Tản văn

Câu chuyện về một cô gái Chăm

Buổi sáng mùa Katê tháng mười dương lịch tức tháng bảy lịch Chăm, trời se lạnh sau cơn mưa hồi đêm. Đây là hiện tượng hiếm ở đất Phan Rang khô hạn này. Hiếm nên quý. Chắc hẳn bà chủ Nhà Trưng bày Văn hóa Chăm Inrahani cũng cảm nhận điều đó, nên chào tôi bằng câu tưởng vu vơ, nhưng đậm ý nghĩa:

- Sáng nay trời đẹp quá!

Chị Trụ tiếp tôi nơi một góc ấm cúng thuộc gian ba của Nhà Trưng bày. Do khiêm tốn chăng mà chủ nhân đã đặt tên cho cơ ngơi này như thế? Đáng ra phải là bảo tàng, một bảo tàng tư nhân đầu tiên và duy nhất của dân tộc Chăm hiện nay. Bảo tàng giữa cộng đồng và cho cộng đồng – như ông giáo làng về hưu Đàng Chương, người thường trực Nhà Trưng bày, thuyết minh.Tôi hỏi, do đâu chị có ý định dựng lên nhà trưng bày này?

- Để đền đáp những gì mình nhận được từ bà con – Chị ôn tồn nói.

Một câu trả lời khá lạ.

Đối diện với trường tiểu học, Nhà Trưng bày nằm giữa Sân vận động và Làng nghề Thổ cẩm Mỹ Nghiệp. Đó là khu đất trung tâm làng văn vật Chakleng, ngôi làng có mặt từ ngàn năm trước, nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm, đồng thời – theo truyền thuyết – đây chính là nơi chôn nhau cắt rốn của vị vua anh minh nhất của vương quốc Champa cổ: Pô Klong Girai.

Nha-trung-bay-van-hoa-Cham-Inrahani
Nhà Trưng bày Văn hóa Chăm Inrahani – Ảnh: inrasara.com

Tôi xin phép chị Trụ đi một vòng thăm Nhà Trưng bày. Trong cái diện tích khoảng bốn trăm thước vuông phân làm bốn gian gần bằng nhau, tuần tự là gian giới thiệu khái quát văn hóa Chăm. Ở đây, du khách được chiêm ngưỡng bản sao nghệ thuật các bức tượng cổ bằng sa thạch, tủ trưng bày văn bản Chăm cổ, tủ sách Chăm hiện đại, các loại nhạc cụ, bản đồ chỉ dẫn “khu di tích Champa” và “khu dân cư Chăm”. Tiếp theo là gian văn hóa – đời sống với các nông ngư cụ, đồ dùng hàng ngày, dụng cụ đánh bắt, đồ gốm… sắp đặt quanh chiếc xe trâu. Chị Trụ cho biết đây là một trong ba chiếc còn lại tại Việt Nam. Gian thứ ba dành riêng cho dụng cụ dệt và các sản phẩm thổ cẩm, y trang phục Chăm cổ và hiện đại. Cuối cùng là phòng đọc với khoảng năm ngàn đầu sách các loại. Phải nói, đây là thành quả bất ngờ và hiếm hoi từ một nỗ lực bền bỉ với tâm thế cống hiến. Tất cả từ tay trắng, từ con số không, nếu không muốn nói – “từ con số âm”. Lạ nữa, tất cả đều phục vụ miễn phí. Chị Trụ đã nhận gì từ bà con, để mà đền đáp lại bằng tặng vật quý giá như thế? – Tôi mang thắc mắc đó hỏi chị. 

- Chuyện dài lắm – Chị nói.

