những tháng ngày cùng ở bên nhau bàn bạc sự việc, những chuyến cùng đi trong đêm qua đồi, qua suối, nương tựa vào nhau trên những nẻo rừng, và bao nhiêu lần tôi chỉ có lưỡi dao bén vẫn làm bảo vệ cho anh… thế mà bây giờ anh lại trở mặt, ngang nhiên xúc phạm đến tôi một cách phũ phàng.

Tôi sống trong nỗi chán nản và sự mệt mỏi như vậy suốt mấy tuần lễ thì một trưa nọ nghe tin anh giáo Hương đã bị bắt. Công an ở tỉnh đã về, còng tay anh lại, dẫn đi. Thì ra tội ác của anh không sao thoát khỏi lưới trời.

Tôi cảm thấy yên tâm hơn vì công lý đã có mặt nhưng vẫn hãy còn day dứt vì chưa hiểu được vì sao nơi con người ấy – anh Nguyễn Công Hương – có sự đổi thay nhân cách lạ lùng qua các sự tình đã thấy.

Xét xử anh Hương không kéo dài lâu, hẳn vì ở trên đã có đầy đủ bằng chứng về tội ác của anh và vì tình hình đối phó với bọn xâm lược đã thành bức xúc. Phiên tòa do chánh án tỉnh là Phạm Phú Tiết – thuộc về dòng họ Phạm Phú nổi tiếng một thời – xét xử, tuyên phạt anh Nguyễn Công Hương, án tù chung thân. Tôi nghĩ anh ấy đáng phải tử hình nhưng chế độ mới hình thành xử phạt như thế cũng đáng tội rồi, và có những tháng năm dài để cho anh Hương nghĩ lại về việc mình làm. Nhưng tôi vẫn thấy vương vấn nỗi buồn về sự chuyển biến trong một kiếp số con người.

Bấy giờ chiến sự đã lan rộng. Tôi nghĩ mình phải đóng góp chút gì cho xã hội phù hợp với khả năng mình. Tôi bèn làm đơn xin được thành lập Đoàn kịch tuyên truyền kháng chiến. Ở trên rất tán thưởng mục đích này và gợi ý thêm: “Tuyên truyền đời sống mới”. Đó là những gì tôi vốn có. Về kịch nghệ, như đã trình bày ở trên, là chuyện tôi quá quen thuộc. Tôi lo viết gấp một số kịch bản ngắn gọn mà đến bây giờ chỉ còn nhớ cái đầu đề như Chống bọn thực dân xâm lược, Thưa, biết rồi ạ để nhằm bài trừ mê tín dị đoan, Người chủ tiệm cốt tránh kỳ thị với người ngoài nước vì họ có thể là những bạn tốt giúp ta chống loài xâm lược… Bấy giờ chưa có phương tiện in ấn dễ dàng như ngày nay nên các kịch bản đã không giữ được, trừ vở kịch Người chủ tiệm mà trên ba mươi năm sau, khi đã giải phóng tôi mới được gặp anh Phan Đắc Lập tập kết ở Hà Nội về, đọc lại cho tôi ghi chép, vì anh đã tiếp nhận được từ một người bạn và học thuộc lòng. Về tuyên truyền Đời sống mới thì ngoài việc chống mê tín dị đoan tôi từng sáng tạo cách ăn cho hợp vệ sinh là đũa hai đầu. Sau khi chia tay mẹ tôi được vài ba năm, thầy tôi cưới người thứ hai, nhưng chỉ chung sống được gần mười năm thì bà qua đời vì bà mắc bệnh lao. Thầy tôi đã nhiễm bệnh ấy nên theo lời khuyên bác sĩ không được cùng ngồi ăn chung. Mỗi lần ngồi ăn, nhìn qua mâm cơm riêng lẻ của người cha mình tôi thấy buồn lòng. Một hôm nhìn thấy đũa có hai đầu, một đầu gắp các thức ăn để đưa vào miệng, còn lại một đầu bỏ trống, thật là vô lý, tôi lấy đôi đũa gắp thức ăn bỏ vào chén cơm rồi ngoáy đầu kia để đẩy vào miệng, coi thật dễ dàng. Tôi khuyên mọi người trong nhà làm theo rồi nói thầy tôi làm theo, từ đó cha con cùng ngồi ăn chung một cách vui vẻ. Chính sáng kiến nhỏ nhặt này chúng tôi thực hiện trước ngày Cách mạng Tháng Tám vài năm – vào năm 1943, 1944 gì đó, và tôi nhớ lại chỉ mỗi gia đình của tôi ăn đũa hai đầu trong nhiều năm liền. Có lần, người em ruột tôi là Nguyễn Đức Tư được cho ra ở Hội An, tại nhà một người bà con để học trung học, nhưng được vài hôm thì thấy em tôi trở về. Hỏi: “Sao lại trở về?”. Chú em mếu máo đáp lại: “Họ không ăn đũa hai đầu”. Tôi phải an ủi, khuyên em chịu đựng mà lo việc học.

