Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cái yếm lụa sồi của Trương Vĩnh Ký

 

Cái yếm ấy, tấm váy ấy là sản phẩm của phong kiến thực dân, cũng có phần của Trương Vĩnh Ký. Nay xin để Châu về Hợp Phố.

Nếu GS.TS Đỗ Quang Hưng không phải là trưởng nam của cố nhà văn Nguyễn Quang Tiến thì mong được thứ lỗi cho sự nhầm lẫn. Nếu không, theo chỗ tôi biết thì Giáo sư từng giảng dạy ở khoa Sử – Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, sau đó làm Viện trưởng Viện Tôn giáo. Giáo sư biên soạn khá nhiều công trình. Trong đó tôi nhớ có cuốn Lịch sử xuất bản Việt Nam, biên soạn cùng với nguyên Cục trưởng Cục Xuất bản Trần Văn Phượng. Gần đây có cuốn Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2019.

Khi biên soạn Lịch sử xuất bản Việt Nam chắc chắn Giáo sư hiểu rất rõ về Trương Vĩnh Ký. Vậy thì Trương Vĩnh Ký làm gì có cái yếm, tấm váy nào. Vì đấy là trang phục của phụ nữ Việt Nam rất phổ biến ở nông thôn khoảng nửa đầu thế kỷ trước trở về trước. Vả lại Trương Vĩnh Ký quen trang phục áo dài khăn đóng, dù đi Tây hay ở Cơ Mật Viện triều Nguyễn, dù làm thầy học cho vua Đồng Khánh hay Chủ bút tờ Gia Định báo… Thế hóa ra Năm Châu Đốc tào lao quá xá phải không Giáo sư?

Thưa không phải. Ấy là Năm Châu Đốc nhớ tới tập truyện ngắn Nhất tội nhì nợ của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, thân phụ của Giáo sư. Câu chuyện về cái yếm lụa sồi của con gái con nhân vật chính trong truyện Nhất tội nhì nợ hóa ra lại có sự quan hệ hay có thể liên hệ đến bộ khăn đóng áo dài của Trương học sĩ. Tôi được đọc tập truyện Nhất tội nhì nợ và Thằng Mách. Xin cố nhớ lại, thuật lại để xem trí nhớ của mình còn được đến đâu. Xem cái tình của mình với cố nhà văn Đỗ Quang Tiến qua những trang văn buổi đầu gặp gỡ, nó còn được đến đâu. Hoàn toàn không dám múa rìu qua mắt thợ. Vì chắc chắn Giáo sư hiểu và nhớ tác phẩm của cha mình không kém gì cuộc đời và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký mà Bảo tàng Báo chí Việt Nam tổ chức trưng bày tác phẩm và Tọa đàm để “phát huy giá trị di sản báo chí Việt Nam các thời kỳ, tiếp thu và học tập các thế hệ nhà báo đi trước trong việc gây dựng phát triển sự nghiệp báo chí nước nhà”. Buổi Tọa đàm do GS.TS Đỗ Quang Hưng chủ trì, dẫn dắt…” (Theo tư liệu ảnh chụp trên Văn Nghệ TP.HCM, số 613, ngày 24-9-2020, trong bài Tìm hiểu thêm về Trương Vĩnh Ký của tác giả HongLe Facebook.

Theo đó, buổi Tọa đàm, trưng bày chuyên đề về Trương Vĩnh Ký diễn ra vào ngày thứ sáu, 11-9-2020 tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam. Năm Châu Đốc chưa được biết nội dung chủ trì, dẫn dắt của Giáo sư cùng bài thuyết trình mở đầu của nhà báo Trần Hữu Phúc. Nhưng thiển nghĩ, Bảo tàng Báo chí nên và cần sưu tầm, bảo tồn tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, cũng như của Alexandre de Rhodes và Francis de Pina… để làm tài liệu nghiên cứu. Nhưng trưng bày chuyên đề hay Tọa đàm thì không cần, không nên, nhất là trong tình hình đất nước hiện nay, nhiều kẻ đang dựng lại các nhân vật lịch sử như Vương triều Nguyễn, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Cao Khải, Phạm Quỳnh… để gây chia rẽ, kích động hoài cảm của những người có quan hệ trong gia đình, họ hàng, dòng tộc…

Năm Châu Đốc thấy vai trò “chủ trì, dẫn dắt” buổi Tọa đàm của Giáo sư rất quan hệ đến tập truyện ngắn Nhất tội nhì nợ, vì vậy, xin thuật lại hai truyện.

