Truyện ngắn

Cánh diều tuổi thơ

 

Khi gia đình tôi từ Hà Nội sơ tán về miền trung du này để tránh máy bay Mỹ ném bom thì tính ra cũng đã hơn 10 năm lính Pháp rút khỏi miền Bắc. Chúng tôi được xếp vào ở chung trong nhà của bác Ngắn. Ở quê có thói quen gọi vợ theo tên chồng. Phụ nữ lấy chồng xem như mất tên. Nếu cần giới thiệu thì sẽ nói, đây là bà Ngắn, còn đây là chồng bà Ngắn. Chồng bà Ngắn, tức là ông Ngắn, đi bộ đội và đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Nhà bác Ngắn có 4 người. Ông bố chồng đã già yếu, mắc bệnh kinh niên, mặt lúc nào cũng nhăn nhó, rất hiếm khi rời khỏi giường. Có lần tôi thấy ông chống gậy tre bước loạng choạng ra ngoài sân. Trong nắng sớm, thấy sau đít quần đùi của ông thòi ra lòng thòng một vật gì đó rỉ nước mà tối về hỏi mạ mới được biết đó là cục trĩ, hồi đó gọi là lòi dom. Anh con trai vừa tòng quân. Và cô gái út hơn tôi vài tuổi, tên là Mây.

Mẹ con bác Ngắn đều hiền lành. Tôi không đủ khả năng đánh giá mức độ xinh đẹp của phái nữ. Gặp ai chỉ xem họ có tốt hay không, còn xấu đẹp thì cũng vầy vậy như nhau. Riêng chị Mây thì ngay từ cái nhìn đầu tiên tôi đã nhận thấy chị rất xinh. Da hơi ngăm ngăm, mắt to đen nhánh với hàng mi cong, mũi cao dài, miệng rộng rất tươi dù chị hiếm khi cười, mái tóc rậm dày thắt thành hai bím to. Khuôn mặt chị rất khác mọi người, vì chị là con lai.

Căn nhà gỗ mít, tường gạch, mái ngói của bác Ngắn đã cũ kỹ, gồm 3 gian 2 chái. Gian giữa đặt bàn thờ gia tiên. Gia đình tôi được thu xếp ở trong một gian và một chái nhà. Sau chừng một tuần, tôi đã nhớ đường đi lối lại trong xã, như ra ủy ban xã, trạm y tế, trường cấp 1, chợ xép, đình và ao làng. Nơi tôi thích đến nhất là đồi Hai. Từ nhà, băng qua một vạt rừng nhỏ có nhiều cây cọ và tổ chim sẻ, qua tiếp con đập cắt ngang đồng sâu là lên tới đồi Hai. Trên đồi có nhiều ruộng bậc thang, đất cằn pha sỏi đá, chỉ trồng được khoai, sắn, đậu phộng. Đồi cao, rất nhiều gió, tha hồ thả diều vi vu. Đỉnh đồi có hai cây dọc cao sừng sững, thỏa sức hái trái về cho mạ nấu canh chua.

Gần nhà bác Ngắn là nhà ông Tam. Dáng ông to cao, lông mày và ria mép dày rậm, từng đi lính khố đỏ. Năm 1954, lính Pháp rút về nước, ông trở về làng. Chẳng biết có bị đi tù hay không. Vợ chết từ lâu, ông sống cùng người con trai tên Toàn hơn tôi vài tuổi. Nhà của họ trong khu vườn rộng trồng nhiều mít, được rào kín bằng rặng mây gai dầy cả thước, chó mèo hay rắn chuột cũng không chui qua nổi. Từ bên ngoài rất khó nhìn vào, nên không biết nhà ông to hay nhỏ, giàu hay nghèo. Cha con ông Tam sống biệt lập, gần như không giao du với ai. Chắc là ông mặc cảm vì từng đi lính cho Pháp. Mối liên hệ thường xuyên nhất với làng xóm là mùi hương mít chín thơm dậy từ nhà ông ra khắp xung quanh.

