Ngoài nước

Campuchia và sự xuyên tạc lịch sử của phương Tây

Kỳ 2

 

Một nhà sử học nổi tiếng người Úc, tác giả của nhiều cuốn sách về châu Á, Giáo sư danh dự tại Đại học Nagasaki, Geoffrey Gunn, đã đưa Khmer Đỏ vào bối cảnh lịch sử, cho bài tiểu luận này: “Vào ngày 12-7-2014, trong một buổi lễ có sự tham dự của Nữ hoàng góa phụ, bà Monique, Quốc vương Sihamoni, Thủ tướng Hun Sen, các thành viên nội các, và các nhà ngoại giao nước ngoài, tro cốt của vua đã được chôn cất trong một bảo tháp ở cung điện Hoàng gia. Sau khi lãnh đạo đất nước của mình giành độc lập vào năm 1954, chính sách đối ngoại trung lập của ông Norodom Sihanouk không bao giờ được Washington chấp nhận. Sau cuộc đảo chính do Mỹ hậu thuẫn ở Phnom Penh vào tháng 3-1970, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger/Tổng thống Richard Nixon đã khởi động chiến dịch ném bom dữ dội và chết chóc nhất trong lịch sử loài người vào vùng nông thôn và nông dân Campuchia. Nhìn từ trên không trung những năm sau, vùng đất xanh tươi bình thường này hiện ra như một mặt trăng bị hủy hoại. Do đó, Sihanouk đã ủng hộ những du kích được hỗ trợ ở nông thôn (Khmer Đỏ) – với danh nghĩa theo chủ nghĩa Marxist – nhưng thực tế chỉ là những người cuồng tín sau cơn thịnh nộ mất trí vì bom Mỹ đã biến Campuchia thành một cánh đồng giết chóc”.

Bánh xe lịch sử đã quay nhưng những bài học ở đây là gì nếu không phải là công lý đầy đủ phải được thực thi, không chỉ ở Tòa án diệt chủng do Liên Hợp Quốc hậu thuẫn ở Phnom Penh, mà còn phải đưa tất cả thủ phạm ra chịu tội.

Albert J. Johnman đã viết trong bài phân tích “Trường hợp của Campuchia, Diệt chủng đương đại: Nguyên nhân, vụ án, hậu quả” đã mô tả Khmer Đỏ bằng những từ sau: “Tư tưởng của Khmer Đỏ là sự lẫn lộn giữa các yếu tố của chủ nghĩa Mác với một phiên bản cực đoan của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và bài ngoại của người Khmer. Nó kết hợp lý tưởng hóa Đế chế Angkor (từ 802 – 1431), với nỗi sợ hãi của nhà nước Campuchia, vốn đã bị đánh bại trong lịch sử bởi các triều đại của Việt Nam và Xiêm”.

Đó là yếu tố tưởng như là Marxist của Pol Pot, người đã thể hiện tính cách cực đoan trong các quán cà phê ở Paris khi đi học tại đây. Nói chung, thành tích học tập của anh ta ở Pháp rất đáng thương, anh ta chưa bao giờ tốt nghiệp, bị buộc phải trở về Campuchia mà không có bằng tốt nghiệp. Mặc dù, như Geoffrey Gunn lưu ý, một số thành viên khác của Khmer Đỏ được đào tạo tại Paris đã xoay xở để có thể có các luận văn kinh tế chính trị, cụ thể như Khieu Samphan, Hu Nim, Hu Yuon, Phouk Chhou (thư ký của Pol Pot), Khmer Đỏ thực sự khác xa với bất kỳ hệ tư tưởng nào.

Dựa trên cuộc trò chuyện của tôi với một trong những giáo sư nổi tiếng tại Đại học Bắc Kinh (người không muốn được nêu tên), Trung Quốc cũng không bao giờ chấp nhận thương hiệu “Maoist” của Khmer Đỏ: “Thật khó hiểu giữa lý thuyết và thực tế, giống như quyết tâm của họ gửi gạo cho chúng tôi, trong khi người dân của họ lại đang bị bỏ đói”.

