Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cảm thức cảm hứng – sáng tạo trong thơ Nguyễn Hồng Vinh

Không phải ngẫu nhiên mà nước ta được mệnh danh là thi quốc. Ai cũng có thể làm được vài câu lục bát, một vài câu nhại Kiều. Tức cảnh là sinh tình, tình nói hộ và nâng cao tâm trạng của người làm thơ. Anh lính viết thơ, nhà khoa học cho in thơ, nhà giáo ngồi trước trang thơ, các cán bộ về hưu say sưa đọc thơ trong câu lạc bộ. Thơ thật sự chắp cánh cho niềm vui, tin yêu và hy vọng vào cuộc đời. Nhưng với từng người làm thơ thì mỗi sản phẩm đọng lại những dấu ấn đậm nhạt khác nhau trong lòng công chúng. Điều đó phụ thuộc vào cảm thức, cảm hứng, sáng tạo của người làm thơ. Nói cách khác, phụ thuộc vào việc bắt nhịp hơi thở cuộc sống và tài năng thể hiện. Đọc những tập thơ của Nguyễn Hồng Vinh, tôi cảm nhận rõ ràng điều ấy.

THƠ LÀ HỘI HỌA KHÔNG LỜI, NGÂN VANG

Những tập thơ của Hồng Vinh là những cuốn nhật ký đi cùng năm tháng, thấm đượm cảm thức, cảm hứng trước những sự kiện, nhân vật, cảnh quan thiên nhiên, địa danh lịch sử đất nước vào những năm chiến tranh và thời hậu chiến. Có một điều đáng chú ý là, thơ ông không đại ngôn, ồn ào, mà ý tưởng ngầm, tâm tình sâu. Thơ hay cốt ở tình và ngôn ngữ. Người xưa nói: “Tình sinh vụ văn, văn sinh vụ tình”. Thơ đích thực là thơ đa nghĩa, đa tình. Theo thi pháp ký hiệu học, nghĩa nội hàm thường lấn át nghĩa biểu hiện. Nhà triết học Heidegger gọi ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ con người (nhân bản). Đọc Đồi chim sẻ mùa này, người đọc như đứng trước bức tranh có cảnh (vườn táo), có tình (lửa yêu), có nhớ nhung và chờ đợi, những ngôn từ thêu dệt bức tranh nhiều gam màu: cỏ vàng, táo chín đỏ, mắt huyền, má hồng, mùa táo còn xanh… Thơ và họa đan xen vào nhau để giãi bày một kỷ niệm chín đợi mười thương. Thiên nhiên trong Heo may mùa này cũng là một bức tranh xinh xinh có hoa ban trắng, bướm vàng bay, tia nắng chiều, hoa tuyết đầu mùa, tiếng lá reo để nói tâm trạng, tiếng lòng người tri kỷ chờ đợi xuân sang khi tiếng lòng cất lên và tiếng lá sẽ đâm chồi nảy lộc. Lá và Hoa là bài thơ hay: Chiếc bình nhỏ nhoi/ Sao chứa cả hoa và lá?/ Đôi khi đành bứt vợi lá, vợi hoa! Ba câu mở đầu chỉ là miêu thuật, còn đây là trọng điểm của bài thơ:

Hoa thiếu lá, hoa thành đơn lẻ
Lá không hoa, sao dệt sắc xuân?
Bình hoa sẽ chông chênh
Mất màu xanh sự sống

Ở đoạn kết:

Đất – Nước/ Lá – Hoa/ Suối sông – Biển cả
Là máu xương ngàn thế hệ đi qua!

Phải chăng đây là bài học lịch sử dựng nước? Nói thế không phải quá lời, bởi Tổ quốc là gì, nếu không phải là Đất và Nước, là con sông trước nhà, là cánh đồng bao quanh làng mạc… Nhân một bình hoa lá để trang trí, mà thấy được cả Đất và Nước, bởi Đất là nhau thai của sự sống, Nước là nguồn gốc của mọi nguồn gốc. Ở đây, ta đã bắt gặp một bút pháp tu từ trong thơ cổ điển phương Đông: Thủ tượng (lấy cái cụ thể để giải thích cái trừu tượng) và đàm huyền (lấy cái huyền bí, trừu tượng để luận đàm cái cụ thể). Bài thơ dễ đọc, dễ thuộc, có thể phổ thành một ca khúc ngân vang.