*
Câu chuyện vì sao chị Mây là con lai cũng hơi dài dòng. Ngày ấy, Đoài là cô gái khỏe mạnh, xinh xắn, mắt có đuôi và nụ cười rạng rỡ. Cô là đích nhắm của đám trai làng. Hai anh chàng yêu thầm trộm nhớ liều lĩnh nhất là Ngắn và Tam. Anh Ngắn gương mặt chất phác, thường xuất hiện rất đúng lúc khi cày cuốc nhà Đoài bị hỏng. Nếu sửa chưa kịp, Ngắn lấy cày nhà mình cho mượn, vác ra tận ruộng nhà Đoài. Có lần con trâu thiến nhà Đoài nổi cơn khùng, húc chạy tứ tung. Ngắn một lòng truy đuổi sang tận xã bên mới túm được dong về. Còn anh Tam, người rắn rỏi, nét phong trần, thuộc rất nhiều thơ. Những đêm tranh thủ trời mát, mẹ con Đoài đi tát nước đồng cạn, thường thấy anh Tam đi đánh cá ngang qua, vai vác lưới, dáng bước gập ghềnh trong ánh trăng, hát vu vơ. Kiểu như “Ngôi sao giữa lưng trời/Đêm âm thầm hương tỏa/ Ngày khuất nhớ mờ xa/Cô đơn trọn kiếp đời…”. Một hôm trời nắng gắt, Đoài đang tranh thủ dỡ khoai trên đồi Hai thì Tam đi ngang, ụp lên đầu cô chiếc nón lá rồi bỏ đi, không nói tiếng nào. Chiếc nón rất đặc biệt, độc nhất vùng bởi được làm từ lá mây, loại lá chỉ dài cỡ gang tay, không phải lá cọ dài cả mét rất nhiều ở miền trung du. Quai nón là dải lụa màu xanh ngọc, cũng rất hiếm thấy.

Giống như tục lệ bao đời, cô Đoài thôn nữ lấy chồng theo quyết định của cha mẹ. Chú rể là anh Ngắn, người vừa xung phong vào bộ đội. Ngay trong ngày cưới của cô Đoài, anh Tam bỏ làng đi đâu không ai biết. Chừng một năm sau ngày cưới, cô Đoài hạ sinh cậu con trai, giống cha như đúc.

Đầu những năm 1950, cuộc kháng chiến giữa ta và Pháp đã chuyển sang thế giằng co. Quân Pháp thỉnh thoảng vẫn mở những trận càn lên miền trung du. Tam giờ đây đã trở thành một người lính khố đỏ dày trận mạc. Cùng đại đội với Đội Tam có một người lính lê dương Bắc Phi, có cái tên rất khó nhớ, đại khái là Mihoubi Ladjal gì đó, thường được mấy anh lính tập phiên âm ra tiếng Việt, gọi là Lác. Đội Lác xuất thân trong một gia đình nghèo, không kẻ cả, nên Tam thấy cũng dễ gần. Anh ta hay kể chuyện về miền quê yên ả bên bờ Địa Trung Hải, về người vợ và đứa con gái nhỏ của mình. Một hôm, khi nghe Đội Lác thông báo về đợt hành quân lần này quét qua quê nhà, Đội Tam nôn nao khó tả. Phần rất mong một lần về thăm lại quê hương, phần kia lại muốn né tránh tất cả mọi ánh mắt của người dân trong làng.