*

- Tôi sinh năm con Trâu. Năm 1949, làng Chakleng quê tôi bị hỏa hoạn lớn. Cả làng phải dời lên sống tạm ở một khu rẫy của ông Hào Piửng, cách làng non cây số về hướng Nam. Cuộc sống đã khó càng khốn hơn. Mẹ sinh tôi ở khu đất tạm dung đó. Nhà nghèo, tôi học bữa đực bữa cái. Hết chăn trâu, nấu cơm đến bồng em, nhổ cỏ… Đến nửa năm lớp 2 (lớp tư hồi ấy) thì nghỉ hẳn. Nhìn mấy bạn chơi mỗi sáng cắp sách đến trường mà thèm, muốn khóc. Cực vậy nhưng không hiểu sao tôi lại nuôi ước mộng sau này con cái tôi sẽ được đi du học nước ngoài?! Nỗi ước này trở thành thứ ám ảnh không dứt ra được. Và rồi như thần thoại, tôi được ra nước ngoài…

Giọng chị Trụ trầm ấm đều đều, nhiều lúc bị sự xúc động làm đứt quãng. Rồi chị tiếp tục nói…

Vâng, chị được ra nước ngoài, nhưng bằng cánh cửa trớ trêu như chính cuộc đời chị… Trụ, tên tiếng Chăm là Inrahani, cô gái Chăm ấy được trời ban cho cái duyên mặn mà trên gương mặt, thêm giọng hát truyền cảm, năng khiếu múa. Vào tuổi cập kê, cô được các anh chị cho tham gia phong trào văn nghệ và thể thao làng, đi đây đó và quen biết những người Chăm tên tuổi. Rồi cô gái ấy lọt vào “mắt xanh” một thủ lĩnh Fulro. Cô được tổ chức đưa lên Ban Mê rồi qua Campuchia. Từ đó trôi giạt và trôi giạt…

- Ba năm làm chiến sĩ “giải phóng dân tộc”, bao nhiêu là khổ đau, máu và nước mắt – Chị Trụ kể.

Rồi Fulro tan rã, chị theo chồng qua Pháp. Chồng mất, chị một nách hai con trở về quê nhà. Đó là mùa hè năm 1973. Được một ông cha xứ thương tình cho vào làm giám thị Trung tâm Văn hóa Chàm – Phan Rang do ông quản lý. Non một năm, chị nghỉ việc, về quê làm ruộng. Tháng 4-1975, Ninh Thuận giải phóng. Năm sau chị được địa phương giới thiệu vào làm Thương nghiệp hợp tác xã. Cần cù và tháo vát, thêm tấm lòng mến trẻ, trên bố trí cho chị chuyển sang làm phong trào mẫu giáo xã. Rồi từ giáo viên phong trào lên hiệu trưởng đến cán bộ chuyên trách Mẫu giáo Phòng Giáo dục huyện Ninh Phước. Và cuối cùng, cận tuổi ngũ thập, khám phá ra tiềm năng to lớn của ngành thổ cẩm dân tộc, chị xin phép Phòng nghỉ việc để… về làm thổ cẩm!

Dệt thổ cẩm là nghề mẹ truyền con nối của người Chăm. Trong Ariya Muk Thruh Palei – tác phẩm gia huấn ca nổi tiếng trong kho tàng văn học cổ Chăm, Bà Tổ Quê Hương dạy người nữ Chăm đủ đức tính công dung ngôn hạnh, ở đó biết dệt là tiêu chí quan trọng. Chị Trụ thạo nghề từ năm lên mười, được xem như đã đảm bảo được chuẩn ấy. Trước 1975, sản phẩm thổ cẩm Chăm chủ yếu là hàng thô làm ra để phục vụ cho phong tục tập quán, một ít dùng trong sinh hoạt hàng ngày, số còn lại được mang lên bán cho đồng bào Tây Nguyên anh em. Sau khi đất nước thống nhất, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, cả làng theo tiếng kẻng, ra đồng sản xuất. Cạnh đó, do khan hiếm nguyên liệu, người nữ Chăm Mỹ Nghiệp không còn ai làm nghề nữa. Đến đầu những năm 80, dệt thổ cẩm Chăm có dấu hiệu phục hồi, nhưng vẫn mang tính tự cung tự cấp là chính. Mãi khi Cơ sở Dệt thổ cẩm Chăm Inrahani ra đời vào năm 1991, thổ cẩm Chăm mới phục hồi đúng nghĩa, từ đó phát triển mạnh mẽ.