THƠ NGẮN NHƯNG MẠCH THƠ SÂU, TÌNH THƠ NẶNG

Người xưa nói: “Đoản thi tối hảo phá” (Thơ ngắn có sức truyền cảm lớn). Vũ trụ và thiên nhiên, tiên giới và trần gian, không gian và thời gian… là những khái niệm vừa thực vừa hư, vừa hài hòa vừa hỗn loạn…, đòi hỏi nhà thơ những năng lượng biến dịch, cảm quan biện chứng, cảm hứng dồi dào, sức tưởng tượng thẳm sâu. Trong thơ Hồng Vinh điểm xuyết nhiều bài thơ vô đề. Chỉ riêng trong tập Nhịp điệu thời gian đã có 12 bài vô đề, tất cả đều ngắn. Vô đề nhưng hữu sự, đượm tình. Ở đây nhà thơ tránh kể lể dông dài, sự kiện được khái quát thành “tâm lý sự kiện”. Trong tập Miền thương nhớ, người đọc chú ý 4 bài vô đề, khổ thơ tứ tuyệt (hay cô đúc như thể thơ Haiku của Nhật Bản, tất cả đều ngắn (đoản ca), ít lời nhưng sâu sắc) mà nói được biển chiều, hơi xuân, hoa trà mi; sự mỏi mòn chờ đợi; khoảng cách giữa đôi ta; đời chứa nhiều trắc ẩn…

Viết về thiên nhiên, Hồng Vinh có Thu tới, Mưa về, Sao vội hoàng hôn, Chờ trăng, Sao không gửi nắng, Nghe lá rụng… Chờ trăng là một trong những bài gây ấn tượng:

Sao mấy mươi thu có lẻ
Trăng vẫn nấp hoài trong mây
Biết chăng có ai thao thức
Cắm thuyền đợi nước triều trôi?!

Nói chuyện trăng, sao, thực chất là nói chuyện con người, chuyện mùa thu với tâm trạng của người thao thức. Bởi mùa thu là màu ký ức, mà ký ức là thời gian. Tự nhiên tôi liên tưởng đến Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ: Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngắt/ Hương thời gian không nồng/ Hương thời gian thanh thanh. Thời gian chỉ đo bằng năm, bằng mùa, sao lại đo bằng màu, bằng hương?! Thi pháp thơ Hồng Vinh cho ta biết thời gian là ký ức, là chờ đợi, là thầm trách móc, dễ thường có đến hàng chục năm xa cách nhau…

Bài Tháng Ba được sử dụng thủ pháp “từ ngữ hô – ứng” (alternance de mot) thường có trong thơ trữ tình: Nơi em đón tháng ba (hô), ngoài này mù sương sa (ứng); Sao vội về trong ấy? Để lại chiều bâng khuâng (từ trong ấy ứng với chiều bâng khuâng ngoài này). Tôi bỗng nhớ đến ca khúc Anh ở đầu sông, em cuối sông, là dẫn từ câu thơ theo thi pháp hô – ứng…

Thơ ngắn, thơ mang chất triết lý không phải là độc quyền của thơ, nhưng cảm hứng phản xạ của nhà thơ dễ dẫn đến tình cảm hướng nội, hướng về nỗi lòng con người và chiều sâu cuộc đời. Không xuất phát từ chất mặn của đời, nỗi đau và niềm hạnh phúc của con người, thì những gì nhà thơ viết ra dễ trở thành phù phiếm. Tôi muốn nhấn điều này vì hiện nay hiện tượng phi thơ, mạo nhận cách tân thơ, thơ không cần ý tưởng, không cần nghĩa, thơ là bóng chữ, làm phê bình là phải “đập vỡ” chữ… đang có xu hướng gia tăng, làm công chúng bất bình vì biến thơ thành nhảm nhí. Khi tư duy rối loạn, cảm xúc thiếu lành mạnh thì nói gì đến thơ hay, thơ có ích!? Tôi đánh giá cao thơ Hồng Vinh đã tự vượt qua những điều tầm thường ấy, tạo nên sức cảm hóa, sự sẻ chia của người đọc về thái độ của nhà thơ trước nhân tình thế thái…

Nhân đây, tôi nhớ tới Khổng Tử đã đúc kết 4 sứ mệnh của nhà thơ: Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán (thơ có thể cảm hứng vui thú, có thể quan sát, có thể quần tụ mọi người, có thể oán giận điều xấu). Đó chẳng phải là sứ mệnh của nhà thơ chân chính khi đến với thơ đích thực!?

Soi những tiêu chí ấy vào hai tập thơ của Nguyễn Hồng Vinh, tôi thấy tác giả đã cố gắng thể hiện, nhờ vậy đã tạo nên những ấn tượng tốt trong công chúng yêu thơ. Tuy nhiên, thơ Hồng Vinh cũng giống đặc điểm chung của thơ hiện nay là, bình diện thứ tư còn thiếu và yếu, vì nhiều nhà thơ chưa thực sự coi trọng vũ khí châm biếm, trào lộng.

Song, tôi nghĩ và tôi tin, Hồng Vinh có đủ tiền đề và điều kiện như: bản lĩnh của một nhà hoạt động chính trị, phông văn hóa rộng của một nhà khoa học, tư chất trung thực của một nhà thơ, khả năng sáng tạo tiềm ẩn…, thì những vần thơ trào lộng thâm thúy sẽ có mặt nhiều hơn ở các tập thơ tiếp sau.

GS Hồ Sĩ Vịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 386