Quân Pháp chia làm hai hướng tiến vào làng mà không gặp bất kỳ sự kháng cự nào. Thi thoảng một tràng súng máy nổ cầm chừng, chỉ cốt thị uy. Toán quân của Đội Tam dừng chân nghỉ tại cổng làng, nơi có cây đa cổ thụ không ai nhớ đã bao nhiêu năm tuổi. Ngày ấy, có lần Tam lựa một lá đa to, cắt xéo hai mép gần cuống lá làm cặp sừng, cuộn tròn phần còn lại thành hình chú trâu, đem tặng Đoài. Cầm chú trâu lá, cô gái mắt lá dăm cười nhí nhảnh, hỏi đây là trâu đực hay trâu cái, làm Tam ngớ người. Mãi sau cậu mới thốt ra được câu: Trâu tơ!

tapchi36--Thieu-nu---Nguyen-Pham-Phuong-Thu
Thiếu nữ – tranh sơn mài – NGUYỄN PHẠM PHƯƠNG THƯ (Trích trong sách Mỹ thuật trẻ TP.HCM lần 1 năm 2009).

Tiếng mõ trong làng vẫn vang lên dồn dập. Nhiều dáng người già trẻ nam nữ từ đình làng tháo chạy sâu vào bên trong, rơi cả mũ nón. Tam nhớ trước đây có lần phải cho thằng mõ, một anh chàng mồ côi láu lỉnh, hai củ khoai lang, mới được gõ ba hồi mõ. Oai phong, sướng như tiên. Còn giờ đây, súng tiểu liên trong tay, dân làng chạy tán loạn, Đội Tam cay đắng nhận ra chiến thắng, vinh quang hay anh hùng chỉ là sự tung hô, khát vọng của kẻ quyền bính. Anh đang vì ai, làm gì mà dân làng phải hoảng loạn, tránh xa mình. Văng vẳng như có ai nhạo ngâm: “Khố xanh, khố đỏ, khố vàng/Mai rồi khố chuối, lỡ làng ai nuôi”.

Để mặc toán lính tiến vào sâu trong làng, Đội Tam tụt lại phía sau. Đến một ngã ba đường, anh ngoặt bước đổi hướng với toán quân. Lên đồi Hai nhìn về làng, lánh xa mọi người là cách tốt nhất với Tam lúc này.

Vừa vượt qua con đập, Đội Tam bất ngờ nghe có giọng phụ nữ la thất thanh. Anh sững người định thần, tiếng kêu phát ra từ phía hai cây dọc trên đỉnh đồi. Xốc lại cây súng, người lính khố đỏ phóng mình cắt ngang từng thửa ruộng bậc thang, lao như tên bắn về phía tiếng gào thét. Ngay trên thửa ruộng nhà Đoài, nơi ban xưa Tam đã ụp chiếc nón mây trên đầu người mình yêu, thấy rõ Đội Lác đang nằm đè lên trên người một phụ nữ. Tên mãnh thú một tay trấn vào cổ cô gái để kìm giữ, tay kia nhay bóp bộ ngực căng tròn dưới lớp áo đã bị xé rách. Không ai khác, người phụ nữ đau khổ bất lực kia chính là Đoài.

Khẩu súng trong tay Đội Tam rung lên. Những tiếng nổ chát chúa lên không trung đã làm tan cuộc cưỡng hiếp. Tên lính lê dương nhảy dựng lên, lăn một vòng và chộp lấy khẩu súng để trên bờ ruộng. “Đồ chó má!”, Đội Tam thét lên cùng lúc với loạt đạn thứ hai được bắn ra. Thân hình Đội Lác giật nảy lên rồi nằm bất động. Đoài vùng dậy, một tay kéo quần, tay kia che ngực, tháo chạy xuống đồi, không một lần ngoái đầu nhìn lại. Chiếc nón lá nằm chỏng chơ trên góc ruộng dạt lăn theo gió.

Đội Lác cựa quậy thân mình, mắt dại mở nhìn Tam. Gã bị một viên đạn bắn trúng bả vai, một viên vào bắp chân. Đội Tam mở ba-lô, lấy cuộn băng cá nhân bó chặt vết thương cho Đội Lác, rồi xốc gã lên vai, vác xuống đồi.