Nhất tội nhì nợ: Lâu ngày không nhớ tên nhân vật, xin tạm gọi là bác Hai. Cô con gái của nhà bác, cũng xin tạm gọi là cô gái. 

Nhà bác Hai nghèo lắm. Quanh năm đi làm thuê cuốc mướn, bác có vay mượn nhà Tiên chỉ Cốp hay Chánh hội hay Phó lý… gì đấy. Một hôm Chánh hội cho người gọi bác đến trảy cau. Cây cau cao. Buồng cau to. Bứt được buồng cau, bác đang tụt xuống thì bị đứt đai trèo. Nó là cái vòng thường kết bằng bẹ chuối hay tàu chuối cho mềm. Người trèo cau luồn hai bàn chân vào vòng đai, cặp vào thân cây cau cho vững mà trèo lên hay tụt xuống. Đang trên cao mà vòng đai trèo bị đứt, bác Hai lâm vào trạng thái khó xử. Nếu bỏ buồng cau mà ôm cây tụt xuống thì an toàn. Nếu giữ buồng cau thì cả người cả buồng cau sẽ tụt xuống rất nhanh, sẽ bị rơi cả người. Nhà Chánh hội kêu thét không cho bác bỏ buồng cau. Bác cứ thế bị rơi ngồi xuống. Cao như thế mà rơi nhanh như thế bác đau lắm. Về ốm hơn tháng trời rồi chết. Cô gái con bác Hai phải đến nhà Chánh hội vay tiền làm ma cho bố. Gặp lúc cụ Chánh, cụ Tiên chỉ và cụ Phó lý đang đánh bài hay uống trà gì đấy. Cô gái có lời thưa rồi đứng ngoài thềm chờ. Bỗng một cụ bảo:

- Tôi đố các ông: Cái yếm con bé đang mặc là bằng sồi (nái, lụa gốc) hay vải chúc bâu. Cụ bảo bằng sồi. Cụ bảo bằng vải. Cụ Chánh bảo: Mày lại đây cho các cụ xem bằng sồi hay vải. Cô gái nuốt nước mắt, ngậm miệng đi vào. Các cụ thay nhau xem cái yếm. Tay lật yếm, tay bóp ngực cô gái. Cụ Chánh thì nhất định là sồi. Cụ Tiên chỉ thì nhất định không phải. Còn cụ Phó lý, xem đi xem lại thì bảo cứ ngờ ngợ…

Chán tay rồi cụ Chánh mới bảo cô gái điểm chỉ vào văn tự, cầm mấy đồng về làm ma… Ngày cuối năm, mưa thâm gió bấc, bác Hai gái nghe réo ngoài ngõ: Liệu mà trả nợ đi nhớ. Không thì đem bài vị lên mà thế…

Thân phận người nghèo khổ thế đấy. Nhất tội nhì nợ (tục ngữ hay thành ngữ), là thế đấy. Truyện này gần với truyện Anh Năm râu rồng của Trang Thế Hy (Bến Tre) nhưng thảm hơn. Ở chỗ cái yếm lụa sồi.