“Inrahani chính là câu trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để phát triển nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc? Tức là tạo ra những sản phẩm đáp ứng thị hiếu của khách hàng, mà không làm mất đi vai trò quan trọng của nó trong việc giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc” – Tôi nhắc lại phát biểu của bà Lê Thị Nhâm Tuyết, Giám đốc CGFED, Thời báo Kinh tế Việt Nam đăng ngày 9-1-1997. Chị Trụ im lặng. Lát sau chị nói:

- Cũng cam go lắm, em ạ. Yêu nghề tổ tiên để lại, muốn nối gót ông bà, tôi cũng đã thử “nao Churu” đi buôn Thượng. Thay vì lên Tây Nguyên như mọi người, tôi gồng gánh cả nhà vào miền Tây. Hậu quả là thất bại. Tay trắng hoàn trắng tay. Hai vợ chồng lại bắt đầu làm lụng và tích cóp. Được một cửa hiệu ở thành phố Hồ Chí Minh đặt hàng, tưởng ngon ăn, ai dè cuối cùng hàng bị trả lại. Lý do: vải phai màu. Thổ cẩm chất cả đống trong kho không biết phải làm gì với nó, tôi phân phát cho bà con dùng. Rồi lần thứ ba, khi khâu phẩm nhuộm được giải quyết, thì vấn đề khác lại phát sinh. Do dệt thủ công, mặt vải không đều, hàng bị trả lại đến một nửa. Tôi ôm đống vải không biết kêu ai, nghĩ bụng đành sớm giã từ sự nghiệp thôi. Nhưng không, nửa đêm, tôi lay anh Trạm chồng tôi dậy: Em có cách rồi!

Co-so-det-tho-cam-Cham-Inrahani
CS Dệt thổ cẩm Chăm Inrahani – Ảnh: phanrangninhthuan.com

Tôi tự đặt câu hỏi: Tại sao mình cứ làm hàng thô, mà không chế biến thành các sản phẩm nhỏ từ “đống” hàng thải này? Tại sao mình cứ sản xuất bỏ mối mà không tự thuê cửa hàng để tiêu thụ chúng? Từ suy nghĩ đó tôi quyết định làm! Mười, mười lăm, hai mươi… mẫu mã khác nhau lần lượt ra đời. Chúng tôi thuê một cửa hàng trong Thương xá Tax giới thiệu và bán sản phẩm. Bà con nông thôn Chăm chưa ai nghĩ ra cách chế tác thổ cẩm dân tộc ra các mẫu mã như thế nói chi việc có cửa hàng thổ cẩm ngay trung tâm Sài Gòn. Khó ai tưởng tượng ra hiện tượng ấy, bởi cả hai đều là đầu tiên. Thế nhưng, chỉ trong một năm, hàng thổ cẩm xuất xưởng Inrahani có mặt tại các đại lý ở nhiều thành phố lớn. Đến năm 2000, Cty TNHH dệt may thổ cẩm Chăm Inrahani ra đời.

Buổi chiều, tôi xin phép chị Trụ vào các hộ gia đình xem thợ dệt. Đã thấy mùi Katê qua màu áo, nụ cười của mấy nhóm trẻ đang diễn tập văn nghệ ngoài sân vận động. Đã nghe mùi Katê từ hương cỏ tươi non, chồi non cây rừng mới nhú. Chị Trụ giới thiệu tôi vài thợ cả tay nghề cao. Chị Chạm kể:

- Không hiểu cô Trụ làm thế nào mà có tháng cả làng dệt ngày đêm cũng không kịp cho cô. Xưa nay có như vậy đâu. Rồi là hoa văn, hồi tôi còn nhỏ hoa văn đếm chưa hết trên đầu ngón tay, nay không biết bao nhiêu mà kể. Chẳng biết cô Trụ lấy từ đâu ra nữa…

- Thế tiền lương thế nào? – Tôi hỏi.