Đặt Đội Lác nằm ngang giữa con đập, Tam tháo bi-đông nước. Người lính lê dương ngoan ngoãn uống từng ngụm nước nhỏ, đôi mắt mở to, không rõ căm thù hay biết ơn, hay đang nhớ về miền quê Địa Trung Hải mù xa.

Người lính khố đỏ vội vã tháo chạy. Theo lịch trình, toán lính đi càn quét chắc chắn sẽ băng ngang qua đây. Có thể Đội Lác sẽ được khen thưởng do thương tích vì anh dũng chiến đấu. Với Đội Tam, một con đường mới mù mịt mở ra, không biết về đâu, làm gì.

Sau trận càn của Pháp, tròn tháng vẹn ngày, cô Đoài hạ sinh bé gái, đặt tên là Mây, gương mặt rất Tây.

*
Trung du là miền đất lạ lẫm và tuyệt vời đối với tôi, bởi có cả đồi núi, ruộng đồng, rừng rú, sông suối. Bom đạn hiếm khi chạm tới vùng quê hẻo lánh và nghèo khó này. Vậy nhưng ngược lại, trong mắt người dân đám sơ tán chúng tôi thật đáng thương vì đang quen sống đầy đủ ở thị thành, nay phải về nơi thiếu thốn trăm bề. Bà con nhường nhịn, hỗ trợ và tha thứ cho chúng tôi mọi chuyện. Trong khi thực sự, cuộc sống ở Hà Nội cũng đầy gian khó và tù túng.

Tôi đánh bạn rất nhanh với đám trẻ con xung quanh. Chẳng mấy chốc mà rành rẽ nhiều việc, như leo cây cau, câu bắt cá, chăn cưỡi trâu, lượm củi, trồng rau, giã gạo, leo xuống giếng vớt gầu tuột dây, cho tới quen thuộc tiếng ếch nhái, côn trùng rỉ rả đêm về. Mạ tôi không phải là thợ may chuyên nghiệp, mà vốn là phụ nữ Huế, nên giỏi nữ công gia chánh. Với chiếc máy may hiệu Singer độc nhất trong làng, trong mắt mọi người, mạ tôi là người giàu có và giỏi giang, đáp ứng tất cả nhu cầu may vá của dân làng, như may quần dài, quần cụt, áo sơ-mi, áo cánh, xi-líp, xu-chiêng. Nhiễm gien di truyền, tôi phụ mạ may vá rất thuần thục. Tiền công ai trả sao cũng được, có khi là rổ rau, mớ cá, chục trứng, lon đậu. Tôi hưởng thơm lây, đi đâu ai cũng biết là con bà Đạt thợ may. Đạt là tên cha tôi, người thường xuyên đi về giữa Hà Nội và nơi sơ tán vì công việc và vì phải tiếp tế cho gia đình lương thực, thực phẩm mua theo tem phiếu hàng tháng ở thủ đô. Chị tôi học cấp 3, ở luôn tại trường trên huyện.

Cuộc sống chung nhà với gia đình bác Ngắn rất yên bình. Ở cùng nhà nhưng ăn uống nấu riêng. Bác Ngắn suốt ngày ở ngoài đồng, chỉ loáng thoáng thấy bóng dáng lom khom trong ánh đèn dầu khi đêm xuống. Chị Mây sau giờ học cũng tất bật phụ giúp mẹ, từ chăn trâu, làm cỏ lúa, trồng khoai đậu, cho đến nấu nướng, canh chừng ông nội. Chị không giao du với ai, kể cả bạn học. Tôi chưa bao giờ thấy bạn bè chị đến nhà chơi. Chị hiền lành, ít nói, gương mặt luôn lặng câm không biểu lộ xúc cảm. Chị coi tôi như đứa em trong nhà qua những cử chỉ chăm sóc kín đáo.

