Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Câu chuyện ngày xưa

 

Từ anh học trò mang nặng lều chõng trên lưng ra chốn kinh kỳ ứng thí, gò lưng làm bài, sau tiếng “Dạ” ở trường thi đã thành ông Nghè võng lọng nghênh ngang, cờ quạt rợp đường, làng tổng ra ngoài mấy dặm chực chờ, đón rước, là cả một sự lột xác, một chuyện đổi đời.

Sự thay đổi ấy, trong xã hội của ta xưa được xem như là tuyệt đỉnh của một đời người. Vốn là kẻ sĩ vô danh, giờ đã là người hiển đạt, có thể ngàn thu bia đá, bảng vàng; vốn là cùng đinh khố rách, giờ đã mũ cao, áo dài, tắm mình trong cảnh cao sang. Và một con người tăm tối, chịu sự chèn ép tứ bề, nay thì tiếng nói có gang có thép, mọi người răm rắp cúi đầu, tuân lệnh. Anh chàng vô danh, khố rách và tăm tối ấy ngày nào giữa đồng dẫu có mở lời tán tỉnh một cô đào hát cũng chỉ nghe được những tiếng “ứ hự” lạnh lùng – như Nguyễn Công Trứ, trong lúc hàn vi đã gặp – bây giờ đã là ông Nghè vinh qui, bái tổ, có biết bao nhiêu cô nàng xinh đẹp, giàu sang, rập rình ở nơi đầu xã, cuối thôn mong được có ngày sửa túi nâng khăn. Và cái võng anh đi trước – là đại đăng khoa – lại được nối liền với cái võng nàng theo sau – là tiểu đăng khoa – xem như biểu tượng đủ đầy của sự công thành danh toại. Món quà của sự thành đạt, trong cái xã hội phong kiến, ngoài chốn cửa quyền, còn là gái đẹp. Bởi vậy, người xưa khuyên lớp học trò rằng muốn tìm những người thiếu nữ nhan sắc ngọc ngà thì chỉ nên tìm… trong sách, dĩ nhiên là trong sách học: “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”! Và đừng dại dột tìm ngoài đường phố.

Vì các đặc lợi, đặc quyền như thế, nên người học trò thi đỗ đã được ví như cá vượt vũ môn để hóa thành rồng. Bấy giờ mới đủ tư cách, và cả tư thế, để mà giúp nước, phò đời, lưu danh lại với núi sông. Dĩ nhiên, ngoài những kẻ sĩ mang nặng lý tưởng cao cả, vẫn có không ít những anh chỉ mong chiếm được bảng vàng để mà cỡi cổ, đè đầu thiên hạ, tạo cái tâm lý phổ biến đã được dân gian đúc kết qua câu tục ngữ, từ xưa: “Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng”.

Ai cũng biết rằng kẻ sĩ ngày xưa ra công đèn sách là mong chiếm được bảng vàng, nhưng kẻ hiển đạt lại quá hiếm hoi so với số người dự cuộc, trường thi nghiệt ngã, khiến sự tuyển trạch trở thành cửa ải vạn nan. Điều này đòi hỏi kẻ sĩ phải rèn tâm trí từng ngày, tăng tiến từng buổi, tu dưỡng trong từng thời khắc, luôn lấy học hỏi đổi mới con người, bởi lẽ “kẻ sĩ ba ngày mà không xem sách, soi gương tự thấy mặt mũi đáng ghét”.

So-584--Cau-chuyen-ngay-xua---Anh-1
Xem bảng danh sách những người thi đỗ Trường Nam Định, khoa Đinh Dậu 1897.
(nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi_Hương)

Học tập, vì thế đã trở thành kỷ luật thép. Những gương hiếu học trong nền cổ sử Trung Hoa được làm biểu tượng động viên cho người cầu tiến: có kẻ để được tỉnh thức trong khi miệt mài đèn sách thâu đêm, đã phải buộc tóc treo lên xà nhà, để mỗi lần mình ngủ gục sẽ bị giựt cho nhói óc mà thêm… tỉnh tuồng; có kẻ, giữa lúc canh khuya, nướng chiếc dùi sắt bên lò lửa đỏ đặt cạnh đùi… non, để phòng ngủ thiếp có thể cháy da, nướng thịt, đủ làm sáng mắt, sáng lòng! Sách xưa còn nhắc nhở chuyện những học trò nghèo phải quét lá đa nhóm lửa để học thâu đêm, thậm chí bắt cả đom đóm gói trong bọc giấy – khổ thay, không phải là giấy ni lông – soi trên dòng chữ trong suốt canh dài. Có kẻ chăn heo – như gã Thừa Cung – cũng men tìm đến bên trường, nghe lõm những lời giảng dạy. Đa số kẻ sĩ đều nghèo, trong một đất nước còn nghèo vì nạn đao binh, chia cắt, kế tiếp nhiều đời, những lớp hàn nho vẫn tìm ra được phong vị vượt qua đói khổ, bần cùng vì vui với cái lý tưởng sáng rỡ trong đầu của ngày hiển đạt. Nếu không hiển đạt để “tiến vi quan” thì lại trở về mà “thối vi sư”, truyền dạy đạo lý thánh hiền cho kẻ hậu sinh, góp lời thanh nghị, giữ lấy cương thường, dưỡng trì một dòng văn hóa, tinh thần cho cả dân tộc. Kiếm một bụng chữ, hoặc ít ỏi hơn là “năm ba chữ” để mà ăn ở với đời, đó cũng là điều hoài vọng của người dân dã Việt Nam trong cảnh khổ nghèo.

