Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

CÂU ĐỐI với việc dạy và học tiếng thời xưa

Mỗi năm Tết đến, thú chơi câu đối lại có dịp phục hưng, có thể vẫn có người còn thích trang trí bàn thờ tổ tiên bằng đôi câu đối, treo ở trong nhà một cặp liễn mừng xuân. Nhưng phần đông người yêu văn thơ thì chỉ có cái thú thưởng thức câu đối in trên các số báo xuân. Đọc những câu đối ấy có thể thấy được không khí mừng xuân của các tầng lớp nhân dân, những lời thể hiện ngắn gọn của các tác giả được đưa lên trang báo.

Có thể có người hoài cổ khi nhớ lại bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên. Cũng có thể vui khi một nét đẹp xưa vẫn còn thích nghi trong xã hội công nghiệp và đô thị hóa. Là những nhà giáo dạy Ngữ văn, có lẽ nên cùng nhau tìm hiểu cái đặc sắc trong cách dạy và học “thể văn” đặc biệt này.

Lop-hoc-Thoi-xua-1
Lớp học thời xưa – Ảnh tư liệu

ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÂU ĐỐI XƯA

Gọi câu đối là một “thể văn” dường như gò ép. Bởi vì mỗi câu đối chỉ là 2 vế câu có một số chữ hạn chế, thường mỗi vế chỉ chừng mươi chữ, hình thức thì ngắn gọn đơn giản, mà nội dung thì cũng chật hẹp khó nói được những điều lớn lao sâu sắc. Thế nhưng, cùng với tư cách độc lập ở những đôi câu đối đơn lẻ, câu đối còn tồn tại với tư cách là “tế bào”, là thành phần chế tạo của các thể văn thơ xưa. Có được ý nghĩa ấy chính nhờ câu đối hội tụ được những đặc sắc cả về nội dung lẫn hình thức ngôn ngữ rất phù hợp với thứ ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán, tiếng Việt.

Với đặc điểm nhiều thanh điệu (6 hay 8 thanh), chia làm 2 nhóm bằng trắc đối lập nhau, câu đối tìm ra được hình thức đối cơ bản là đối thanh, theo luật bằng trắc ở mỗi vế. Chặt chẽ thì chữ nào đối với chữ ấy: Quân thần/ Phụ tử (Vua tôi – Cha con), Tôi tôi vôi/ Bác bác trứng. Rộng rãi một chút thì có thể như ở thơ Đường cho phép “Nhất – Tam – Ngữ bất luận”, chữ thứ nhất, chữ thứ ba, chữ thứ năm có thể tự do về bằng trắc. Quan trọng là chữ cuối các vế nhỏ trong câu phải đối:

Thiên hạ xác rồi/ còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế/ lại bôi vôi.

Về mặt từ loại, câu đối phải chỉnh, nghĩa là các chữ ở 2 vế phải cùng một loại. Thiên hạ/ nhân tình, pháo/ vôi (danh từ). Xác/ trắng, đốt/ bôi (vị từ: động, tính từ). Lại còn phải chú ý đến cách dùng từ có dụng ý (ý nghĩa tu từ – ngữ dụng).

Da trắng vỗ bì bạch
Rừng sâu mưa lâm thâm.

Vế ra chơi chữ da trắng (Nôm), bì bạch (Hán) cùng nghĩa. Vế đối cũng phải rừng sâu (Nôm), lâm thâm (Hán) cùng đối nhau, cân đối nhau. Về mặt khác: một bên tượng thanh (tiếng vỗ vào da), một bên tượng hình (hình ảnh hạt mưa rơi nhỏ và mau). Đó mới chỉ là cầu kỳ về “chữ”, còn có đòi hỏi đối chọi về mặt nào đó trong lập ý. Có thể sóng đôi chọi nhau về cảnh:

- Chữ nghĩa mớm dần con trẻ hết
Râu ria đâm mãi cái già ra.
- Nhà dột đôi ba gian
Một thầy một cô một chó cái
Học trò năm bảy đứa
Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi.

Có thể đối chọi về ý:

Thiên hạ dại vô cùng
Pháo nổ đì đùng thêm mất chó
Ông nay khôn bất trị
Rượu say túy lúy lại nằm mèo.

