Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cảm ơn lời người đương thời

 

Người xưa nói: Trăm nghe không bằng mắt thấy. Mắt thấy không bằng chính ở trong cuộc… Đấy chính là giá trị lời nói của những người trong cuộc về các hiện tượng, sự việc, sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Chúng tôi trân trọng cảm ơn lời của nhà văn lão thành Lê Văn Ba trên Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) số 39, ngày 26-9-2020, về việc người ta đang “phục dựng” Đồi thông hai mộ thành kiệt tác của thế kỷ XX. Theo đó, “Cuốn truyện đã được hoàng đế Quốc trưởng Bảo Đại tặng thưởng cho Tùng Giang (Tùng Giang Vũ Đình Trung – tác giả được thưởng) số tiền khá lớn – 5.000 đồng Đông Dương tương đương nhiều cơ ngơi đồ sộ” (Văn Nghệ. Sđd. Trg.6) và còn tâng bốc: “Một bản tình ca day dứt, đẫm nước mắt, giàu nhạc điệu và hàm ẩn những thông điệp nhân sinh thuyết phục… Có thể nói truyện thơ song thất lục bát xuất sắc nhất thế kỷ XX này đã làm dậy sóng văn đàn cả nước… Chúng ta ngày nay đang sống trong môi trường tiếng Việt hiện đại mà thậm chí vẫn có thể ngẩn ngơ với những câu thơ đẹp tươi của 70 năm về trước” (Văn Nghệ. Sđd. Trg.6).

Sự thực có như thế không?

Trước hết là lời người cùng thời. Nhà văn Lê Văn Ba là một trong những cây bút kháng chiến, từng viết cho Tia Sáng, Liên hiệp, Giang Sơn… xuất bản hàng ngày ở Hà Nội thời đó, cho biết đã có không ít bài công khai phê bình Đồi thông hai mộ là nhạt nhẽo. Trên báo Chánh Đạo tháng 11-1952, kịch tác gia Sỹ Tiến “viết bài đăng ba kỳ liền có đoạn vuốt mặt chẳng nể mũi: Từ cốt truyện cho đến lời thơ đều hết sức tầm thường, riêng về đoạn văn xuôi thì không một chút giá trị gì cho đáng đọc” (Văn Nghệ. Sđd. Trg.6).

Về tác giả Tùng Giang Vũ Đình Trung, thì chính ông ta thổ lộ:

“Cuối năm 1946, cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ… Tôi, một thương gia phải tản cư đến miền núi tỉnh Hòa Bình… Các hàng hóa thập cẩm và linh tinh thu xếp gọn gàng… Không kể đẹp trời hay mưa bão, cứ ngày phiên Chợ Đồn là tiểu đội quân cơm áo của gia nhân tôi gồm cả ngót chục người do tôi chỉ huy dẫn đầu sẵn sàng hàng ngũ lên đường trước 2 giờ sáng và tới chợ trước khi tỏ mặt người…” (Báo đd. Trg.6).

So-619--Cam-on-loi-nguoi-duong-thoi---Anh-1

Đến khi hồi cư (dinh tê) về lại Hà Nội (đã bị quân Pháp tái chiếm) thì Vũ Đình Trung làm nghề dạy học, dạy trẻ em tiếng Việt và dạy người lớn tiếng Quan Hỏa (ngôn ngữ tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc)… Cuốn truyện, theo ông Vũ Đình Trung, là do thời kỳ tản cư, ông được một cụ già cho xem cuốn sách nhỏ phiên âm tiếng Thổ Mường của Chế Quang Tuyển ghi lại câu chuyện tình bi lụy của Đinh Lăng và Quách Mỹ Dung… Dựa theo cốt truyện ấy, ông Trung đã viết Đồi thông hai mộ. Nhưng nhà văn Lê Văn Ba cho biết, người Mường Hòa Bình không có tích truyện đó và cũng không có dấu vết gì chứng tỏ Chế Quang Tuyển ghi chép lại. Như thế là rất đáng nghi về nguồn gốc câu chuyện (Bđd. Trg.14).

Đi vào câu chuyện thì rất “mập mờ sau những câu thơ” như thế này:

- Anh hùng dũng cảm vùng sơn cước
Quyết hy sinh hiến nước vì tình
Mưa tên bão đạn không kinh
Sa trường đẫm máu tử sinh coi thường
…..