Con đường, kể như là một chiều ấy, của mấy ngàn năm phong kiến đã góp phần un đúc cho con người Việt Nam tinh thần hiếu học. Chính tinh thần này đã tạo ra một truyền thống kẻ sĩ có những giá trị nhất định cần được bảo lưu, những giá trị này tích đọng cũng như phản chiếu được nhiều tinh hoa dân tộc. Truyền thống hiếu học, ngày nay, phải được kế thừa, nâng cao, vun đắp không ngừng, vì đó là một động lực để dân tộc ta đuổi kịp đà tiến về mặt khoa học, kỹ thuật ở trên thế giới.

Viết một quyển sách ngàn trang cũng không làm sao kể hết cái học đến “tử công phu” của ông bà ngày trước. Không ít những người lận đận khoa cử suốt cả một đời, thậm chí đã bảy, tám mươi vẫn còn lều chõng lụ khụ theo đám cháu, con vào chốn trường thi, những mong cất được tiếng “Dạ” để chiếm bảng vàng! Nhưng mà không ít những ông nội, ngoại phải đành nuốt hận trở về, trong khi con, cháu võng lọng nghênh ngang vinh qui, bái tổ.

Nói chung, trong nền học khoa cử ngày xưa, nỗi vui thì ít, nỗi buồn thì nhiều. Không thiếu những anh chàng bị hỏng thi – Thi không ăn ớt, thế mà cay – nói như Tú Xương – đã hóa cuồng trí, xé quần xé áo chạy rông ngoài đường. Có kẻ bị gia đình chê trách đã lập mưu gian, về làng lúc nửa đêm, bôi mặt, ngậm than trèo lên nóc nhà mình, giả làm thần linh, gọi vợ bảo: “Chồng ngươi phen này đã đỗ thủ khoa và được thiên đình gọi lên giữ chức phán quan…”. Thế là bà vợ cuống quýt một hai vái lạy xin với thánh thần thi hỏng để mong… đoàn tụ một nhà. Cuối cùng thần cũng nể tình, chấp nhận những lời cầu khẩn thiết tha. Thế là anh chồng tụt xuống, lang thang đâu đó chừng một thời gian mới lại quay về, làm vẻ sầu khổ báo tin thi hỏng, trong khi người vợ lựa lời an ủi chồng mình.

Rất nhiều người đã không dám về lại quê hương, sau chuyến hỏng thi, để tránh bẽ bàng, tủi hổ với gia đình và làng nước, đành đi giang hồ mãn kiếp sống đời cầu thực tha phương, cuối cùng chết ở ven bụi, xó bờ. Tản Đà, con người thi hỏng nhiều phen và cũng lang thang khắp chốn, khi bắt gặp nấm mồ cũ bên đường đã phỏng đoán rằng:

Hay là thuở trước khách văn chương
Chen hội công danh lỡ lạc đường
Tài cao, phận thấp, chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương.

Ở trong Đường thi, người xưa đã góp nhặt được những bài tuyệt tác tìm thấy trong người những kẻ ăn xin sau lúc từ giã cõi đời. Một sáng, giữa mùa tuyết lạnh, người ta tìm gặp một kẻ ăn mày chết rét ngoài thành. Khi đem chôn cất, thấy trong người gã có một bài thơ tuyệt mệnh bảy chữ, tám câu, luật Đường rất có giá trị – tác giả vốn là kẻ sĩ vô danh đã không toại nguyện trên đường thi cử. Bài thơ được một danh sĩ của ta dịch như sau:

Cha mẹ sinh ra vốn chẳng giàu
Gậy tre dạo khắp đất Thông Châu
Giỏ cơm từng sáng nghiêng trăng lặn
Phách hát hàng năm đập gió thâu
Hai gót đạp dày đời gió bụi
Một vai gánh hết khổ xưa sau
Nay không ăn của khinh người nữa
Thôi chó bay đừng chực của tau.

Cho đến trước khi nhắm mắt, điều cay cú của người hành khất này là sự khinh miệt của những con chó. Con người thì có quyền thế hơn nhiều, đâu dám trách móc con người! Và chỉ có sự lìa đời, những kẻ khốn khổ ăn xin như thế mới thoát được sự coi thường của loài cẩu trệ.

Nhớ trong thi văn ta xưa có chàng trai thi hỏng trở về, thấy trong gia đình ai cũng lạnh nhạt với mình, rất xúc động và thật phấn khích thấy riêng con chó là còn vui mừng đón chào:

… Chó vàng riêng có tình
Trước cửa mừng vẫy đuôi.

Vì chó không cần đến những địa vị, hư danh, cùng bao nhiêu điều giả tạm trên cuộc đời này, mà chỉ tha thiết đến một thứ quí giá hơn nhiều, đó là tình người.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 584

Ý Kiến bạn đọc