Cố nhiên cái ý đối chọi kia phải tự nhiên, nghĩa lý phải rõ ràng và câu cú phải mạch lạc.

Với cấu trúc chặt chẽ, đặc sắc về nhiều mặt như thế, câu đối được dùng rộng rãi trong đời sống. Người ta làm câu đối để mừng, để chúc nhau vào dịp Tết nhất, vào dịp vui mừng (cưới xin, làm nhà, lên lão…) và cũng để phúng viếng. Trong đời sống xưa kia, những câu đối như thế đáp ứng sự giao lưu tình cảm rất phù hợp. Những câu đối hay còn được viết bằng thứ chữ vuông rất đẹp nữa, sẽ được lưu giữ với cả ý nghĩa một tác phẩm mỹ thuật.

Với văn thơ, câu đối đóng vai trò quan trọng. Mỗi bài thơ Đường luật bát cú có 2 câu đối ở giữa bài (cặp 3-4, 5-6, gọi là thực và luận), nhiều khi tạo nên giá trị của bài. Các bài văn xuôi xưa (phú…), cũng gồm nhiều câu đối. Đến cả các thể cách thơ lục bát, song thất, nhiều khi tác giả cũng sử dụng kỹ thuật tiểu đối (2 vế ngay trong một câu):

Làn thu thủy/ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm/
liễu hờn kém xanh.

Như vậy, dễ thấy vì cả ý nghĩa khoa học – giáo dục lẫn ý nghĩa đời sống, câu đối cần phải được dạy và học một cách kỹ lưỡng.

DẠY VÀ HỌC CÂU ĐỐI THỜI XƯA

Xưa kia, Văn – Sử – Triết bất phân, dạy và học trước hết là dạy và học chữ Nho, thứ chữ của thánh hiền. Qua các sách soạn ra chữ Nho cho trẻ nhỏ từ “Tam tự kinh”, trẻ sẽ học dần các chữ và tập viết (từ “phóng” tức là tô chữ đã viết sẵn, đến viết “buông”). Học chữ nhưng từ nội dung của sách cũng học các đạo lý, các kiến thức mà nội dung sách đề cập (dù rất cao siêu). Nhưng đó mới là học chữ và kiến thức. Còn nội dung rèn kỹ năng thì sao? Còn ngữ pháp và kiến thức chung về ngôn ngữ nữa? Cái quan điểm “tổng hợp” khiến sự phân tích, đúc rút, khái quát về mặt này yếu, không tạo ra được một hệ thống kiến thức rành mạch rõ ràng. Người ta dựa vào kinh nghiệm người đi trước mà tập theo, tuy vậy có thể là kinh nghiệm học tập từ lâu đời ở Trung Quốc và ở Việt Nam cũng đưa đến một cách học về tiếng (ngữ) khá hiệu quả. Đó là phương pháp học thực hành (học kiểu truyền nghề – truyền nghề viết văn). Và người ta chọn học từ bước cơ bản nhất là học làm câu đối. Ở đấy vừa có kiến thức về cách làm lẫn kiến thức nền về ngôn ngữ (từ ngữ âm – thanh và âm – đến từ loại, đến tạo câu) vừa có sự rèn kỹ năng làm theo để có thể làm được câu đối.

Nội dung học đầu tiên là về thanh, cơ sở của sự đối thanh. Học trò sẽ học để phân biệt, nhận biết và vận dụng sự đối chọi bằng – trắc. Chữ Hán không có dấu thanh nên phải đánh vần để xác định chữ nào là bằng và chữ nào là trắc. Đánh vần rất “thủ công”: quân quần bằng, phú phụ trắc, phù phu bằng, tứ tử trắc, rồi lấy quân bằng đối với phụ trắc, thần bằng đối với tử trắc.

Tiếp theo, thầy dạy cách biết đối thanh rồi còn phải chọn đối cho chỉnh, nghĩa là chữ nặng đối với chữ nặng, chữ nhẹ đối với chữ nhẹ, từ thực không thể đối với từ hư. Chưa có khái niệm danh từ, tính từ, động từ gì, chỉ biết đó là từ thực và nặng, những từ nối, từ đệm là hư, là nhẹ (sau này khó hơn là biết đến bán thực, bán hư…). Đã đối một chữ tốt thì tiến lên đối hai chữ một và đối thành câu (kiểu “tôi tôi vôi”) và đối các câu có nhiều vế. Như vậy là hiểu biết mở rộng dần dần, kỹ năng cũng nâng cao dần.

