Ngoài nước

Campuchia và sự xuyên tạc lịch sử của phương Tây

Ngày 4/8/2019, Nhân Vật Số 2 Và Là Thủ Lĩnh Cuối Cùng Của Khmer Đỏ, Nuon Chea, Đã Chết Ở Tuổi 93, Trước Đó Ông Ta Bị Kết Án Phạm Tội Diệt Chủng Và Bị Xử Chung Thân, Nhưng Là Sau Tới 40 Năm Gây Ra Tội Ác, Những Kẻ Sinh Ra Và Đỡ Đầu Cho Khmer Đỏ Đã Không Bao Giờ Bị Kết Án. Bài Viết Sau Đây Của Andre Vltchek Sẽ Làm Rõ Hơn Điều Đó.

Kỳ 1

 

Khi chúng tôi vào thành phố nhỏ Anlong Veng thuộc dãy núi Dângrêk, nằm ở phía tây bắc Campuchia, trời bắt đầu mưa. Mưa rất lớn, một cơn mưa nhiệt đới, và nó kết thúc bất ngờ như khi nó bắt đầu. Chúng tôi lái xe qua cầu, qua một số con đập, và đột nhiên một hồ nước đẹp đến kỳ lạ hiện ra ở phía trước.

Trước đây, nơi này là thành trì cuối cùng của Khmer Đỏ, Song Heang – bạn tôi giải thích như vậy. Sau đó, chúng tôi không thể chạy xe ở đây nữa, không có nhà xung quanh, và quanh hồ là đầm lầy, không thể vượt qua. Chúng tôi đến đây, để thăm căn cứ của lãnh đạo quân sự cuối cùng của Khmer Đỏ, Ta Mok, được biết đến với cái tên là Anh số 5, hoặc Người bán thịt. Đây là nơi anh ta sống và chỉ huy đội quân của mình.

Ta Mok vốn là cánh tay phải của Pol Pot, sau này đã chia rẽ phong trào, đặt Pol Pot dưới sự quản thúc tại gia và rất có thể đã đầu độc anh ta. Ta Mok chỉ huy đội quân với vài ngàn người trung thành với Khmer Đỏ. Giữa năm 1979, các lực lượng Việt Nam lật đổ Khmer Đỏ khỏi quyền lực, đến năm 1999, Ta Mok bị lực lượng chính phủ bắt giữ. Ta Mok chết trong tù năm 2006, mà không bao giờ được xét xử, hoặc bị kết án. Vệ sỹ của Ta Mok, người đã sống với Ta Mok trong nhiều năm, San Reoung, đang chờ đợi chúng tôi. Anh ta bị mất chân trái, và đó là điều phổ biến trong dân thường cũng như chiến binh Campuchia ở độ tuổi của anh ta. Ta Mok cũng bị mất một chân trong trận chiến.

Thực sự chỉ có một điều mà tôi muốn biết: Khmer Đỏ là cộng sản như thế nào, và có phải hệ tư tưởng Mácxít đã lôi kéo nông dân vào hàng ngũ Khmer Đỏ? San Reoung suy nghĩ một lúc, rồi trả lời, cân nhắc từng từ: “Đây thực sự không phải là ý thức hệ. Chúng tôi không biết về nó. Ví dụ như tôi, gia nhập chỉ vì căm thù người Mỹ. Tôi trở thành một người lính ở tuổi 17. Và bạn bè của tôi cũng rất căm thù Mỹ. Họ tham gia Khmer Đỏ để chống lại người Mỹ, cũng như chống lại sự tham nhũng của nhà độc tài bù nhìn Lon Nol, ở Phnom Penh”.

Có phải người dân ở nông thôn nhận thức được những gì diễn ra ở thủ đô, trước khi Khmer Đỏ lên nắm quyền? “Tất nhiên là họ biết. Hoa Kỳ đã hỗ trợ nhiều, rất nhiều tiền cho chế độ Lon Nol tham nhũng. Mọi người đều biết tất cả đã được sử dụng ra sao: vô số những bữa tiệc xa hoa, cho những cô gái điếm ở thành phố, trong khi Hoa Kỳ ném bom đưa vùng nông thôn của chúng tôi thành địa ngục. Hàng trăm ngàn người đã chết. Mọi người phát điên, họ phẫn nộ. Và rất nhiều người trong số họ đã gia nhập Khmer Đỏ”.

