Tản văn

Cầu cuối trời

1. Không ai ngờ rằng việc bắc cây cầu bê tông cốt thép vĩnh cửu qua sông Cửa Lớn (Sông Bùn) Năm Căn đánh động đến nhiều nơi, nhiều người trong cả nước, tới cả một ông già 87 tuổi như chú Út tôi ở thành phố lớn phía Nam.

Tin chú Út sắp xuống Cà Mau đúng lúc công trường đang tập trung thi công các hạng mục xây trụ cầu cộng nhiêu khê việc nặng nhọc với khá đông lực lượng công nhân triển khai ra nhiều mũi làm việc 3 ca ráo riết.

Tôi bị vướng chút băn khoăn việc lựa chọn thời khắc thích hợp trong hay ngoài Tết cho chuyến về thăm chiến trường xưa (vài nơi) theo đề nghị ban đầu của chú, vừa lo ngại sức khỏe của chú vì chú đã được đặt hai stent (giá đỡ) trong người nhằm can thiệp, trợ giúp mạch vành tim bị hẹp… Tính chú Út nói là làm, muốn gì được nấy từ thủa nhỏ cho thấy ý định về Cà Mau của chú lần này, cầm chắc…

Cau-Nam-can
Cầu Năm Căn – Nguồn: baocamau.com.vn

2.Gốc gác xóm Lò rèn Cầu Mống, Hòa An, Hậu Giang, ông bà nội tôi có 3 mặt con (2 trai, 1 gái): Thứ Hai (Hai Trắng) tức ba tôi; thứ Ba (Ba Đen); kế đến cô Út Hạnh.

Nghĩ đơn giản em gái đứng chót trong gia đình ba anh em, chú Ba Đen chịu thiệt giành làm Út, thành danh “Út Đen Cầu Mống”. Khác hẳn cha tôi sống khiêm nhường, không trà, không rượu, chú Út tật tánh ngang tàng, ăn chơi xả láng do một phần ông bà nội tôi cưng chiều. Bù lại, Út ăn mặn, vác nặng, rời rộng, lịch lãm, sống hết mình với cha mẹ, anh em…

Năm 45, 46… giặc Pháp tái chiếm Nam bộ, mở màn ở quê tôi bằng chiếc tàu chiến A72 đánh chiếm Cần Thơ trước khi mở rộng ra vùng Long Châu Hậu, Trường Khánh, Cù lao Dung, Sóc Trăng… Chiến trường Tầm Vu mở ra kịp lúc, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, diệt cả tên đại tá Pháp Dessert, gây tiếng vang rộng khắp trên địa bàn 3 nước Đông Dương lúc bấy giờ. Chưa kể lúc kết thúc mặt trận Tầm Vu công đồn, đả viện, ta thắng lớn, thu được nhiều chiến lợi phẩm có cả vũ khí hạng nặng: đại bác 105 ly…

Trước hoàn cảnh chiến tranh bom đạn, khó khăn, chết chóc, nhiều gia đình phải tản cư tạm lánh nạn: Ông bà nội tôi theo cô Út Hạnh đổ ngược lên Sài Gòn nương náu gia đình bên chồng cô Út. Ba má tôi và chú Út (theo kế hoạch sắp sẵn) xuống hết chiếc ghe lườn thả ngược, xuôi, lần xuống vùng cùng trời cuối đất, mưu sinh. Nhưng khi ghe nhổ sào, Út đổi ý: Chẳng những bám đất An Hòa mà Út còn gia nhập bộ đội Việt Minh, hẹn chắc chắn với ba má tôi thu xếp công việc xong, Út tự lực đi sau…

Nhưng mãi cho đến năm đình chiến kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (1954), chú Út mới xuống tới nhà tôi. Những tưởng chú tập kết ra Bắc, ba má tôi chuẩn bị tiễn chú xuống chiếc tàu Ba Lan tử tế neo đậu bến Sông Đốc, nào ngờ chú được phân công ở lại miền Nam gầy dựng cơ sở cách mạng, chuyên trách xây cất căn cứ đáp ứng điều kiện ăn ở, an ninh cho nhiều cơ quan Tỉnh, Khu, Trung ương Cục miền Nam.