Tôi đang tuổi ăn ngủ, lúc nào cũng thấy đói. Mỗi sáng ngủ dậy, trong tiếng chim sẻ mẹ sẻ con líu ríu, ra giếng rửa mặt đánh răng chưa xong là cơn đói trỗi dậy. Cơm nguội từ tối qua để lại bữa có bữa không. Mẹ con chị Mây đi làm từ tờ mờ sáng. Đôi lần tôi xuống bếp, với tay lên chiếc rá bác Ngắn treo cao giữa nhà để tránh chó mèo, sờ soạng vào mấy củ khoai, củ sắn luộc còn hâm hấp nóng. Ước gì được ăn một củ ngay lúc này. Có sáng chị Mây ra giếng múc nước khi tôi đang rửa mặt. Chị nhìn tôi rồi hạ giọng:

- Việt à! (Việt là tên tôi). Chị có để cho em hai củ khoai luộc. Khoai đợt này nhiều bột, ăn từ từ cả nghẹn nhé.

Nói xong, chị tất tả quảy quang gánh ra đồng. Dáng phổng phao hườm hườm thiếu nữ.

Có đêm, trời mưa rỉ rả, tiếng ếch kêu ì oạp ngoài đồng. Đây là mùa bọn ếch giao phối nên trở thành ngốc nghếch, rất dễ bắt. Tôi và mấy đứa trẻ hàng xóm mang nơm ra đồng. Dưới ánh trăng, những thửa ruộng lúp xúp nước sáng lấp lánh, đúng là bọn ếch đang tụ tập. Nhiều con đang cưỡi lên lưng nhau. Chúng tôi lao vào, dùng nơm chụp lia lịa. Bọn ếch nhảy vọt tứ tán. Tôi cũng rượt theo, quyết không buông tha.

Rạng sáng về tới nhà, tôi ra giếng tắm vội. Nước đêm lạnh run nhưng không xua nổi niềm vui sướng. Giỏ ếch bảy con béo tròn, chắc có cả đực và cái, được chặn bên trên cái thớt gỗ lim.

Trưa hôm đó, khi tôi đang chúi đầu thổi lửa nấu cơm, mắt cay sè vì khói, thì chị Mây đi làm đồng về. Chị tới ngồi gần tôi, tay đẩy rơm vào bếp, nói nhỏ:

- Việt à! Tối qua em đi bắt ếch bên đồng Hạ phải không?

- Dạ. Bắt được 7 con luôn.

- Giỏi lắm… Bọn em xéo nát một góc ruộng lúa mới cấy. Sáng nay, chị cấy lại cho người ta rồi.

Tôi điếng người, chỉ biết im lặng nhìn lửa rơm ngúm tắt.

Người tôi chơi thân nhất là anh Toàn, con ông Tam. Đi học về, nếu không bị mẹ sai làm việc nhà là tôi nhập hội với anh Toàn. Học xong lớp 7, nghe đâu vì lý lịch gia đình không trong sạch, nên anh không vào được trường cấp 3, đành ở nhà lo việc đồng áng. Sau này đủ tuổi có khi xin được vào Thanh niên xung phong hay Dân quân xã. Anh rất khỏe và hiền lành nhưng ít bạn bè. Anh dạy tôi nhiều việc đồng quê, như vót cần câu, làm lưỡi câu, đan rổ rá, làm chuồng chim. Tôi rất phục anh Toàn, vì cái gì anh cũng biết và lại gan lỳ.

Có lần vào ban đêm, nhìn sang đồi Hai bỗng thấy nhiều đám lửa chập chờn. Bọn trẻ con mắt trợn tròn, la hét om sòm: “Ma trơi. Hãi quá, ma trơi!”. Giờ này chắc chắn không ai lên bãi tha ma bên đó làm gì. Rõ là ma hiện hình. Anh Toàn đi qua thấy vậy, vội chạy về nhà, cầm ra một con dao quắm và cây gậy tre, bảo tôi:

- Việt. Đi với anh. Làm gì có ma. Sợ gì!