“Không phải vì ý thức hệ Mácxít?”, tôi hỏi lại. San Reoung trả lời, ngay lập tức: “Tất nhiên là không. Đại đa số không có một chút ý tưởng nào về chủ nghĩa Mác, họ chưa bao giờ được nghe về nó”.

Tôi đến thăm trung tâm chỉ huy của Ta Mok. Tôi vào một toa xe cũ, một trung tâm liên lạc, được Pol Pot sử dụng vài thập kỷ trước. Bây giờ nó trống rỗng và rỉ sét. Toàn bộ khu này đã trở thành một loại bảo tàng không chính thức. Tôi từ chối đi đến khu sinh sống cũ của Ta Mok. Tôi không thấy việc đó có ý nghĩa gì.

Thay vào đó, tôi ngắm mặt hồ và suy ngẫm rất lâu.

Đã làm việc nhiều năm ở vùng đất này của thế giới, tôi hiểu rằng tất cả các câu trả lời cho các câu hỏi quan trọng về Campuchia và lịch sử của nó, đều nằm ở vùng nông thôn. Phương Tây, trong nhiều thập kỷ, đã tìm cách làm hư hỏng Phnom Penh, bằng cách trả tiền cho hầu hết giới tinh hoa ở đó, để hoàn thiện một câu chuyện sai lạc và sáo rỗng. Các tổ chức phi chính phủ NGO, các nhà báo – tất cả họ đang cùng hét lên về “cuộc diệt chủng của Cộng sản” ở Campuchia. Nó đã trở thành một công việc được trả công xứng đáng, nguồn tài trợ không ngừng, một lời nói dối phức tạp được hỗ trợ bởi bộ máy tuyên truyền phương Tây, giới hàn lâm và báo chí chính thống.

Khmer Đỏ là một thế lực tàn bạo, tất nhiên, nhưng chắc chắn không phải là một con quái vật diệt chủng của “Cộng sản”. Nhưng điều đó đã không được phép xuất hiện trên báo chí phương Tây.

*
Tôi hỏi Song Heang xem những gì chúng tôi nghe được ở Anlong Veng có đúng không. Chúng tôi đang dần tăng tốc trên đường đến thăm ngôi đền đang tranh chấp đẫm máu, Preah Viget, ở biên giới Campuchia – Thái Lan.

Song Heang làm việc cho một tổ chức từ thiện nhỏ của Úc, họ đang xây dựng các thư viện nhỏ ở nông thôn cho trẻ em. Anh ghét Khmer Đỏ. Nhưng anh đồng ý rằng họ không phải là Cộng sản. Song Heang là người tốt bụng và có nhận thức: “Khi còn nhỏ, tôi sống bên bờ sông Mê Kông, ở làng Prek Tamak, cách Phnom Penh khoảng 65 km. Khi người Mỹ ném bom, mọi thứ dừng lại và mọi người bị hóa đá ở đó, Mỹ đã sử dụng những chiếc máy bay rất nhanh, máy bay phản lực mà người dân địa phương gọi là Amich. Nhiều người sau đó gia nhập Khmer Đỏ. Họ không biết Cộng sản là gì. Họ chỉ biết chính quyền thân phương Tây ở Phnom Penh kinh khủng đến mức nào”.

Vậy tại sao người dân ở Phnom Penh vẫn lặp đi lặp lại rằng Pol Pot là “chế độ diệt chủng của Cộng sản”? Tại sao, giống như ở phần còn lại của Đông Nam Á, như Việt Nam cũng bị coi là ác quỷ? “Chúng tôi là một quốc gia rất nghèo”, Song Heang trả lời “và nếu người dân của chúng tôi ở Phnom Penh nhận được tiền, họ chỉ thích tiền nên họ sẽ nói chính xác những gì họ được trả tiền để nói. Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu hiện đang tiếp tục cấp rất nhiều tiền cho những tuyên bố nhất định mà họ muốn người dân nói”.

*
Ở Phnom Penh, bây giờ có những trung tâm ăn chơi mới, với vô số những chiếc xe sang trọng mới hoặc đã qua sử dụng, dành cho những người rất giàu và rất tham nhũng. Thành phố đã dấn thân hoàn toàn vào con đường tư bản man rợ, giống như Jakarta, một cơn ác mộng đô thị khác ở châu Á. Ngoại trừ việc Phnom Penh có một số biệt thự thuộc địa ấn tượng của Pháp, một bờ sông xinh đẹp, một số phòng trưng bày và bảo tàng tốt. Nhưng khu vực đô thị của nó với khoảng 2,2 triệu người không có hệ thống giao thông công cộng (ngoại trừ một vài xe buýt), hệ thống y tế công cộng và giáo dục của nó đang ở trong tình trạng kinh hoàng.