Công việc nặng nhọc, khó khăn “trần ai khoai củ” nhưng nói nào ngay không quá sức lưng dài, vai rộng, ăn mặn, vác nặng của chú. Tóc pha sương hớt cua, tua tủa, đầu trần, chân đất, Út lội cắt rừng tràm lên Kinh Chín Rưỡi, Biển Bạch xây cơ quan; xuống thẳng Đầm Thị Tường dựng lều, đào công sự trước khi dừng chân lâu dài vùng rừng ngập mặn Năm Căn, Rạch Gốc… Thi thoảng vài ba tháng, chú Út ghé qua vùng ven thị trấn Năm Căn thăm gia đình tôi một lần. Lần nào chú về ba tôi cũng bảo má kiếm cho kỳ được cá dứa, tôm càng xanh, hoặc làm thịt gà, thịt vịt; sai tôi xách chai đong rượu mang về đãi chú. Có lần ngà ngà say, chú khoe với ba má tôi chú đã lấy vợ. Thím là một người đàn bà góa đã có đứa con riêng (con gái) với người chồng là một đội viên Đội săn tàu Năm Căn, hy sinh trong một trận hung chiến với trên 10 chiếc Tiểu pháo hạm của Mỹ trên sông Cửa Lớn… Ba má tôi mừng ra mặt…

Sau giải phóng vài năm, một lần chú Út nán lại nhà tôi lâu nhất trước khi dìu dắt vợ con về ở hẳn trên TP.HCM để chăm nom ông bà nội tôi sau khi cô Út Hạnh không vượt qua cơn bịnh hiểm nghèo, từ trần.

“Thằng Giàu nhớ nghen, con nít, không nên chàng ràng chỗ người lớn nói chuyện, nghe”. Má tôi căn dặn. Tuổi 13, đứa bé được má đẻ rớt trên đường tản cư nghèo xơ nghèo xác mong đổi đời được gắn cái tên “Giàu” như tôi không quên có lần trông thấy chú Út buồn thật lạ lẫm; câu chuyện giữa ba và chú có nhiều lúc chùng xuống khiến tôi chú ý hơn. Nhớ rõ nhất lúc được ba thuật chuyện chú Út thật nhiều trước khi ba mất, rằng: Số Út Đen lận đận, khổ sở với đàn bà, con gái. Dạo chú xây nhà, cất cứ bên này sông Cửa Lớn, yêu léng phéng cô Ba Lài con gái một chủ lò than đẹp nhất vùng ở bên kia sông. Xứ nước mặn mòi quanh năm nhưng da thịt cô Ba trắng nõn nà. Mình mẩy, tay chân mềm oặt. Ngực, mông no căng đẹp đến đỗi chuyện quan hệ nam nữ vỡ ra, khi bị ngư dân trong vùng chì chiết, xỉ vả, Út chống chế “Ai biểu cổ đẹp chi vậy để đàn ông vướng vào?”. Đó là lúc xây nhà, cất cứ xong xuôi, đứng bên này sông nhìn qua bên kia sông thấy cô Ba Lài thương đứt ruột nhưng con sông Cửa Lớn rộng rinh, nước pha lẫn bùn, cuồn cuộn…

bai-duoc-phu-sa-tren-rach-Ong-Trang
Bãi đước phù sa trên Rạch Ông Trang – Ảnh: NCH

Một hôm, trời sắp nhá nhem tối, Út Đen quá giang ghe chở củi qua sông gặp ngay cô Ba Lài diện áo nin-phăng Nhật trắng muốt, quần chăn-đầm đen tuyền, đeo hoa tai cẩm thạch nem nép người vượt qua dãy cầu khỉ. Út ngồi gọn hơ trên bộ rễ đước cắm sâu xuống bùn khuất sau lùm mắm nhanh nhảu, mạnh dạn như lúc cắt rừng, tướng tá phương phi áp tới xốc nách cô Ba nhấc lên vai chạy ngời ngời về phía những túp chòi canh tôm. Thân người đuồn đuỗn, mềm oặt của cô Ba gãy khúc nằm tập tải trên đôi vai săn chắc của Út. Sau mươi mười phút giãy giụa, chống đối, cô Ba Lài nằm buông xuôi trên cụm rễ đước giữa rừng đước chập choạng bóng đêm với đàn muỗi bu quanh như trấu vãi…

