Một góc làng quê

Cây chuối hột

Gọi “chuối hột” – tức thị đã có một hình dung từ đúng gần như tuyệt đối, bởi giống chuối ấy nhiều hột lắm. Hột đóng dày chi chít, chiếm đến hai phần ruột quả chuối, y như các giống chuối dại trên rừng. Mớ hột ấy cắn vỡ ra, bên trong chứa vị tanin chan chát giống vị ổi, vị trà (vậy nên chuối hột còn có tên: chuối chát). Công bình mà nói, lớp cơm ít ỏi đóng xung quanh phần hột chuối khá thơm ngon (còn ngon hơn một số giống chuối không hột), nhưng sự phiền phức của cái khâu “ăn chuối phải nhằn hột” đã khiến chuối hột mất giá trị thương phẩm ăn tươi. Ít ai dùng quả chín để ăn mà chỉ đem ngâm rượu hoặc phơi khô, nấu nước uống trị bệnh (suy/sỏi thận, đau lưng…). Nhu cầu ấy không lớn lắm. Tuy thế, người quê không bỏ chuối hột. Chuối vẫn được trồng lác đác – không nhiều thì ít – nơi các góc vườn quê. Mà chúng khỏe cực! Đào bỏ, chỉ cần sơ ý sót lại một mụt chuối con con lấp đâu dưới lớp đất là chừng năm sau, chúng đã mạnh mẽ vươn lên, đẻ cháu sinh con thành cả một bụi chuối mới!

Anh-minh-hoa---Cay-chuoi-hot

Không bỏ được cây chuối hột là có căn nguyên xác đáng. Nhược ở chất lượng trái (chín), nhưng giống chuối hột đã tranh đấu, chứng minh cho quyền được sinh tồn của mình bằng hàng loạt cái ưu không giống chuối nào có. Bẹ chuối hột dẻo dai được phơi khô tước nhỏ làm dây buộc. Trái, bắp (hoa), thân chuối hột lúc còn non đều ăn được và còn là món rau khá khoái khẩu (dùng ăn sống hoặc nấu chín) không thể thiếu trong một số thực đơn: gỏi gà xé phay, bún chả cá, bún riêu, lươn om, vịt luộc… Chưa hết, cây chuối hột còn cho người một sản phẩm hữu dụng: lá chuối. Vùng quê Trung – Nam Việt thiếu lá dong nên các loại bánh truyền thống (bánh ít, bánh tét, bánh chưng) đều được gói bằng lá chuối. Mà chỉ duy nhất lá chuối hột dùng được bởi nó khá dẻo dai, tạo mùi thơm dễ chịu và không có vị đắng. Bánh gói bằng lá chuối hột, khi bóc ra sẽ có lớp da màu xanh rất đẹp. Ngày nhỏ, cứ mỗi lần thấy mẹ buộc cái câu liêm (liềm) vào đầu cây sào dài, vác ra vườn rọc lá chuối là tôi biết ngay nhà sắp có giỗ. Sướng lắm. Thể nào cũng rồng rắn chạy theo xin mẹ vài cái sống lá thật to, buộc dây đeo vai mà làm… súng. Cả lũ hò nhau chia phe đánh trận giả, rồi vừa bắn ùng oàng vừa mơ đến những lát bánh chưng, bánh tét gói lá chuối hột dẻo quẹo chân răng, hay cái bánh ít thơm mùi lá gai và béo ngậy nhân dừa…

Ngoài gói bánh, lá chuối hột còn dùng gói các món quà quê (xôi, bánh rán, kẹo dẻo…). Vậy nên quê tôi xưa nhà nào chuối hột nhiều, giỗ chạp còn thừa, người ta rọc, phơi héo, cuốn bó mang ra chợ bán. Hàng quà bánh mua lá chuối, sau đó bán quà lại cho người bán lá, và gói quà bằng chính những… tấm lá vừa mua xong! Cái vòng tiểu luân hồi của tấm lá chuối xem ra cũng có chút hay hay. Tiện lợi có thể không bằng giấy báo, túi nilon nhưng sự an toàn hiển nhiên ăn đứt. Quan trọng hơn, những tấm lá chuối dùng xong vứt bỏ sẽ nhanh chóng mục hoai trở về với đất, không lo gây ô nhiễm môi trường…

Quê trên đà phố hóa nhiều loài cỏ cây truyền thống đang mất dần nhường đường cho cỗ xe phát triển. Riêng cây chuối hột vẫn còn và tin chắc chúng sẽ tồn tại lâu bởi những nhu cầu có phần lặng lẽ nhưng lại không thể nào cho qua trong sinh hoạt cũng như ẩm thực. Ngày nhỏ tôi không thích cây chuối hột nhưng giờ thì ưa. Mạnh mẽ sinh tồn nhưng không chút phô trương, chỉ lặng lẽ âm thầm làm lợi cho đời…

Y Nguyên
(Huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 449