Tôi lập đoàn kịch gọn nhẹ, chỉ có 7 người và các diễn viên cũng là những người lo việc dọn dẹp sân khấu, kể cả nấu nướng trong các chuyến đi. Cũng giống hồi kêu gọi Tổng Khởi nghĩa tôi chọn một vài bạn nam để đóng vai nữ đặng sự chung sống cho được dễ dàng và tránh những sự hiểu lầm, hay là vu cáo về chuyện quan hệ nam nữ, gây ảnh hưởng xấu đến đoàn kịch. Tôi cũng đem theo hai chiếc đũa lớn, là hai nhánh tre khá dài biểu diễn lối ăn hai đầu, kêu gọi người dân giữ sự vệ sinh chung trong việc ăn uống. Một số bạn trẻ tiếp thu điều đó, khi gia nhập quân đội vẫn quen dùng đũa hai đầu. Do vậy, đã có ca dao: “Những ai ăn đũa hai đầu – Lấy chồng bộ đội, là dâu Bác Hồ”. Sau năm 1975 không lâu, được ra Thủ đô tôi gặp đồng chí Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác. Ông Vũ Kỳ cũng nhắc đến việc ăn đũa hai đầu, nói rằng Bác Hồ từng khuyên bộ đội hàng ngày dùng đũa hai đầu.

Xin trở lại với câu chuyện cũ. Sau khi anh Nguyễn Công Hương bị kết án chung thân được gần 3 tháng thì một hôm nọ người dân Hà Lam, huyện lỵ Thăng Bình, thấy anh nghênh ngang đi lại ngoài đường, mặt anh vênh váo có vẻ coi thường mọi người. Tôi không tin là sự thật, lại bị bận với đoàn kịch vì ngoài vai trò trưởng đoàn, tôi còn là kịch tác gia và diễn viên chính, nhưng một hôm nọ trong một ngày nghỉ cuối tuần tôi đã chứng kiến sự thật. Anh Hương đi qua, không thèm nhìn ai, và lẽ dĩ nhiên là cũng không thèm nhìn tôi, một tên “phản động” đã bảo vệ anh ngày nào. Tôi không hề căm ghét anh, vì bấy giờ tôi nghĩ rằng có lẽ anh mắc phải bệnh tâm thần, nhưng một anh tù chung thân sau vài ba tháng lại được tự do là thế nào đây? Ngay tối hôm ấy tôi viết thư gởi lên lãnh đạo huyện, mà tôi còn nhớ đại ý như sau: “Sự việc ông Nguyễn Công Hương vừa bị kết án chung thân nay đã đi lại tự do khiến cho mọi người hết sức kinh ngạc. Các vị bênh vực lẫn nhau là chuyện dễ hiểu, nhưng nếu sự bênh vực ấy lại chà đạp lên pháp luật thì rồi đây ai sẽ còn tin ở pháp luật nữa. Các vị phải chịu trách nhiệm về mọi rối loạn xã hội sẽ bị xảy ra sau này”.

Tôi ký tên đầy đủ, và sáng hôm sau bỏ vào hộp thư trước cổng huyện. Rồi tôi lại bị lôi kéo vào với đoàn kịch. Sau đó tôi nghe bà con kể lại chỉ ít hôm sau không còn thấy bóng anh Hương ở trong làng nữa. Khoảng chừng ba bốn tháng sau đoàn kịch tôi diễn tại xã Đức An, một miền trung du giáp với vùng núi. Bà con kéo đến xem kịch khá đông vì không dễ gì có dịp như thế. Sân khấu chỉ có mỗi bình ắc-qui thắp điện lờ mờ, cộng thêm bên góc treo một chiếc đèn măng-sông, còn người xem thì không sao thấy rõ. Đoàn kịch cũng diễn một cách nhiệt tình, gần 10 giờ đêm mới kết thúc. Khi tôi bước ra cám ơn bà con thì trong đám đông mờ mịt có tiếng la lớn vang lên: “Hoan hô đoàn kịch Hà Lam!”, lặp lại mấy lần. Tôi nghe được rõ tiếng hô vang ấy là của anh Nguyễn Công Hương.

Đoàn kịch thu dọn vội vàng rút đi trong đêm vì chiến tranh đã cận kề và những điểm đến vẫn còn cách xa. Đi một đoạn đường, nghĩ lại tôi tự trách mình lúc nãy đã không tìm gặp anh Hương để thăm hỏi anh và có lời chào tạm biệt. Có lẽ anh ấy đã bị quản thúc ở vùng quê này, và những lời anh hoan hô đoàn kịch chứng tỏ anh đã biết mình lầm lỗi, dầu rằng đã quá muộn màng. Cho dầu anh ấy không nói lời nào, nhưng biết rằng anh có đấy thì sự thăm hỏi cũng thể hiện chút tình người. Tôi tự nhủ lòng lần sau đoàn kịch quay lại nơi đây, thế nào cũng đến thăm anh.