Chuyện quan hệ nam nữ bất chính lớn bằng trời lúc bấy giờ làm gì không tổn hại đến uy tín Út Đen? Cộng một lần “bể nguội” do một trái bom lép rớt ngay nắp công sự đắp bằng gộc đước cứng khừ trong một trận chống càn quét của giặc sau khi chiếc tàu chuyển vũ khí chi viện từ Đồ Sơn (miền Bắc) theo đường Hồ Chí Minh trên biển cập bến Vàm Lũng, Rạch Gốc, bị lộ, chú bỏ nghỉ ngang vài tháng khiến việc tiến thân của chú không mấy suôn sẻ. Công thành mà danh không toại. Tuy vậy, ba tôi lúc còn sống coi việc đó là chuyện nhỏ, chuyện đời người, còn khen tặng chú Út không biết nản, dấn thân tới bến vinh quang…!

Bẵng đi gần 2 tháng, lại nhận được cú điện thoại từ thành phố lớn phía Nam, không phải tiếng già nua của chú Út mà là một giọng nói trẻ trung của thằng cháu ngoại (đứa chú Út thường khoe, thường gọi tên “Giang mắt kiếng” có bằng B vi tính, hay lướt web báo tin thời sự cho ông ngoại hay tin Trung Quốc hạ đặt giàn khoan xuống thềm biển Việt Nam) gọi đích danh “Anh Hai Giàu” tên tôi: “Báo cáo anh Hai, ông ngoại con lúc này không được khỏe, lần đi này chỉ ở chơi nhà anh chị Hai vài ngày trước Tết Nguyên đán. Dành một ngày cho ông ngoại đi thăm coi cây cầu Năm Căn, nghe!”…

Thế là tôi bị đảo lộn vài việc nhỏ về chương trình đưa, đón chú Út. Hoãn lại chuyến xe thuê đi Đá Bạc, Vồ Dơi, U Minh trong khi tâm trí tôi, người mới xin được hợp đồng làm công nhân phụ hồ cho công trường chưa tròn một năm phải tập trung khai thác, lượm lặt nhiều chuyện diễn ra nơi chú Út muốn tới…

3.Tọa lạc hai xã Lâm Hải, huyện Năm Căn (điểm đầu cầu) và xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển (điểm cuối cầu); cầu Năm Căn có chiều dài 890m (nằm trong toàn bộ dự án có chiều dài 3.390m); nền đường rộng 12m; thuộc đường Hồ Chí Minh, đoạn Năm Căn – Đất Mũi. Khi công trình xây cầu hoàn thành sẽ góp phần quan trọng làm thông suốt đường bộ từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Mũi Cà Mau, phá thế ốc đảo huyện Ngọc Hiển với đất liền… Đặc biệt con đường huyết mạch nối liền thị trấn Năm Căn – Mũi Đất Cà Mau nơi có Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau (Khu Ramsar của thế giới)…

Thoạt đầu, vị trí hai đầu cầu (địa phận kinh Ông Rẫy, Trại Lưới, bên này Lâm Hải; kinh Xẻo Nhái, phía Viên An Đông) toàn bãi bùn với những đàn còng gió lấm tấm đỏ chạy búa xua tìm nơi ẩn náu. Cá thòi lòi rời hang, giương kỳ bơi, phóng xoèn xoẹt trên mặt bùn nhường chỗ cho con người lam lũ đội mưa đội nắng giẫm chân lên những bãi bùn lầy lội, nhão nhoét nhằm tập trung cao cho việc xây cây cầu vĩnh cửu bắc qua con sông Cửa Lớn khơi dòng từ cửa Bồ Đề (biển Đông) chảy vào Xóm Mới, Tắc Biên, ngã ba Kinh xáng Cái Ngay nước xoáy, chảy qua chợ quê Cả Nảy, thị trấn Năm Căn, Ông Trang, ra vàm sông Cửa Lớn (biển Tây, Vịnh Thái Lan).