Còn đang bối rối thì anh dúi cây gậy vào tay và kéo tôi đi trong tiếng la oai oái của bọn trẻ. Tôi chạy sát theo anh Toàn, căng mắt nhìn xung quanh. Giá mà ban ngày chắc bớt sợ. Gần tới bãi tha ma chúng tôi chùn bước. Rõ ràng có rất nhiều đốm lửa xanh lè chao lượn trên những nấm mộ đất. Anh Toàn bấm tay đẩy tôi lùi lại rồi bất ngờ phóng vào bãi tha ma. Vừa chạy anh vừa múa dao chém vào khoảng không, rất dũng mãnh và điệu nghệ, miệng thét lên: “Này thì ma này. Ma này!”. Tôi đồ rằng ông Tam đã truyền võ thuật cho anh.

Đứng một mình hoảng sợ nên tôi cũng sáp vào phía anh Toàn, vung gậy vù vù quanh người. Ấy vậy mà bọn lửa vẫn không tắt, mà còn như bùng thêm lên, nom như những mặt người méo mó biến dạng nhảy múa. Tôi chạy tới, đám lửa xanh lè cũng chạy theo mình. Tôi trượt chân ngã nhào xuống thửa ruộng bậc thang bên dưới. Ngất xỉu.

Tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trên đập. Anh Toàn ngồi bên cạnh lấy vạt áo quạt thốc liên hồi vào mặt tôi. Anh mỉm cười bảo:

- Còn mệt nhiều không? Em múa gậy xoay tròn nhiều vòng quá nên chóng mặt thôi. Chất lân tinh cháy do bốc lên từ trong mộ. Ma quỉ gì.

- Nhưng mà… rõ ràng nó… nó đuổi theo em – Tôi phều phào.

- À. Do em chạy, tạo ra luồng gió nên chất lân tinh hút theo thôi.

Bọn trẻ con vỗ tay reo hò, khâm phục ra mặt khi thấy tôi và anh Toàn vẫn còn sống trở về. May trời tối nên chúng không nom rõ mặt tôi còn xám ngoét. Hình như tôi thoáng thấy chị Mây đứng trong hiên nhà nhìn ra. Âm thầm không nói gì.

Mối quan hệ giữa chị Mây và anh Toàn ở mức nào tôi không rõ lắm. Tôi nhớ có lần đi học về, ngang qua nhà ông Tam, ngửi thấy mùi mít chín choáng cả khoảng trời. Mít mật có mùi thơm nồng rất đặc biệt. Ngon hơn hẳn những trái mít non chát xít mà tôi từng ăn lúc quá đói. Về tới nhà, mùi mít chín lại xộc lên. Một trái mít mật nằm chình ình trong góc bếp. Hôm nay không phải chợ phiên và nhà bác Ngắn cũng không trồng cây mít nào. Chẳng biết mít ở đâu ra?

Một buổi trưa, tôi không ngủ vì mê đi bắt chuồn chuồn. Chỉ cần một nhánh tre dài, trên đầu gắn cục nhựa mít bằng hạt đậu, là thoải mái đi dính chuồn chuồn. Bắt được chúng, thích nhất nhưng cũng tiếc nhất là xé một mảnh giấy thành hình máy bay, đeo vào cánh, thả ra là nó bay lượn rất vui. Đang nấp trong bụi cây gần nhà ông Tam thì bất ngờ tôi thấy chị Mây phía đằng xa. Chị đi tới khúc ngoặt, thì tôi nghe giọng ông Tam từ trong vườn vọng ra:

- Mây. Lại đây cháu.

Chị Mây dừng bước. Hàng rào mây gai kín như bưng nhà ông Tam bỗng bung ra một vạt như cánh cửa. Từ phía trong, thấy đẩy ra một con diều.

- Diều sáo đấy cháu. Tiếng trong veo.

- Nhà chẳng ai làm được diều sáo. Cháu thích lắm ạ.

- Vậy là bác vui rồi. Trái mít hôm trước có ngọt không?

- Dạ ngon lắm. Cháu cám ơn bác ạ.