Xin nói thêm rằng đoàn kịch chúng tôi hoàn toàn tự túc, trừ các bữa cơm do các địa phương chiêu đãi khi đến trình diễn, còn không nhận được sự chi viện nào và tùy khả năng mỗi người đóng góp, giúp nhau giải quyết các việc chi tiêu. Do vậy, đôi khi đoàn phải tạm dừng, đợi có điều kiện sẽ lại lên đường.

Đi diễn môt vòng khắp huyện, thắm thoát trên cả năm trời. Vào dịp hè nọ, tôi nhận được giấy của huyện bổ nhiệm tôi dạy môn văn cho trường trung học huyện nhà, vào niên khóa tới. Trước khi giải tán ban kịch, tôi thấy vẫn còn thời gian chờ đợi ngày để “tựu trường” nên bàn với anh em quay lại Đức An, nơi anh giáo Hương đã bị quản thúc, và đoàn kịch tôi vội vã lên đường.

Chúng tôi đi tới sớm hơn lần trước, nhưng trên 1 năm đã trôi qua. Trời vừa xế bóng, không khí mát dịu tôi bảo các bạn nghỉ ngơi và tôi đi vào trong xóm để tìm thăm hỏi anh Hương. Tôi tiếp nhận được từ ông trưởng thôn một tin ngoài sự đợi chờ: anh giáo Hương đã chết, cùng với gia đình vì bệnh ho lao. Vợ con đã vào đây sống với anh trong những điều kiện thiếu thốn mọi bề. Đã vậy, ở vào thời ấy chưa có thuốc trị bệnh lao, và nếu có thuốc thì gia đình anh cũng phải bó tay. Theo người trưởng thôn kể lại: anh Hương và mấy đứa nhỏ chết trước, còn lại chị Hương và con gái lớn. Mỗi sáng thức dậy, cô gái lớn ho lại hay khạc đờm vào cái lu nước để hai mẹ con uống vào cho ho nhiều hơn đặng sớm lìa đời. Vậy cả nhà anh giáo Hương đều đã vĩnh viễn đi xa.

Tôi đứng hồi lâu mới chào thôn trưởng để trở lại đoàn. Thế là anh Nguyễn Công Hương đã tự hủy diệt và hủy diệt luôn cả vợ, cả con, bởi vì anh đã diệt oan những đồng bào mình.

Nhiều năm về sau cuộc đời của anh vẫn còn là nỗi ám ảnh trong tôi. Và tôi cảm nhận được bi kịch ấy xuất phát từ một tệ trạng đã có lâu đời trong xã hội chúng ta và hẳn ở trong xã hội loài người, đó là tham vọng quyền lực.

Xin nghĩ lại xem, có tội ác nào trong nhân loại này khủng khiếp như những tội ác do tham vọng ấy gây ra? Dầu bọn côn đồ cùng lũ đâm thuê, chém mướn gieo rắc tai họa cũng chỉ tổn thương nhiều nhất vài chục mạng người, nhưng còn tham vọng quyền lực có thể tàn sát không chỉ hàng vạn mà hàng chục triệu sinh linh. Lịch sử nhân loại cho thấy quá rõ các thực trạng này. Ở anh giáo Hương, với một chức vụ quá nhỏ, trong một huyện nhà quá nghèo, nhưng cái tham vọng quyền lực, tiếp sức với sự yếu kém văn hóa đã tạo cho anh ảo tưởng quyền lực dẫn đến hậu quả rất là tồi tệ và thật đau lòng.

Lời khuyên của Bác Hồ: “Cán bộ là đầy tớ của dân”, cũng nhằm chấm dứt loại tham vọng đó. Lời khuyên ấy thật giản dị nhưng thật vô cùng lớn lao, vì đó không chỉ là lý tưởng mà còn là lẽ sống của Cách mạng. Người xưa từng nói: “Dân là gốc của đất nước” và sức mạnh của dân thật là khôn lường, “Lật thuyền mới biết dân như nước”, nên đầy tớ dân là sự phục vụ chân chính, là một hành động cao đẹp vì nhằm mục đích bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ.

Sau 40 năm chiến đấu khốc liệt không tránh khỏi sự mệt mỏi, rã rời, cộng với mưu đồ phá hoại đến từ nhiều phía, đây đó đã thấy phục hồi nhiều loại ung thư do bệnh quyền lực gây ra. Các trò mua quan, bán chức, những kiểu vòi vĩnh, hành dân, bao nhiêu tham nhũng, lọc lừa ôm những khối bạc khổng lồ chia chác cùng nhau và đủ ngón nghề cướp đất, phá rừng, thu vén cho con, cho cháu của những ông lớn, bà lớn chỉ lo xe đẹp, nhà cao, tiệc tùng, du lịch, mặc cho người dân chưa thoát khỏi hết khổ nghèo.

Và dân chờ đợi cơn đại hồng thủy quét sạch những thứ rác rưởi quá hôi hám ấy, để cho đất nước an lành và để vui lòng hàng triệu hồn thiêng liệt sĩ vẫn đang khắc khoải đợi chờ.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2017

Ý Kiến bạn đọc