Thằng Mách: Mahomet, một lính lê dương người Phi, đóng đồn ở gần làng X. Một hôm đi càn xuống làng, gặp cô gái (không nhớ tên) xinh đẹp lắm. Cô chạy không kịp. Bị Mahomet đè ra hiếp. Cô có mang. Đủ ngày tháng sinh đứa con trai bụ bẫm kháu khỉnh, chỉ tội tóc quăn da đen. Bây giờ biết đặt tên cho nó thế nào. Bà mẹ cô bảo thôi gọi nó là thằng Mách theo họ cái thằng cha nó. Bẵng đi một thời gian. Lính đồn lại đi câu. Nhưng lần này sếp của Mahomet đi trước. Còn Mahomet bị chia đi một hướng khác với nhà cô gái đã bị Mahomet chiếm đoạt hồi trước. Mahomet thấy ngờ ngợ nên chạy đi tìm lại ngôi nhà cũ. Đến nơi thấy sếp đang nằm đè lên mẹ thằng Mách. Còn thằng Mách thì đang bò, kêu khóc ở gần đó. Mahomet không còn suy nghĩ gì nữa, anh ta dương khẩu tiểu liên ra kéo cả một băng vào hai con người đó. Mahomet đến lôi xác thằng sếp ra, nhìn mặt người con gái lần cuối rồi bế thằng Mách, đeo súng đi về hướng chiến khu…

Nội dung hai câu chuyện đại khái như thế.

Tôi chưa một lần được diện kiến nhà văn Đỗ Quang Tiến. Tập truyện đó do Nhà xuất bản nào in vào năm nào cũng không còn nhớ. Nhưng ấn tượng, cảm động, thương xót. Tôi kính trọng nhà văn Đỗ Quang Tiến từ đó đến nay.

Những năm qua Năm Châu Đốc có theo dõi dư luận về Trương Vĩnh Ký. Cả sách và báo. Nhất là đọc Cuốn sổ bình sanh mà Nguyễn Sinh Duy xuất bản ở Sài Gòn đầu năm 1975 và nhiều tài liệu khác mới thấy, nếu nhìn Trương Vĩnh Ký trên tinh thần của nhà văn Đỗ Quang Tiến – ấy là ví dụ như thế – thì Trương Vĩnh Ký đáng bị nguyền rủa, phê phán, lên án chứ không có gì phải tôn vinh, ca ngợi, biết ơn… Đúng rằng Trương Vĩnh Ký rất thông minh, rất có tài. Nhưng toàn bộ cuộc đời của Trương là phục vụ – mà phục vụ đắc lực – cho công cuộc xâm lược, đặt ách đô hộ của thực dân Pháp lên đầu lên cổ người dân Việt Nam. Trương biên soạn rất nhiều sách nhưng là để giúp cho người Pháp nhanh chóng nắm được Tiếng Việt và đặc trưng văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam để người Pháp định ra được phương cách cai trị sao cho hiệu quả.

Chỉ riêng Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) cũng đủ kết tội rất nặng cho Trương Vĩnh Ký. Tác giả Nguyễn Sinh Duy trình bày rất ngắn gọn nhưng nêu lên được thực chất của chuyến đi đó. “Căn cứ vào báo cáo của Trương Vĩnh Ký đồng thời kiểm soát thẻ lương của đương sự vào năm ấy (1876), người ta được biết rằng, do lệnh của Đô đốc Duperré, Trương Vĩnh Ký được ứng trước ba tháng lương, bí mật ra Bắc tìm hiểu tình hình (Nguyễn Sinh Duy – Trương Vĩnh Ký cuốn sổ bình sanh. NXB Văn học, tái bản, H.2004. Trg.86; theo bản của NXB Nam Sơn, Sài Gòn – 1975). Và “… ông ta đã dùng cáng có đoàn hộ tống đi Hà Nội, Nam Định, Phát Diệm, Thanh Hóa, Ninh Bình… Ông đã tiếp xúc hầu hết các nhân vật hữu trách miền Bắc, quan lại Nam triều như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tăng Doãn; hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo như Linh mục Puginier, cố Sáu (Linh mục Trần Lục – Phát Diệm) v.v… Trong ba tháng ông ta đã tìm hiểu cặn kẽ tình hình… những điều cần biết nhất cho Soái phủ Nam kỳ lúc bấy giờ chính là thâm ý của quan lại Nam triều đối với âm mưu xâm chiếm Bắc kỳ của Pháp” (Sđd. Trg.86-87). Trương đã khuyên sĩ phu Bắc Hà nên chịu theo người Pháp, dang cả hai tay ra với người Pháp mà không có một hận ý gì.