Tôi thử nhẩm tính, công nhổ cỏ 50.000 đồng/ ngày, trong khi thợ dệt trung bình được 80.000 đồng, lại được ngồi mát. Đó là thời giá của ba năm trước, và cách dệt là của “thuở xa xưa”. Nay đã khác. Chính chị Trụ là người cải tiến từ khung dệt thủ công sang bán thủ công. Chị Thạng nhớ lại, lần đầu khung dệt mới về làng bị bà con phản ứng dữ. Nghề truyền thống ông bà bị cải biến và suy thoái tới nơi với thứ khung “nhập ngoại” này. Nhưng rồi ba năm thành lệ, người Chakleng lần nữa “cảm ơn cô Trụ”.

Kỹ thuật mới không những không giết chết ngành nghề truyền thống, mà ngược lại giúp làm cho sản phẩm thổ cẩm chuẩn hơn, phong phú và đa dạng hơn.

- Theo chị, “cô Trụ” có thực sự giỏi không? – Tôi ướm hỏi chị Chạm.

- Giỏi chớ, em. Không giỏi làm sao mà được Trung ương cấp Huy hiệu Bàn tay vàng Thổ cẩm, không giỏi làm sao có mấy chục nước mời đi dự hội chợ triển lãm…

- “Cô Trụ” nói xây dựng Nhà Trưng bày như là cách đền đáp dân làng…

- Nói là nói vậy thôi. Cô Trụ làm ơn cho làng này nhiều lắm đó. Nào là tặng phần thưởng cho học sinh, tặng quà cho bà con nghèo gặp thiên tai, giúp riêng cho người tàn tật, neo đơn mỗi năm, rồi mấy đợt góp tiền mổ đục thủy tinh thể cho bà con trong huyện… nhiều lắm kể không hết đâu. Cô Trụ còn dùng tài ngoại giao xin Quỹ Sứ quán Canada xây nhà mẫu giáo cho làng Mỹ Nghiệp, rồi làm hệ thống nước sạch ngay từ năm 2001. Nên biết là lúc đó hầu hết làng Chăm trong tỉnh vẫn còn xài nước giếng hoặc nước lấy từ sông lên. Riêng phần tôi, tôi vô cùng biết ơn cô Trụ về việc tạo công ăn việc làm cho bà con phụ nữ trong palei, có gia đình tôi trong đó.

*

Cuộc sống đầy sôi động với tinh thần cống hiến của người phụ nữ Chăm này có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Nhớ lại, cuối tháng 4-2013, tôi có dịp theo chị Trụ cùng mươi nghệ nhân Chăm ra Huế dự Festival làng nghề Việt Nam. Chị Trụ và Công ty TNHH Dệt may Thổ cẩm Chăm đại diện cho Làng nghề Thổ cẩm Mỹ Nghiệp, bên cạnh trình diễn nghệ thuật múa – nhạc phục vụ Festival, hơn trăm mẫu mã thổ cẩm được trưng bày trong không gian thoáng, đẹp. Mới chỉ một phần ba thôi đó – Chị Trụ nói. Từ khăn trải bàn, drap cho tới túi xách, ví các loại; từ quần áo, mũ nón các thứ cho đến búp bê hay ba lô… tất cả đều được chế tác từ thổ cẩm hoặc phối bằng vải thổ cẩm.

- Thổ cẩm Chăm có ưu thế ở hoa văn đa dạng, chúng gợi ý cho người tạo mẫu chế tác các sản phẩm nhỏ vừa túi tiền và thích hợp với thị hiếu khách hàng.