Nhà báo điều tra người Anh, nguyên là người phụ trách Reuters ở Iraq, Andrew Marshall, đã biến Phnom Penh thành nhà của mình. Ông có một quan điểm rõ ràng về Khmer Đỏ và cách họ bị xuyên tạc bởi tuyên truyền của phương Tây và châu Á: “Khmer Đỏ chưa bao giờ là một phong trào xã hội chủ nghĩa hay cộng sản. Nó được xây dựng trên sự tức giận thực sự của người nghèo chống lại giới thượng lưu ở Phnom Penh, những người luôn đối xử với người nghèo như cặn bã. Và nó được xây dựng trên sự hận thù chống lại Hoa Kỳ đã ném bom Campuchia, không có quốc gia nào khác từng bị đánh bom man rợ như thế trước đó. Khmer Đỏ là một phong trào được tạo ra bởi cơn giận dữ của toàn dân. Bị lạm dụng để trở thành kẻ lạm dụng, họ khao khát tiêu diệt giới “tinh hoa”. Các gia đình từng bị bom san bằng và giết hại nên họ khao khát trả thù. Sau khi Khmer Đỏ bị lật đổ bởi người Việt Nam, tuyên truyền “Khmer Đỏ là cộng sản” đã được giới tinh hoa khắp Đông Nam Á sử dụng nhằm tước bỏ quyền lực của người dân, đặc biệt là ở Thái Lan, và không chỉ ở Thái Lan”.

Đài tưởng niệm Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia.

Cuối cùng, tuyên truyền của phương Tây là hoàn toàn sai trái, họ sử dụng Khmer Đỏ như một trong những nền tảng của cuộc thập tự chinh chống lại Cộng sản toàn cầu. Sự tuyệt vọng của nông dân ở nông thôn, rách rưới với một lực lượng vô giáo dục hoàn toàn gồm nạn nhân của các vụ ném bom, tra tấn của phương Tây, Khmer Đỏ đã bị nâng lên thành một cỗ máy giết người “của Cộng sản” bịa đặt một cách hoàn hảo.

Điều nghịch lý là, đồng minh thân cận nhất trong những năm cuối cùng của Khmer Đỏ không phải là Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia Cộng sản nào khác. Mà chính là Hoa Kỳ, quốc gia không đội trời chung trong Chiến tranh Lạnh với khối Xô Viết, cũng như cuộc chiến khủng bố nhằm vào Việt Nam và Lào. Sau khi tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, và thể hiện về mặt lý thuyết là theo chủ nghĩa Mao, Khmer Đỏ đã nhận được sự hỗ trợ ngoại giao và mọi hỗ trợ khác từ Washington.

Sau khi Việt Nam giải phóng Campuchia bằng cuộc tấn công cuối năm 1978, cứu sống hàng triệu người, chính phủ Hoa Kỳ đã lập tức đưa ra lập trường dữ dội: “yêu cầu trả lại chính quyền hợp pháp tại Phnom Penh”. Chính phủ hợp pháp đó, trong mắt Washington, không ai khác ngoài Khmer Đỏ.

Cuộc xâm lược “trừng phạt” sai lầm của Trung Quốc Việt Nam đã xảy ra ngay sau đó, tiếp theo là những tuyên truyền rầm rộ chống Việt Nam được tài trợ và trên thực tế đều do phương Tây sản xuất. Các tội ác chống lại loài người diễn ra ở Campuchia bởi Hoa Kỳ đã được xử lý hoàn toàn. Trong khi nó vẫn sống trong ký ức sống động trên khắp các vùng nông thôn, nhưng Phnom Penh vẫn là nơi thuận tiện để tẩy não, khiến mọi người quên đi tất cả sự thật lịch sử.

Khi Andrew Marshall và tôi đang ăn trưa ở Phnom Penh, với một nhà báo ngôi sao địa phương, cô Bopha Phorn, Andrew thẳng thắn hỏi cô: “Người dân Phnom Penh ghét nhất quốc gia nào?”. Không ngần ngại, cô trả lời: “Việt Nam!”.

*
Gần như cứ sau 2 năm, tôi lại đến Campuchia để tìm kiếm câu trả lời. Tôi thuê một chiếc xe hơi, một thông dịch viên, và đi rất sâu vào các vùng nông thôn. Việc mà hầu như không ai làm, hầu hết các “công việc nghiên cứu”, cũng như “báo chí điều tra” đều được thực hiện tại các quán bar và văn phòng của Phnom Penh, cũng như hầu hết các công việc tương tự ở Indonesia chỉ được tạo ra ở Jakarta và Bali.