Theo ngôn ngữ hiện đại thì Trương Vĩnh Ký là một điệp viên, một tình báo chiến lược dưới vỏ bọc một học giả. Vì trước chuyến đi này một năm, Trương đã dịch Truyện Kiều ra quốc ngữ làm món quà như miếng trầu là đầu câu chuyện cho sĩ phu Bắc Hà.

Nói theo ngôn ngữ hồi chống Pháp thì Trương Vĩnh Ký là tên Việt gian đầu sỏ… Theo thời chống Mỹ, là ngụy quyền đầu sỏ.

Sau chuyến đi này, theo Quyết định ngày 28-7-1877, Trương Vĩnh Ký được cử vào Hội đồng cai trị thành phố Sài Gòn và là người Việt duy nhất, còn lại là người Pháp (Sđd. Trg.89-90).

Những người biện hộ cho Trương Vĩnh Ký thường đưa chuyện ông là một trong số thập bát văn hào thế giới (1874). Nhưng chính ông Trần Thanh Ái trên Tạp chí Xưa và Nay số 488 – tháng 10-2017, đã tìm hiểu thì đấy là bình chọn của một tạp chí địa phương của Pháp, chủ yếu là các tác giả viết bằng tiếng Pháp. Và chủ yếu là người Pháp. Người nước khác chỉ có Trương và một người Tây Ban Nha. Trong năm đó (1874), họ chọn ra 18 người và Trương được xếp vào thứ 17 (Xem Luận chiến văn chương. Q.V. NXB Văn học. H.2019. Bài Văn hào cấp tỉnh. Trg.193).

Sự thực về Trương Vĩnh Ký là như thế. Tài thì rất tài. Nhưng đem cái tài đó phục vụ cho kẻ xâm lược, đẩy dân tộc vào cảnh nô lệ suốt hơn trăm năm… Tài như thế đáng khen hay đáng lên án?

Có lẽ, theo lý thuyết của GS. Phan Huy Lê, ta nên bổ sung vào những trang sử viết về Trương Vĩnh Ký những trang sử đời mà chính Trương Vĩnh Ký đã cùng với người Pháp tạo ra từ 1862 đến 20-7-1954, thậm chí hậu quả liên đới kéo dài đến 30-4-1975. Chúng tôi đề nghị bổ sung thêm cái yếm lụa sồi của cô gái con bác Quân và tấm váy đẫm máu của mẹ Thằng Mách, vì đấy là kỷ vật của những nạn nhân tiêu biểu của sự hợp tác giữa Trương Vĩnh Ký với thực dân Pháp. Mong GS. Đỗ Quang Hưng chấp nhận cho. Làm như vậy là Giáo sư đã trọn được đại hiếu đối với đất nước – viết trang lịch sử trung thực – và tiểu hiếu, lưu lại tác phẩm của người cha, một nhà văn được bạn đọc hằng yêu kính. Trương Vĩnh Ký đi đâu thì Tội… nợ và Thằng Mách theo đó. Thế thì Cụ nhà có kém gì Thập bát văn hào cấp tỉnh Trương Vĩnh Ký. Chẳng hay Giáo sư có vui lòng chăng, mong được lời chỉ giáo.

Vĩ thanh:

- Viết đến trang mới nhớ ra tên nhân vật trong truyện Nhất tội nhì nợ là bác Quân. Xin đính chính mà không sửa lại vào bản thảo để làm một sự kỷ niệm về tuổi già lúc nhớ lúc quên, quên quên nhớ nhớ. Mong GS. Đỗ Quang Hưng, gia đình cố nhà văn Đỗ Quang Tiến và bạn đọc đại xá cho.