Vị Thủ tướng phục vụ lâu dài và cứng rắn của Campuchia, Hun Sen, là cựu Tư lệnh Sư đoàn của Khmer Đỏ, cho áp dụng thị trường tự do và mô hình dân chủ tự do đa đảng. Mặc dù thường xuyên bị phương Tây chỉ trích vì vi phạm nhân quyền, nhưng phương Tây nói chung rất hài lòng với chủ nghĩa thị trường được áp dụng ở đây, cũng như sự vắng mặt của các chính sách xã hội mạch lạc.

Trong nhiều năm, tôi đã quan sát thấy một số lượng lớn “cố vấn”, đặc biệt là từ Liên minh châu Âu, định hình quá trình của nền kinh tế Campuchia và mô hình xã hội của họ nói chung. Trong đó, tất nhiên, bao gồm cả lịch sử của nó. Các cố vấn nói những điều nhất định ở nơi công cộng, và nói những thứ khác đằng sau cánh cửa đóng kín.

Tám năm trước tôi đã viết về sự việc này: Một trong những quán cà phê sân thượng thường được các chuyên gia nước ngoài lui tới, không khí tương đối thoải mái. Những người đàn ông từ Liên Hợp Quốc và EU uống bia, tay trong tay với những người vợ thứ hai của họ tại địa phương, họ thư giãn sau một ngày làm việc vất vả ở thủ đô hỗn loạn này. Họ thực hiện các nhiệm vụ đa dạng ở đất nước này, nơi từng bị đánh dấu bởi bạo lực tồi tệ nhất mà loài người biết đến. Một số phụ trách khai thác nông thôn, những người khác cố gắng thuyết phục người dân địa phương giao nộp vũ khí của họ, vẫn còn rất nhiều, một trong những lý do khiến cho tỷ lệ tội phạm cao. Nhưng nhiều người đến đây với nhiệm vụ chính là tư vấn cho chính phủ và vô số tổ chức phi chính phủ, cách điều hành nền kinh tế và nhà nước. Rõ ràng là lời khuyên như vậy chủ yếu dẫn đến các dự án hoàn toàn dựa trên các lý thuyết thị trường tự do. Kết quả là, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ của sự tăng trưởng kinh tế vào được túi người nghèo, mà đại đa số người dân Campuchia là nghèo.

Tại những cuộc gặp này, khói cần sa lững lờ di chuyển trong không khí ẩm ướt và ngột ngạt. Sau vài năm ở Campuchia, những chuyên gia này rất cứng rắn và nhiều âm mưu – mỗi ngày là một trận chiến. Để đạt được bất cứ điều gì ở đất nước này, người ta đều phải mua chuộc và thỏa hiệp. Những lời nói lịch sự đã bị lãng quên hoàn toàn, chỉ còn những sự trao đổi với tính chất mua bán trực tiếp, tàn nhẫn và thẳng thắn.

Những lời tuyên truyền giả dối phổ biến dành cho công chúng ở Mỹ và châu Âu là mục tiêu của sự chế giễu và khinh miệt công khai tại các cuộc tụ họp không chính thức này, họ biết mọi điều nhưng họ giễu cợt công chúng tin vào những tuyên truyền dối trá do chính họ đưa ra.

“Khmer Đỏ giết hàng triệu người Campuchia? Không hẳn vậy!”, một người đàn ông châu Âu trung niên cau mày, ông ta đã sống và làm việc ở đất nước này hơn 10 năm, “họ không giết tất cả nhiều người như vậy. Chính xác là có từ một đến hai triệu người đã chết trong khoảng thời gian từ 1969 đến 1978, nhưng con số đó bao gồm cả hơn 500.000 người bị thảm sát bởi các vụ đánh bom rải thảm của Hoa Kỳ trước khi Khmer Đỏ tiếp quản các thành phố”.