Lại nói thêm về con sông Cửa Lớn, sông bùn, nước sông đã một thời nhuốm máu khi kẻ gây ra tội ác (hung hăng nhất vùng là “hạm đội 7 trên sông” của Mỹ, Giang đoàn 41, Sư đoàn 21 bộ binh ngụy, “Lò sát sinh” Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng) với chiến dịch “Sóng thần”, “Sóng tình thương”, bằng chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” rắp ranh biến vùng rừng ngập mặn cuối đất thành ốc đảo lẻ loi. Dân ốc đảo Ngọc Hiển, Năm Căn “cất” nước mặn thành nước ngọt để uống, ăn trái mắm thay cơm dẫn tới những trận đánh tàu giặc kinh thiên động địa…

Phải chăng chú Út Đen nhớ chiến trường xưa nên quyết định về nhìn thấy cây cầu duyên nợ cuối trời bắc qua con sông Cửa Lớn…?!

4.Đúng hẹn, buổi chiều còn tỏ mặt người, một ông già cầm gậy, vận áo vét-tông dừng ngay ngạch cửa lom khom xếp đôi giày bata ngay ngắn trước khi bước thẳng vào nhà thắp nén nhang trên bàn thờ ba má tôi; theo sau, một thằng cháu gọi chú Út bằng ông ngoại. Tôi ngộ ra chú Út chọn sau ngày cầu Năm Căn hợp long (ngày 16/4/2014) mấy hôm và đoán trúng đứa giỏi vi tính, lướt web, thường gọi điện thoại cho tôi là đây: Xuân Giang (ông ngoại gọi thành danh “Giang mắt kiếng”) lưng cõng chiếc ba lô bự chảng, mắt đeo kiếng cận, ngơ ngơ ngác ngác trước cảnh lạ… Duy có điều tôi bị nhầm bởi lâu nay nghĩ người già khi được đặt stent (giá đỡ) trợ tim sẽ khỏe ra nhưng đằng này trông chú Út gầy guộc, mắt mờ, đi đứng chậm chạp, tuy vẫn giữ thói quen hay gấp gảy, gương mặt thấp thoáng vẻ ưu tư giống nhiều dịp chú Út về thăm gia đình tôi, thủa xa…

Nghỉ, ngủ nhà tôi chưa trọn đêm, mới khoảng 3, 4 giờ sáng, chú Út giục “Giang mắt kiếng” thức dậy. “Nhớ nói với cậu Hai con ông bác Hai Trắng mày cho ông ngoại đi đường sông, nghen. Đường bộ đây tới cầu ngắn ngủn, xe cộ, mệt!”. Chú nói. “Giang mắt kiếng” quen nghe lịnh ông ngoại răm rắp, dụi mắt thức dậy tỉnh bơ, truyền đạt nguyện vọng ông ngoại tới tai chủ nhà.

Chuyện nhỏ. Tôi nghĩ, vừa ngạc nhiên tuổi 20 lấy bằng Đại học đang xin việc làm ở Sài thành tự nguyện theo sát, theo sau ông ngoại như “cái đuôi” về thăm quê hương, xứ sở xa biệt mù san dã khiến tôi thấy thích và yên tâm khi có “Giang mắt kiếng” “hộ tống” cho ông ngoại.

Buổi sáng. Chợ cuối nước đượm chất xa xôi se se lạnh nhóm họp rộn ràng như thường lệ. Sức sống, sinh hoạt, buôn bán của khu chợ nhỏ được chia đều một nửa trên bờ, một nửa dưới mặt sông…

Tôi thuê bao chiếc đò dọc gắn máy xe hơi chở dư dật mươi người đi sông. Ra tới vàm sông Cửa Lớn, bỗng chú tôi nhổm người dậy, cảm động đến vỡ òa! “Sông bùn!”. Chú nói, vừa đưa một bàn tay vốc một vốc nước bùn lên xem… Ngồi rúm ró trong khoang mui, đôi vai gầy guộc được thằng cháu ngoại khoác lên tấm áo ấm màu bạc, mắt chú Út ngó trân trân xuống mặt nước: Những xoáy nước đẫm bùn xoay xoáy quấn vào những rượng đáy giữa vời run lẩy bẩy như say khướt. Sóng nhảy chồm lên vỗ lép bép vào những bộ rễ cây chơm chởm chĩa thẳng cứng xuống mép sông… Tôi ra hiệu cho người lái máy giảm tốc độ do đò sắp qua công trường xây cầu…