Bên ngoài thủ đô, mọi người cởi mở và sẵn sàng nói chuyện. Trong thực tế, họ đang rất cần nói chuyện về lịch sử. Và không giống như ở Phnom Penh, nơi mọi người chỉ đặt câu hỏi nhưng hầu như không đưa ra câu trả lời, vùng nông thôn Campuchia biết cách trả lời.

Vào tháng 7-2014, khi chúng tôi về Anlong Veng, tôi đã làm một thí nghiệm: đề nghị bạn tôi dừng lại ở bất kỳ ngôi làng nào dọc đường, cách thủ đô khoảng 100 km. Sau này tôi mới biết rằng tên của nơi chúng tôi dừng giữa hành trình lần này được gọi là Prei Saak. Chúng tôi vào một ngôi làng khiêm nhường và tôi hỏi người phụ nữ đầu tiên gặp trên một con đường hẹp dẫn đến cánh đồng, liệu vẫn còn một số quả mìn hay bom chưa nổ ở khu vực này không. “Tất nhiên”, cô ấy trả lời, tên cô ấy là Leoun “sau 2 ngày, họ đã tháo gỡ và cho nổ 8 quả. Một cơ quan rà phá bom mìn thực hiện, từ đó chúng tôi đã tìm thấy nhiều hơn rất nhiều. Ở đây, trẻ em cũng có thể đưa bạn đến những nơi có bom mìn”.

Có người thân nào của cô bị thương không? “Chồng tôi bị tai nạn do vật liệu nổ còn sót lại. Anh rể tôi cũng bị thương. Anh ta đang dọn rừng để trồng sắn, có thứ gì đó đã phát nổ dưới chân, và anh ấy bị mất một chân. Chồng tôi thì bị cả mặt và cơ thể bị phá hủy bởi một vụ nổ, vài năm trước”. Tôi hỏi cô ấy liệu đây có phải là bom của Hoa Kỳ vẫn còn trên cánh đồng kể từ các vụ ném bom rải thảm của Campuchia, hay những quả mìn do Khmer Đỏ để lại? Cô không chắc lắm. Cô nghĩ đây là những thiết bị của Mỹ, nhưng cô không thể chắc chắn được.

Nhưng điều chắc chắn là hầu hết mọi thị trấn và mọi ngôi làng của đất nước này đã phải chịu đựng nhiều thập kỷ, sau khi Mỹ tung ra chiến dịch quân sự bí mật nhằm vào Campuchia và kéo dài một cách khủng khiếp điều đó.

*
Quay trở lại năm 2006, tôi đã thuê một chiếc xe rất khỏe, và một tài xế kiêm dịch giả. Chúng tôi đi về phía nam trên tuyến đường 3, sau đó đi xa hơn về phía nam vào ngày cuối cùng, khi chúng tôi rẽ về phía Việt Nam. Đây không phải là cửa khẩu biên giới chính, thậm chí không phải là ngã tư mà người nước ngoài được phép sử dụng. Không có con đường nhựa nào ở đây, chỉ là một con đường đất với những ổ gà sâu, được bao quanh bởi những cánh đồng lúa, những ngôi làng khốn khổ và những con trâu nước. Chúng tôi là chiếc xe duy nhất đi qua trong khu vực này, người dân địa phương đều đi bộ hoặc đi những chiếc xe đạp cổ lỗ. Giống như năm 2014, khi tôi đến thăm một vài cửa khẩu biên giới nông thôn khác với Việt Nam, trời mưa và gầm xe chạm vào đá với cát. Lái xe của tôi chửi thề, không biết chúng tôi thực sự đang làm gì ở nơi bị bỏ hoang này. Sau đó, chúng tôi đã đến đích: một dòng sông lặng lẽ, một thị trấn im lìm, trạm kiểm soát biên giới cuối cùng, với một người bảo vệ đang ngủ – Prek Kres. Chỉ còn vài thước nữa, những ngôi nhà của ngôi làng đầu tiên ở Việt Nam sẽ bắt đầu. Đây là nơi mà trong quá khứ, những cuộc giao tranh đầu tiên giữa Khmer Đỏ và Việt Nam diễn ra, và là một trong những điểm mà quân đội Việt Nam xâm nhập sang Campuchia, như đã đề cập trước đó, để cứu được hàng triệu người dân Campuchia khỏi cái chết chắc chắn. Nhưng phương Tây lại xem hành động này là một cuộc xâm lược và chiếm đóng, xuyên tạc tất cả sự thật mà họ biết rõ thông qua tuyên truyền. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và từ quan điểm về lợi ích địa chính trị của mình, Hoa Kỳ sẵn sàng hy sinh hàng triệu sinh mạng Campuchia hơn là cho phép sự ảnh hưởng của Việt Nam (và Liên Xô) trong khu vực.