“Hầu hết mọi người đã chết vì đói và bệnh tật”, ông ta tiếp tục, “hơn nữa, những vụ thảm sát khủng khiếp này xảy ra không phải vì hệ tư tưởng cộng sản, bởi Khmer Đỏ không phải cộng sản, họ chưa bao giờ có hệ tư tưởng đó. Hoa Kỳ đã ném bom một cách tàn bạo xuống đất nước này, và chế độ độc tài tàn bạo của Lon Nol được phương Tây ủng hộ đã khiến người dân Campuchia chống lại nhau. Giết chóc đã xảy ra vì sự báo thù, chứ không phải trên cơ sở ý thức hệ. Nông dân phát điên vì những vụ rải thảm B-52 kéo dài. Nhiều người đã bị tra tấn, tàn sát và mất tích trong triều đại của Lon Nol. Vì vậy dân quê ghét dân thành phố, đổ lỗi cho họ về tất cả những bất hạnh và nỗi kinh hoàng mà họ phải chịu đựng. Từ đó mà hầu hết những người lính và sỹ quan Khmer Đỏ đều đến từ nông thôn”.

Chỉ cách quán cà phê của những cuộc trò chuyện đó của những người ngoại quốc man rợ, là Bảo tàng Tuol Sleng (Bảo tàng Diệt chủng), nguyên là một trường trung học cũ, lưu giữ sự tàn bạo của Khmer Đỏ. Năm 2009, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã tuyên bố Bảo tàng Tuol Sleng là Ký ức của Thế giới. Sau ngày 17-4-1975, các lớp học của trường trung học Tuol Svay Prey, trở thành trung tâm thẩm vấn và tra tấn chính của Khmer Đỏ, được gọi là Nhà tù An ninh 21, hay đơn giản là S21. Đây là nơi đàn ông và phụ nữ bị xiềng xích và đánh đập nặng nề, nơi phụ nữ bị xé rách núm vú bằng kìm, nơi dây điện được chích thẳng vào bộ phận sinh dục. Sau khi thú tội (vì người ta không còn cách nào khác là phải thú nhận để mong tránh được sự tra tấn kinh khủng không thể chịu đựng được), hầu hết đàn ông, phụ nữ và trẻ em sau khi trải qua nhà tù kinh dị này phải kết thúc cuộc sống tại trại hủy diệt Choeung Ek, họ luôn phải đối mặt với sự hành quyết gần như chắc chắn. Người ta đã xác minh có ít nhất 20.000 người đã chết sau khi bị thẩm vấn tại S-21. Trong một nỗ lực điên rồ để đưa ra một cấu trúc cho sự man rợ, Khmer Đỏ đã ghi lại từng trường hợp, chụp ảnh tất cả đàn ông và phụ nữ bị giam giữ ngay sau khi họ bị bắt, và trước khi bị tra tấn, sau đó chụp ảnh một số người sau khi bị thẩm vấn dã man.

Một số hình ảnh đáng sợ nhất được vẽ lại bởi Vann Nath, một họa sĩ và cựu tù nhân của S21, một trong số rất ít người sống sót nhờ tài năng và khả năng vẽ chân dung cho Pol Pot, và các quan chức phụ trách trung tâm thẩm vấn. Sau khi được người Việt Nam giải phóng, Vann Nath đã thể hiện lại những ký ức kinh hoàng nhất của mình lên vải, những bức tranh mô tả sự man rợ và sự tàn bạo điên rồ của những người thẩm vấn – một người mẹ có con bị xé xác trước mắt, một người đàn ông có móng tay bị rút ra bởi kìm, một phụ nữ bị cắt núm vú.

Trong số hầu hết những người Khmer còn sống mà tôi đã nói chuyện, có một sự đồng thuận rằng phần lớn người dân chết không phải là vì tư tưởng Cộng sản và không phải vì mệnh lệnh trực tiếp từ Phnom Penh để tiêu diệt hàng triệu người, mà là vì các sĩ quan và cán bộ địa phương ở các tỉnh do họ điều hành, đó là sự báo thù cá nhân đối với những người dân thành phố bị trục xuất về đó và những người thuộc giới tinh hoa chế độ cũ, những người bị nông dân đổ lỗi cho cả các vụ đánh bom dã man của Mỹ trong quá khứ, ủng hộ chế độ độc tài Lon Nol tay sai phương Tây đồi bại và tàn bạo.

Không còn nghi ngờ gì nữa, đại đa số những người đã chết trong thời kỳ đó (từ 1 đến 2 triệu người) là nạn nhân của các vụ đánh bom của Mỹ, vì nạn đói xảy ra do hậu quả của những vụ đánh bom này và hậu quả của sự di tản nội bộ (khoảng 2 triệu người trở thành người tị nạn ngay trên đất nước Campuchia của họ, thiếu chăm sóc y tế, thực phẩm và điều kiện sống).