Góp máu xương công lý phụng thờ
Góp phần đắp cõi xây bờ
Kỳ đài độc lập dựng cờ Việt Nam
…..

Lần cuối Trưởng Vệ Lăng ra trận
Chí tung hoành nước vận phục hưng…

Đồi thông hai mộ ra đời năm 1950. Thời điểm ấy tình hình đất nước như thế nào, hẳn mọi người đều biết. Kỳ đài độc lập… ở đây gần với Quốc gia Việt Nam hơn là truyền thuyết Thổ Mường Hòa Bình. Nhưng có lẽ Đồi thông hai mộ được Quốc trưởng Bảo Đại trao giải thưởng danh dự là “ở ngay trang nhất cuốn sách cho thấy chính kiến rõ ràng: Kính tặng linh hồn bất diệt của toàn thể nam nữ chiến sĩ Việt Nam đã hiến thân cho đất nước” (Bđd. Trg.14). Vong linh các “chiến sĩ” của Quốc gia Việt Nam và gia đình họ sẽ được tưởng lệ nhiều lắm.

Thêm một chi tiết: “… 5.000 đồng Đông Dương (lúc đó) tương đương nhiều cơ ngơi đồ sộ” (Bđd. Trg.6). Cụ Lê Văn Ba cho biết: “Giá cả thị trường Hà Nội những năm 1950: Gạo 300 đồng/tạ (100 kg). Lương công chức trung bình 6.000 đồng/tháng. Bộ complet may cắt đúng kiểu 1.500 đồng. Xe đạp Peugeot 1.800 đồng/chiếc (Bđd. Trg.14).

Dưới đây là lời người đương thời thứ hai: Cố GS. Phan Ngọc, nhà nghiên cứu văn hóa, vừa qua đời ngày 26-8-2020. Năm 1950, ông đang trong quân đội, trên Việt Bắc. Ông viết:

“Hoài Thanh nhận xét rất đúng đắn rằng dưới thời Pháp thuộc, có những người tuy sống mẫu mực không ăn chơi, nhưng họ vẫn không thoát khỏi tâm trạng những kẻ bơ vơ, nhục nhã, buồn tủi. Cuộc sống bắt con người phải “làm đầy tớ thằng Tây vì miếng cơm manh áo, nhưng con người Tổ quốc luận nhận thức rằng đây là chuyện bất đắc dĩ khi mình không tham gia vào hoạt động chống Pháp. Điều này không ai dạy cả, nó là tự nhiên. Còn khi đất nước đang chiến đấu để giành độc lập – tự do thì những chuyện huênh hoang về cái trụy lạc của mình đều mất hết ý nghĩa, trở thành một hành động phản bội.

Không cần phải tìm đâu xa, chỉ nhìn tình hình văn nghệ trong các đô thị Pháp chiếm là thấy. Suốt thời gian kháng chiến, mặc dầu thực dân Pháp và tay sai xuất tiền dựng lên, huy động mọi phương tiện để có được một chút văn học – nghệ thuật tô vẽ cho chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, bằng cái tự do tuyệt đối của các nhà thổ, các tiệm hút và sự thành lập Việt Nam văn hóa hiệp hội, nhưng họ không sản xuất được gì ngoài truyện kiếm hiệp, trinh thám và tác phẩn nổi tiếng nhất được giải thưởng khi tôi cố gắng tìm là Đồi thông hai mộ của Vũ Đình Trung, hết sức xoàng và sau này chẳng ai thèm nhắc tới” (Phan Ngọc. Một thức nhận về văn hóa Việt Nam. NXB Thế giới – 2018. In lần thứ ba. Trg.430). Cần chú ý rằng học giả Phan Ngọc là người rất thận trọng về học thuật. Ông cho biết: “Các bài viết đều đã hoàn thành từ đầu những năm 80 thế kỷ XX. Tôi chờ đợi trung bình 20 năm để xem thử cách nhìn có ổn không. Khi thấy sau 20 năm câu chuyện không thay đổi bao nhiêu, tôi viết lại cho hợp với hoàn cảnh mới; khi nhận thấy mình đã ngót nghét 80 tuổi, muốn chờ đợi thêm cũng không có điều kiện” (Phan Ngọc. Sđd. Lời nói đầu. Trg.6).