Lại thêm một lần chú Út ngẩng lên, sửng sốt: Cầu. Người… Trước mắt một ông già tuổi ngoài 80, cầu bắc từ voi sang vịnh trông cầu trượt dài, lung linh, bềnh bồng trên nền nước xanh, sóng xanh, cây xanh, trời xanh điểm từng chòm mây trắng nhẩn nha, bay…

“Dừng”. Chú Út lên tiếng. Tôi cố lờ đi… “Giang mắt kiếng” đồng tình. Chờ cho qua huốt công trường một đỗi, đò ghim mũi vào một ụ đất giữa hai bãi bùn đúng chỗ chân cầu thang bằng hai thân đước từ trên vực đất cao mấy sải tay thòng xuống mép nước. “Chú Út thấy rõ chưa? Cầu?!”. Tôi nói khẽ. Chưa đáp vội, đôi mắt ông già như căng ra hết cỡ, dán chặt về phía chiếc cầu mới tinh khôi nằm vắt ngang sông…

5.Vẫn ngồi như thôi miên thả hồn miên man theo sông, theo cảnh hằng giờ… Mãi cho tới lúc mặt trời xế dài, “Giang mắt kiếng” vòi vĩnh với ông ngoại, đưa tin: “Ông ngoại ơi, ông ngoại… Còn sớm lắm nghe, ông ngoại… Bà điện xuống nói hai ông cháu đi chơi sông, thích, vui, nhưng nhớ cẩn thận, từ từ…”. Bất ngờ, câu chuyện dọc đường xoay qua khách ông, khách cháu. Ông đáp chắc nịch: “Bận về ta còn ghé Cầu Mống, Hậu Giang… đa nghe!”.

Đò lui ra khỏi bến tha hồ vạch nước vượt tới, trở lui, ào ạt giữa hai rặng cây nằm nước ven con sông bùn… Lạ kia, “Giang mắt kiếng” từ trạng thái ngơ ngơ ngác ngác mới hôm qua nay trở nên dạn dĩnh, tay chân huơ hoắng trước mũi đò trong lúc ông già ngồi khẽ thở dài, nghĩ ngợi…

Nhớ rồi… Ta nhớ ra rồi: những câu chuyện kể của bà ngoại về quê nhà ắt đọng lại trong trí nhớ của trẻ con một con sông với trận đánh tàu kinh thiên động địa… Lại nữa, bà ngoại khéo đặt tên cháu “Xuân Giang” (sông vui, sông trẻ đấy mà)! Nhớ thật rõ ta đã tham gia, có lần đích thân ta cùng đồng đội chuyển đầu đạn B40, B41 bằng vỏ lãi từ Vàm Lũng, Rạch Gốc qua tới Vịnh Nước Sôi, Ông Trang… trao tận tay Đội săn tàu Năm Căn… Tàn trận, nhớ mang máng ta có lội qua xóm ngang sông gặp cô Ba Lài trước đó lâu lắm mới gặp bà ngoại thằng Xuân Giang ngồi xuồng đi câu cá dứa trôi nổi theo mấy giề trái mắm trên sông Cửa Lớn…

Đây rồi. Sông Cửa Lớn! Ông nghĩ, vừa gật gù, đầu óc ngổn ngang chuyện bể dâu, dâu bể… Lại nữa, ông già như đang luyến tiếc được gặp cảnh cũ, chưa gặp được người xưa khi ông đã huốt tuổi già…

Đang nghĩ lẩn thẩn, ngẩn người trên sạp ván nhìn sông, nhìn cầu. Ông già căng mắt nhìn cây cầu cuối trời vắt ngang, lung linh, bềnh bồng mặc người ông hứng trọn thứ gió ràn rạt hất nước mặn vào khoang mui bốc mùi bùn non ngai ngái giữa lúc chiếc đò vẫn lao tới băng băng…

TP. Hồ Chí Minh – 2014

 

Nguyễn Thanh
(Hội VHNT Cà Mau)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2016

Ý Kiến bạn đọc