Tôi không gặp vấn đề gì khi tìm ông Sek Cuuin, thị trưởng của Prek Kres. Chúng tôi ngồi xuống bàn ngoài trời ngôi nhà của anh ấy và anh ta dường như rất vui khi chia sẻ những kỷ niệm của mình. Anh giải thích: “Vũng nước lớn mà bạn nhìn thấy ở giữa đường là những gì còn sót lại của vụ ném bom rải thảm của Mỹ. Chúng tôi đã lấp đầy cái hố, nhưng khi trời mưa, vẫn còn một vũng nước ở đó, tôi không biết tại sao. Khu vực này đã bị ném bom nặng nề trong chiến tranh, bởi những chiếc B52. Nếu bạn vào trong làng và quan sát, bạn sẽ thấy các hố ở khắp nơi. Đó đều là những hố bom”.

Chúng tôi đi dạo quanh làng. Những đứa trẻ chân đất nhìn chằm chằm vào chúng tôi. Mọi người đang tụ tập, tự hỏi nhau điều gì đã đưa chúng tôi đến đây. Các phương tiện chuyên chở đậu bên cạnh một cầu cảng tồi tàn nơi một chiếc thuyền buôn cũ kỹ đang được dỡ xuống. “Ở đây luôn có mâu thuẫn”, thị trưởng giải thích, “có những cuộc giao tranh biên giới trong thời Lon Nol và sau đó, khi Khmer Đỏ tiếp quản vào năm 1975. Chúng tôi có 700 gia đình sống ở thị trấn này, 400 đã phải di tản vì bom. Khi Khmer Đỏ đến, tôi nhảy xuống sông và bơi đi trốn để sống sót. Hầu hết 300 gia đình còn lại đã cố gắng trốn thoát đến Việt Nam và Prek Kres trở thành một thị trấn ma – tiền đồn cho quân đội của Khmer Đỏ bắt đầu tấn công các làng Việt Nam bên kia biên giới”.

Tôi hỏi anh ấy về cuộc tấn công của Việt Nam cuối năm 1978. “Quân đội Việt Nam đã vượt qua biên giới này vào đầu năm 1979. Bất kể bây giờ ai có nói gì, thì ngày đó tất cả mọi người đều vui mừng, chào đón quân đội Việt Nam. Những người sống sót và ở lại thị trấn này đứng dọc theo con đường, vẫy tay với những người lính Việt Nam và khóc. Toàn bộ khu vực, toàn bộ đất nước đã bị tàn phá bởi Khmer Đỏ và trước đó là bởi Mỹ ném bom. Người Việt Nam đã cứu quốc gia này khỏi sự hủy diệt hoàn toàn. Và khi họ chiếm Phnom Penh, rõ ràng là việc giết chóc và tra tấn hàng loạt đã chấm dứt. Nhưng bạn biết những gì đã xảy ra sau đó: lòng biết ơn bị bốc hơi và chủ nghĩa dân tộc đã giành được chỗ đứng. Và nhiều nước ngoài nhấn mạnh rằng đây không phải là giải phóng, mà là một cuộc xâm lược. Nếu bạn lặp lại những gì giới cai trị phương Tây muốn nghe, bạn sẽ được trả tiền. Nhưng bạn có thể hỏi bất cứ ai về sự thật, ngoại trừ các thành viên Khmer Đỏ”.