- Ừ. Thôi chào cháu nhé.

Cánh cửa mây khép lại, như chưa từng có. Chiếc diều lá mây kết bằng cước rất tinh xảo, được chị Mây treo trên hiên nhà. Bác Ngắn đi làm đồng về, nhìn thấy chiếc diều mây, không nói gì nhưng gương mặt thoáng bâng khuâng.

Mỗi tháng một lần, thường vào cuối tháng, điều cả làng xã mong đợi ấy là khi đội chiếu phim lưu động xuất hiện. Tiếng loa phóng thanh từ đình làng sang sảng giới thiệu chương trình. Có lúc loa bị gió bạt, có khi máy bị hỏng hóc, nghe rột rẹt tiếng được tiếng mất, cũng chẳng phiền lòng. Cả làng háo hức, nhất là với nhiều người cả đời không một lần bước chân ra khỏi cổng làng. Phim chiếu miễn phí, vả lại, mấy ai có tiền mua vé. Hầu hết là phim chiến đấu của Trung Quốc, như Rừng thẳm tuyết dày, Cờ hồng trên núi Thúy, hay Thượng Cam Lĩnh. Phim Liên Xô rất hiếm khi chiếu vì thỉnh thoảng lại có cảnh thanh niên nam nữ nắm tay nhau, thậm chí là gí mồm vào nhau, rất trụy lạc. Thường thì chị Mây hay rủ tôi đi xem phim chung. Một hôm, khi vừa lùa xong chén cơm trong tiếng loa chộn rộn xa gần thì tôi nghe có tiếng huýt sáo của anh Toàn ngoài cổng. Tôi vội vàng chạy ra trong ánh mắt nhìn theo ngơ ngác của chị Mây. Anh Toàn, quần áo chỉnh tề, bảo tôi:

- Tối nay đi xem phim nhé.

- Vâng, chắc chắn rồi anh.

- Bỏ áo may-ô vào quần. Theo anh. Đừng to mồm nhé.

Trong bóng tối, tôi lặng lẽ bám theo anh Toàn lên đồi Hai, như đi ăn trộm. Tới một ruộng đậu phộng gần đỉnh đồi, anh Toàn ngồi thụp xuống, không nhổ cây mà chỉ bới đất dưới gốc. Anh thoăn thoắt vặt củ, rũ sơ qua cho khỏi kiến, còn đất dính thì không sao, rồi nhét luôn vào trong áo tôi. Vun cái cây cho thẳng lại, anh thì thầm trong sự ngạc nhiên của tôi:

- Ruộng nhà anh. Ăn chia với hợp tác xã theo sản lượng. Lấy một ít cũng không sao.

Tôi và chị Mây vội vã ra đình. Trời tối chắc không ai để ý cái bụng to kềnh đang cố thóp lại của tôi. Vừa ngồi xuống sân thì thấy anh Toàn đi đến. Không hiểu sao anh rất tài tình, tìm ra ngay chúng tôi giữa biển người ồn ào.

Chúng tôi ngồi bệt trên sân đình, vừa xem phim vừa ăn đậu phộng sống. Ngon dở cũng không chú ý, vì phim quá hấp dẫn, phi thân, bắn súng liên tục, quân địch chết như ngã rạ, quân ta không ai hy sinh. Tôi ngồi giữa, anh Toàn và chị Mây ngồi hai bên. Chốc chốc hai người lại thò tay vào trong áo may-ô của tôi bốc đậu phộng. Bụng tôi như cái nhà chứa. Bàn tay chị Mây dịu mềm êm ái. Có mấy lần hình như cả hai người thò tay vào cùng một lúc, chọn lựa hạt chắc lép gì đó rất lâu. Làm tôi cứ phải uốn éo thân hình qua về vì nhột.