- Em nghe chị Thạng bảo trước đây thổ cẩm Chăm chưa có nhiều hoa văn như thế…

- Đúng hơn là có, nhưng thất truyền thôi. Chúng lưu lạc tận trời Tây ấy. Tôi may mắn có chị bạn ở Pháp, tôi nhờ chị photo màu gửi về 18 hoa văn đã mất kia. Thêm các hoa văn được sưu tầm trong dân, tôi tập hợp được 36 hoa văn nền, từ đó cách điệu ra hơn 50 hoa văn khác. Trong thổ cẩm, cách phối màu hay sắp đặt hoa văn quan trọng lắm, nó tạo cảm giác lạ, không gây nhàm chán cho khách hàng quen thuộc.

Mot-so-hoa-van-va-san-pham-tho-cam-cua-lang-nghe-My-Nghiep---Anh-1 Mot-so-hoa-van-va-san-pham-tho-cam-cua-lang-nghe-My-Nghiep---Anh-2
Một số hoa văn và sản phẩm thổ cẩm Chăm của làng nghề Mỹ Nghiệp.

Tôi ngỏ ý xem thử một mẫu. Chị Trụ đưa ra sáu tấm vải – Đây là hoa văn Jal, hoa văn “mắt lưới” khá phổ thông – Chị giảng giải – Nếu cứ làm như xưa thì đơn điệu, dễ gây nhàm chán. Chị đã ghép thành hoa văn Jal đôi, rồi Jal nối nghĩa là không bị cắt bởi vạch ngang, hay hoa văn Jal ghép với hoa văn Kacak (thằn lằn), và ngay các “đường xe” chạy dọc cũng được sắp đặt lại… tất cả tạo nên sự đa dạng các hoa văn; đó là chưa nói đến cách phối màu, góp phần không nhỏ vào sự phong phú cho thổ cẩm Chăm.

Làm sao một nghề truyền thống dân tộc đứng trước nguy cơ biến mất lại sống dậy mạnh mẽ như thế? Làm thế nào mà một người phụ nữ dân tộc thiểu số “thất học”, đang ở tuổi xế chiều lại biết phát triển một nghề còn mang thuần tính văn hóa trở thành một mặt hàng kinh doanh, để tạo ra nhiều công ăn việc làm cho cộng đồng như thế? Tôi nghĩ đó chính là nghị lực, tài năng và tinh thần cống hiến.

Theo chị Trụ vào quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, nơi chị có một cơ ngơi khá bề thế: một phòng trưng bày và bán sản phẩm, một phòng tạo mẫu và tiếp khách, một phòng truyền thống gia đình… Tôi khá ngạc nhiên: công ty chị Trụ nổi tiếng trong ngoài nước chỉ lèo tèo vài thợ may?!

- Nhiều năm liền chị phải nuôi ăn – ở – làm đến 200 công nhân cùng lúc đó – Như hiểu ý tôi, chị Trụ giải thích. Cuộc sống có những thay đổi, lối làm ăn cần đổi khác! Cho các cháu nhận về may gia công – Chị Trụ nói. Vả lại chị cũng đã quá lục thập rồi, đáng về hưu đâu từ mươi năm trước rồi. Chị Trụ nói thế.

Nhưng không. Chị Trụ cần phải trụ lại. Chị vừa dựng lên một cơ sở may nhỏ ở Bình Tân cách văn phòng hiện tại vài cây số – May mẫu là chính – Chị nói tiếp – tập trung vào “tinh”, chứ không còn đại trà như trước. Và chờ…

- Chờ thằng Út ra trường – Chị lại nói, ánh mắt đầy tự tin – Trong năm đứa con, chỉ có mỗi nó là ham nghề thổ cẩm này. Cũng may cho nghề truyền thống ông bà, càng may hơn cho truyền thống gia đình. Cháu nó đang năm cuối rồi…

Qua ánh mắt của chị Trụ, tôi tin Jakha – tên em là Jakha – sẽ là người nối nghiệp mẹ. Với trình độ học vấn, qua tiếp nhận vốn kinh nghiệm quý báu của mẹ và nhất là với sức trẻ, Jakha chắc chắn sẽ làm được. Và còn hơn thế, biết đâu…

Kiều Maily
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 419

Ý Kiến bạn đọc