Tôi hỏi thị trưởng anh so sánh Việt Nam với Campuchia bây giờ ra sao, khi xét cho cùng, trên truyền thông, thì Campuchia là một câu chuyện thành công với một nền dân chủ đa đảng. Anh chỉ cười mỉa mai. “Có, bây giờ chúng tôi có nhiều đảng chính trị. Nhưng bạn không thể ăn các đảng chính trị; họ không lấp đầy dạ dày của bạn. Mọi thứ ở đây đều tham nhũng. Chính phủ Việt Nam đã cố gắng mang lại một cuộc sống tốt hơn cho người dân Campuchia. Đặc biệt là những người nghèo, và ở mảnh đất xa xôi này của thế giới, hầu hết mọi người đều nghèo. Tất cả những gì tôi có thể nói với bạn là khi chúng tôi đói và khi chúng tôi ốm, chúng tôi không đến Phnom Penh, mà chúng tôi qua biên giới đến Việt Nam. Họ biết chúng tôi là người Khmer nhưng họ không phân biệt điều đó, họ giúp chúng tôi. Người Việt Nam tin rằng, nếu bạn đói hoặc bị bệnh, bạn phải được giúp đỡ, bất kể quốc tịch của bạn là gì. Người dân ở đó có một trái tim lớn”.

*
Bây giờ đang là năm 2014, và tôi đặt câu hỏi cho người bạn của mình, Song Heang, khi chúng tôi lái xe chạy suốt đêm, qua vùng nông thôn phía tây Campuchia: “Hãy nói với tôi, lính Việt Nam có giết người Campuchia năm 1978 và 1979 không?”. Song Heang ngay lập tức trả lời: “Có”. Họ đã giết nhiều người chứ? Anh im lặng khá lâu, rồi trả lời: “Đó là một cuộc chiến. Nhưng thật ra: không nhiều người bị giết. Có một số trận đánh, nhưng như một quy luật, người Việt Nam không nhắm vào dân thường”.

Tại một số điểm, khi đã gần nửa đêm, chúng tôi dừng lại để mua nước và một số trái cây địa phương. Một cái gì đó như vỡ ra ở Song Heang, và anh bắt đầu nói với giọng điệu khẩn trương, kích động: “Bạn không hiểu, bạn không biết đất nước này thực sự khủng khiếp đến mức nào. Người giàu rất giàu. Người nghèo rất nghèo và hoàn toàn không có nhận thức, đến nỗi họ thậm chí không biết gì về tham nhũng và chủ nghĩa khoái lạc của “giới thượng lưu” ở Phnom Penh. Bây giờ nó lại giống như vậy, như hơn 4 thập kỷ trước. Bạn có biết các trường học ở đây như thế nào không? Đôi khi chỉ có một giáo viên cho một lớp gồm 100 học sinh. Về chăm sóc y tế, ở đây thật đơn giản – nếu bạn nghèo – bạn chết. Và một số gia đình của chúng tôi đã cắt cụt chân tay của con cái họ, sau đó họ đưa chúng qua biên giới, với những vết thương bị nhiễm trùng khủng khiếp đó, đến Bangkok, để ăn xin”… Chúng tôi lái xe trong im lặng khá lâu.

Bạn muốn Campuchia sẽ như thế nào? Tôi hỏi anh ấy. “Một nước Campuchia nơi trẻ em có được một nền giáo dục miễn phí, và sẽ là tuyệt vời nhất nếu mọi người được chăm sóc y tế miễn phí, văn hóa được coi là quan trọng và được nhà nước hỗ trợ, mọi người được bình đẳng”. Tôi nói đó chính là chủ nghĩa xã hội, một Campuchia xã hội chủ nghĩa hoặc cộng sản. Song Heang ngập ngừng: “Chính là nó. Vâng. Đó là những gì đang được cố gắng xây dựng trên khắp châu Mỹ Latinh, ở Trung Quốc và Việt Nam”.

Nhưng đó không phải là những gì Khmer Đỏ đã cố gắng đạt được, phải không? “Tất nhiên là không phải thế”, Song Heang trả lời, bên ngoài trời tối om, “Tôi thấy rất khó hiểu. Mọi điều về Campuchia không phải là những gì người dân chúng tôi nói, mà bởi những người phương Tây nói. Nhưng có vẻ như đó lại là tất cả”.

Tôi đồng ý với anh ấy. Tại ngôi làng tiếp theo, chúng tôi dừng lại, mua một ít bia Angkor và bỗng thấy có thêm triết lý ở trên đường, theo phong cách Xô Viết cũ…

Andre Vltchek
Ngô Mạnh Hùng (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 562

Ý Kiến bạn đọc