Xin GS. Phan Ngọc yên tâm an nghỉ, vì chỉ sau khi ông qua đời đúng một tháng, đến ngày 26-9-2020, một người cùng thời với Giáo sư, lại là người trong cuộc, hoạt động trong văn nghệ kháng chiến ở Hà Nội thời Pháp tái chiếm, đã khẳng định cách nhìn của Giáo sư về Đồi thông hai mộ là rất ổn. Một cách nhìn sau 40 năm nhìn lại (1980 – 2020) vẫn rất ổn thì càng rất rất ổn. Chúng tôi rất hoan nghênh và cảm ơn báo Văn Nghệ đã đăng bài viết của nhà văn Lê Văn Ba, một minh chứng cho sự nguy hại về lý luận sử học của GS. Phan Huy Lê là “cần phải vượt qua rào cản ý thức hệ” (2011). Không chỉ với Đồi thông hai mộ mà còn nhiều nữa. Như việc trưng bày, Tọa đàm về Trương Vĩnh Ký diễn ra vào ngày 11-9-2020. Khách quan mà nói thì sự việc này đúng là đã “vượt qua rào cản ý thức hệ”. Trong khi chuẩn bị và tiến hành kỷ niệm những ngày Đại lễ của dân tộc: Ngày 19-8 và Ngày 2-9 thì người ta đồng thời chuẩn bị “phiên án, chiêu tuyết” cho Trương Vĩnh Ký vào ngày 11-9-2020. Nếu chỉ nhìn đơn thuần về “trang sử đời”, về kỹ thuật báo chí hay chữ quốc ngữ thì Trương Vĩnh Ký lớn lao, vĩ đại lắm. Nhưng cần nhớ Gia Định báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam vốn là công báo của Soái phủ Nam kỳ. Đến năm 1865, Soái phủ Nam kỳ giao cho một người Pháp là Potteau quyền phát hành tờ báo và ngày 15-4-1865 ra số đầu tiên. Đến ngày 16-9-1869, một Nghị định của Đô đốc Ohier giao cho Trương Vĩnh Ký đảm nhiệm, thù lao mỗi năm 3.000 quan, trong khi lương thông ngôn là 20 đồng mỗi tháng. (Xem Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945. NXB Tổng hợp TP.HCM – 2016. Mục Gia Định báo, các trang 55-56-57-58). Thế mà trong Tọa đàm ngày 11-9-2020 thì Trương Vĩnh Ký hiện lên như là ông tổ của báo chí Việt Nam (VNTP.HCM, số 613, ngày 24-9-2020, bài Tìm hiểu thêm về Trương Vĩnh Ký của HongLe Facebook). Thực ra, Huỳnh Tịnh Của mới là người khởi thủy và có công về báo chí quốc ngữ và chữ quốc ngữ. Ông đã có bản điều trần gửi cho vua Tự Đức yêu cầu nhà vua cho xuất bản báo chí bằng chữ quốc ngữ để giáo dục quần chúng. Nhưng Tự Đức không nghe theo. Huỳnh Tịnh Của đã biên soạn Đại Nam quốc âm tự vị là công trình rất có giá trị. Còn Trương chỉ làm theo người Pháp và biên soạn sách về chữ quốc ngữ sao cho người Pháp dễ học, học nhanh thứ tiếng này. Huỳnh Tịnh Của là đồng sự và là cấp dưới của Trương Vĩnh Ký ở Gia Định báo (Huỳnh Văn Tòng. Sđd. Trg.60).

Chúng tôi rất cảm ơn nhà văn Lê Văn Ba và trân trọng giới thiệu để bạn đọc biết một công trình biên soạn rất quý giá của ông: cuốn Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược. NXB Hội Nhà văn. H.2015. Đây là một công trình đồ sộ, dày 1.449 trang, khổ 16x24cm, tìm hiểu về các nhà văn Việt Nam bị bỏ tù từ thời quân phương Bắc xâm lược như Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Tuệ Tĩnh, Giang Văn Minh… trải qua thời thuộc Pháp và thời chống Mỹ như Vũ Hạnh, Viễn Phương, Ngô Kha… mà chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp với bạn đọc. Nhà văn Lê Văn Ba sinh năm 1934, ông hoạt động ở nội thành Hà Nội, bị Pháp bắt giam vào nhà tù Hỏa Lò năm 1952.

Xin trân trọng.

Tháng 10-2020

Nguyễn Văn Học
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 619

Ý Kiến bạn đọc