Cách dạy thực hành khiến các thầy luôn bám chắc vào các mẫu để phân tích cho trò hiểu, và nhận biết các mẫu thầy đưa ra (từ nào bằng, đâu là thực, đối như mẫu này đã chỉnh chưa, chọi chưa). Vì là các mẫu chọn sát yêu cầu nên trò dễ nhận biết được. Các câu đối sai như kiểu “Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc” mà đối “Thánh sâu gươm vua gừng tam cò” sẽ được chỉ ra là không thành câu, không mạch lạc… Việc làm theo cũng có thể nói là đi theo một hướng khá khoa học: từ mô phỏng, dựa vào chữ nghĩa sách vở mà làm (tức dùng vật liệu cho sẵn) tiến dần lên mới tìm từ ngữ (vật liệu) của mình mà đối theo kiểu “cải biến mẫu” dù vẫn lắp ráp. Khi đã thành thạo việc lắp ráp mới có thể tự sáng tạo. Mỗi bước đi như thế, thầy đều chấm theo kiểu kèm cặp truyền nghề khá tỉ mỉ cho từng người. Những dấu “Khuyên” cho câu hay, “Chấm” cho câu vừa, “Sổ” cho câu dở và “Sổ toẹt” khi quá dở. Cố nhiên tùy thầy, có thể có những hình phạt không mấy dễ chịu cho những người lười, dốt…

Theo với sự tiến bộ của trò, rất nhiều bí quyết đối với những trò chơi chữ lắt léo ở vế ra cũng được truyền đạt qua các mẫu đưa ra và những bài tập đi theo. Có thể nói là các kiến thức ngôn ngữ cũng truyền đạt được cho trẻ không đến nỗi khó học. Và các thầy cũng có ý thức rèn tập cho trò những thao tác tư duy cần thiết cho việc làm văn như chọn lựa, so sánh các từ ngữ, các ý tứ khi đối, cũng như việc kiên trì trau chuốt ngôn từ đáp ứng các yêu cầu của vế đối. Đó là một thứ rèn luyện tư duy, rèn luyện nhân cách để từ đó tạo ra được những con người có thể tiến lên viết được các văn bản có câu đối là thành phần và cũng cho ra những nhân tài mà khả năng ứng đối, kỹ xảo ngôn từ lưu danh muôn thuở gắn với thể loại như Nguyễn Khuyến. Cố nhiên, đó là các bậc thầy có đẳng cấp và có tài năng đạo đức, có vốn hiểu biết sâu sắc, có khả năng hướng dẫn và kích thích sáng tạo ở trò. Cũng phải nói cách dạy qua câu đối kiểu thực hành tỉ mỉ như thế này lại là thể loại văn rất đặc biệt (có nhiều bậc rèn luyện), tuy là ưu thế nhưng cũng chỉ áp dụng được với thời xưa dạy và học chỉ để có kỹ năng đọc thông mặt chữ, hiểu thông nghĩa lý (tương đối) và viết được “văn thơ” (văn công cụ). Tuy nhiên, qua những cuốn sách nghiên cứu, bình luận về câu đối của các nhà nghiên cứu uyên bác như Nguyễn Văn Ngọc (quyển Câu đối in từ 1931) và tiểu thuyết phóng sự như Bút nghiên, Lều chõng, người giáo viên ngày nay vẫn có thể tìm thấy cái hay (cũng như cái chưa hay) ở phương pháp dạy và học tiếng Hán và tiếng Việt ở mảng câu đối. Nếu ngày nay trong các giờ Tiếng Việt, ta đưa được những mẫu phân tích trong câu đối, tôi nghĩ cũng rất bổ ích cho việc dạy và học, việc giáo dục tình yêu tiếng Việt và phần nào trang bị được hiểu biết về một truyền thống văn chương. Tất nhiên, không nên tham lam lý thuyết mà chỉ cần từ những mẫu lý thú mà minh họa cho một kiến thức ngôn ngữ hiện đại nào đó (mà giai thoại văn học cung cấp cho ta khá nhiều). Lấy xưa dùng nay cũng là một cách nên chú ý.

Minh Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 395

Ý Kiến bạn đọc