Có hôm, vào buổi tối, đang ngồi học bài dưới ánh đèn dầu tù mù thì thấy mạ tôi gọi chị Mây tới bàn máy may. Mạ đo ướm gì đó trên người chị Mây. Sáng ra, mạ đưa cho tôi một miếng bìa, hình thù lô nhô như rặng núi. Vậy là suốt buổi sáng tôi ngồi ghép vải vụn, may chần nhiều lớp lại với nhau, đúng như hình tấm bìa, rồi giao trả lại cho mạ.

Chừng vài tuần sau, trong buổi chiều lộng gió, tôi cùng chị Mây và có thêm anh Toàn lên đồi Hai thả diều. Diều của chị Mây là chiếc diều sáo lợp lá mây, bốc lên cao nhất, thả tiếng sáo vi vu lãng đãng giữa trời xanh. Diều tôi không có sáo, được lợp bằng mấy miếng vải sa-tanh vụn nhiều màu chắp lại. Diều sáo của anh Toàn lợp bằng giấy báo toàn chữ Pháp, chắc không phải tài liệu phản động. Tiếng sáo diều của anh Toàn trầm buồn, u uẩn.

Ngồi trên bờ ruộng bậc thang, chân thõng xuống ruộng dưới, cả ba chúng tôi ngửa mặt ngây ngất ngắm những cánh diều chập chờn bay. Xa xa, khói đồng loang trắng chiều vàng, những rặng tre uốn cong dòng nước. Tôi thốt lên:

- Từ trên cao ngắm nhìn làng quê chắc là đẹp tuyệt trần. Được lên trời một lúc thì thích thật.

- Ừ, chị cũng muốn bay thật cao, đi thật xa ngắm nhìn thế gian này – Chị Mây lẩm bẩm, mắt không rời cánh diều. Tôi chẳng biết chị có biết gì về Địa Trung Hải không.

- Ui chà, có khi chỉ thấy toàn đói khổ và bất công – Anh Toàn buông một câu.

Mãi lâu sau, chị Mây đứng dậy, đi dong lại diều. Chỉ còn hai anh em, anh Toàn bỗng hạ giọng nói nhỏ với tôi, mắt vẫn dõi theo dáng chị Mây đang run lên vì gió:

- Việt này…

- Sao anh? – Tôi hơi giật mình vì cách chuyển giọng của anh Toàn.

- Anh… anh thấy… chị Mây…

- Sao ạ? Chị ấy rất tốt, lại xinh đẹp nữa. Có mấy người hay gọi chị ấy là Mây Tây, nghe sao sao ấy.

- Ừ, kệ miệng lưỡi thiên hạ. Nhưng mà Việt này… chị Mây… mặc cái áo xu-chiêng nhọn hoắt, nhìn… lẳng lơ quá.

Tôi bất ngờ trước nhận xét về thành quả của mạ mình. Mấy hôm sau, canh chừng khi chị Mây ra đồng, mạ đi chợ phiên, tôi ra hàng rào rút cái xu-chiêng mới của chị Mây đem vào bàn máy may. Nhọn mới khó, chứ bo tròn đoan trang, với tôi là chuyện nhỏ.

*
Mùa thu năm 1979, gia đình tôi nhận được thiệp mời đám cưới từ nơi sơ tán ngày xưa. Đúng như tôi từng nghi ngờ, chú rể là anh Toàn con ông Tam và cô dâu là chị Mây con bác Ngắn. Từ Hà Nội, cha con tôi phóng xe máy một mạch gần 80 cây số trên con đường diệu vợi thuở nào. Đám cưới trang trọng nhưng đơn giản, cả làng đều tham dự. Ngay sau đám cưới 3 ngày thì ông Tam qua đời. Ông chết vì bệnh tật tuổi già, hay bởi đã toại nguyện ước mong, hay do triền miên sầu bi, tôi không rõ. Một tháng sau ngày cưới, anh Tam vào quân đội. Biên giới phía Bắc và phía Tây Nam đang nóng lên rừng rực từng ngày vì giặc giã.

Trần Vọng Đức
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 36

Ý Kiến bạn đọc