Việc một số lượng đáng kể người dân bị giết do các vụ đánh bom của Mỹ rất hiếm khi được đề cập trên các phương tiện truyền thông chính thống phương Tây. Nhưng trong giới hàn lâm, người ta hiểu rằng Không quân Hoa Kỳ đã bí mật ném bom Campuchia bằng B52, kể từ tháng 5-1969. Nó được gọi văn hoa là Chiến dịch Thực đơn (Ăn sáng, Ăn trưa, Ăn tối, Ăn nhẹ, Tráng miệng và Bữa tối). Mặc dù bây giờ, bằng chứng mới, từ các tài liệu được giải mật năm 2000 của chính quyền Clinton, cho thấy Không quân Mỹ thực ra đã bắt đầu ném bom các vùng nông thôn của Campuchia dọc biên giới với Nam Việt Nam từ năm 1965, dưới thời chính quyền Johnson. Chiến dịch Thực đơn chỉ là sự leo thang tàn bạo của vụ giết người hàng loạt đối với dân thường không có sự phòng vệ.

Đối mặt với thất bại ở Việt Nam năm 1973, các vụ đánh bom thảm khốc đã tiếp tục được thực hiện để hỗ trợ chế độ của Lon Nol. Nhà sử học David P. Chandler viết: “Khi chiến dịch bị Quốc hội Hoa Kỳ dừng lại vào cuối năm, B52 đã thả hơn nửa triệu quả bom vào một quốc gia mà Hoa Kỳ không có chiến tranh – hơn hai lần số lượng bom ném xuống Nhật Bản trong Thế chiến II”.

Cuộc chiến ở Campuchia được các nhà báo đưa tin như là về cuộc chiến ở Việt Nam. Tuy nhiên, cường độ ném bom của Mỹ ở Campuchia lớn và tàn bạo hơn cả ở Việt Nam: khoảng 500.000 thường dân đã thiệt mạng trong thời gian 4 năm, trên lãnh thổ của quốc gia nhỏ bé này. Như đã đề cập trước đó, nó cũng khiến khoảng 2 triệu người phải tị nạn, chạy trốn từ nông thôn đến thủ đô. Sự man rợ của các vụ ném bom, buộc hàng triệu người phải chạy trốn trong sự hoảng loạn và phẫn nộ đối với chế độ thân phương Tây tham nhũng ở Phnom Penh, đã mở đường cho chiến thắng của Khmer Đỏ và chiến dịch báo thù dữ dội của họ.

Đó không phải là cuộc diệt chủng do những người Cộng sản gây ra, mà do chính Đế quốc đã giết chết hàng triệu người ở Đông Dương, với sự bất lực tuyệt đối trước sự bất nhân tuyệt đối, dẫn đến sự trả thù mù quáng và tàn bạo của những con người tuyệt vọng vì đã mất tất cả.

*
Tôi vào khu chợ, một dãy các quán ăn cách Phnom Penh 50 km, trên sông Bassac. Tôi đi cùng với tài xế và thông dịch viên của mình, một cựu chuyên gia khai thác mỏ cho CMAC (Trung tâm khai thác mỏ Campuchia). Chúng tôi đã tiếp cận hai bà già, cả hai đều đã ở cuối lứa tuổi 70. Ở Phnom Penh, hầu như không ai muốn nói về sự tàn bạo của Hoa Kỳ. Nhưng trên khắp cả nước, ở nông thôn, mọi người vẫn phẫn nộ, đồng thời biết ơn bất cứ ai sẵn sàng lắng nghe họ.

Tôi nhìn thấy những giọt nước mắt trong mắt của một trong hai người phụ nữ. Tên bà là Tang Vilim, một người bán hàng. Bà bắt đầu câu chuyện của mình, than thở, nói nhanh, như thể sợ rằng chúng tôi sẽ ngắt lời bà và biến mất: “Tôi đã mất người thân trong vụ đánh bom năm 1972. Tôi vẫn cảm thấy tức giận. Tôi cảm thấy bị xúc phạm! Tôi vẫn đang chờ câu trả lời, rất nhiều năm sau. Tôi muốn biết tại sao? Tại sao người Mỹ thả những quả bom đó vào chúng tôi? Bom của họ đã giết rất nhiều người! Tôi vẫn còn nhớ như in điều đó. Lúc đó tôi là một phụ nữ trẻ, bây giờ tôi đã 76. Chúng tôi đã làm gì, tội lỗi của chúng tôi là gì? Cho đến bây giờ, bất cứ nơi nào tôi đi, tôi cảm thấy đau đớn! Tôi cứ hỏi mãi những câu hỏi tương tự trong đầu”.

Và cùng một lời than thở, từ người phụ nữ thứ hai: “Người dân vẫn chưa hiểu về vấn đề này. Họ muốn biết tại sao? Họ muốn chính phủ Hoa Kỳ chịu trách nhiệm! Có rất nhiều những miệng hố bom khắp các vùng quê của chúng tôi. Một số đã được lấp đầy nhưng những hố khác vẫn còn nguyên. Toàn bộ đất nước này bị bao phủ bởi các miệng hố bom”.

Chúng tôi lái xe đi xa hơn, đến tận biên giới với Việt Nam: đến ngã tư tuyệt đẹp trên sông Bassac, tại Chrey Thum. Ngay bên cạnh đồn biên phòng, có một số miệng hố bom, nhưng lính canh không muốn thảo luận về chủ đề này. Chúng tôi đi bộ trên đường biên giới, và người hướng dẫn của tôi một lần nữa nhớ lại những ngày làm việc cho các cơ quan khai thác: “Campuchia vẫn còn rất nhiều bom, và mìn. Một số là từ thời Khmer Đỏ, nhưng hầu hết là từ những vụ đánh bom rải thảm của không quân Hoa Kỳ. Bạn có thể nhìn thấy chúng ở khắp nơi, từ đây đến các khu vực ở phía Tây của đất nước – xung quanh Xiêm Riệp và phía bắc”.

Có thể hiểu, chủ đề này luôn có thể bùng nổ và mãi gợi lên sự kinh hoàng, đau đớn với nước mắt.

Sau khi trở về Phnom Penh, tôi được chào đón bởi một trong những người quản lý tại khách sạn The Plantation. Trời đã tối, nhưng anh ấy đã nghe về công việc của tôi ở vùng nông thôn, nên đã quyết định chờ tôi. “Tôi nghĩ những gì bạn đang làm là rất quan trọng”, anh ấy bắt đầu, “chúng ta nên điều tra tại sao đất nước bị đánh bom tàn bạo như vậy. Ở quê tôi, chúng tôi đã bị ném rất nhiều bom, rất nhiều miệng hố. Hãy đến đó, nếu bạn có thời gian: làng Chea Lea, xã Chealea, huyện Bateay, tỉnh Kampong Cham”.

*
Ở phía bên kia của thế giới, tại Toronto, Canada, một luật sư quốc tế hàng đầu, Christopher Black, đã viết cho báo cáo này, lặp lại những gì các nạn nhân ở Campuchia nói: “Các thử nghiệm chiến tranh mà Liên Hợp Quốc hậu thuẫn đã tạo nên tội ác của các nhà lãnh đạo Khmer Đỏ, chúng là các thử nghiệm được thiết kế để một lần nữa phỉ báng những người cộng sản, nhằm làm cho hàng tỷ người hiểu sai mà thất vọng về cộng sản. Hoa Kỳ đã đánh bom giết chết hàng triệu người Campuchia. Những gì thế giới cần là bắt các nhà lãnh đạo và sĩ quan Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về tội ác chiến tranh trong các vụ ném bom rải thảm ở Việt Nam, Lào và Campuchia. Chúng ta đã có Tòa án Tội ác chiến tranh của Bertrand Russell vào những năm 70, nhưng nó không thể thi hành các phán quyết của mình”.

Vào cuối tháng 7-2014, tòa án do Liên Hợp Quốc hỗ trợ đã tổ chức một phiên điều trần sơ bộ chống lại hai cựu lãnh đạo cấp cao của Khmer Đỏ: nguyên thủ quốc gia, Khieu Samphan, 83 tuổi, và Nuon Chea, 88 tuổi, cánh tay phải của Pol Pot.

Tất nhiên, không ai có thể ngây thơ đến mức mong đợi rằng một ngày nào đó giới lãnh đạo Hoa Kỳ có thể phải ra tòa xét xử về tội giết chết hàng triệu người trên khắp Đông Dương.

(Còn tiếp)

Andre Vltchek
Ngô Mạnh Hùng (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 561

Ý Kiến bạn đọc