- Trương Vĩnh Ký không đơn thuần là nhà văn hóa nên cần nhìn rộng hơn vấn đề chữ quốc ngữ một chút. Chắc chắn họ Trương biết rõ sự kiện Công xã Paris năm 1871. Chính quyền Pháp lúc đó đã đàn áp đẫm máu, giết chết hàng chục vạn công nhân Pháp. Vậy mà đến năm 1876, họ Trương lại khuyên người Việt Nam nên chấp nhận theo người Pháp.

- Cũng nên bổ sung vào nội dung trưng bày câu nói của nhà yêu nước Phan Đình Phùng trong thư trả lời Hoàng Cao Khải:

“Tôi ngẫm nghĩ về nhân dân ta sống ngàn năm trên một giải đất hẹp, quân đội ít, tài nguyên không bao nhiêu. Tôi hiểu rằng chúng ta tồn tại được chỉ nhờ năm đức (Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín? – N.C.Đ). Đã bao lần Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh… đã xâm lược nước ta. Đứng trước một nước láng giềng mạnh gấp ngàn lần chúng ta đã đương đầu nổi, nhờ trời và sự sáng suốt của tổ tiên…

Ngày nay nước Pháp ở cách xa vạn dặm, vượt biển để xâm chiếm nước ta, gây bão táp, lật đổ triều đại, biến nước ta thành thuộc địa, tàn phá, hủy diệt chẳng chừa gì hết.

Ông hiểu nỗi khổ của nhân dân này. Ông hãy đứng ở địa vị tôi thì ông sẽ hiểu, tôi không cần bàn thêm vô ích”.

(Phan Ngọc. Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp. NXB Khoa học xã hội. H.2018. Trg.48)

- Trương Vĩnh Ký có lẽ thấm nhuần văn hóa Ki-tô giáo hơn là văn hóa Việt Nam, nên đã, dù có chủ ý hay không, xúi dại người Pháp, điều mà sau này McNamara đã nói trong cuộc gặp với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại ý: Chúng tôi chưa hiểu văn hóa Việt Nam. Nếu hiểu được, chúng tôi đã không can thiệp vào Việt Nam.

- Phương pháp phủ định đối tượng của Phật giáo là chia cắt đối tượng và chỉ chú ý đến một phần nào đó của đối tượng. Chẳng hạn không nhìn Hoa hậu Hoàn vũ một cách toàn diện cả hình thể lẫn phần hồn – thi ứng xử; mà chỉ chú ý vào hàm răng hay cái tai hay ngón tay cái, ngón út… sẽ thấy không còn Hoa hậu nữa.

Phương pháp “phân khúc lịch sử” thì ngược lại. Chia tách đối tượng lịch sử và chỉ chú ý đến chi tiết có lợi nhất cho sự quảng cáo đầy tính “gian lận thương mại”, như quảng cáo thực phẩm chức năng. Người tiếp nhận quảng cáo sẽ nhầm và tin chi tiết, bộ phận đó là toàn bộ. Chỉ trưng bày chuyên đề về trước tác, trí thông minh… của Trương Vĩnh Ký cũng như Phạm Quỳnh sau này; hay chỉ nói đến hai vở tuồng của Hoàng Cao Khải mà lẩn tránh sự kiện trong ba tháng, quan Kinh lược xứ đã cho chém đầu khoảng 1.800 nghĩa sĩ Cần Vương ở vùng Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên; hay “Bảo Đại hồi loan” được dân chúng Trung kỳ đón rước long trọng, đầy ngưỡng vọng, tin tưởng… thì rất ngược lại tinh thần “lịch sử toàn bộ toàn diện khách quan trung thực” mà cố GS. Phan Huy Lê rất nhiều lần nói đến. Chẳng hay quan niệm của GS.TS Đỗ Quang Hưng thế nào, cũng xin được thuật tường.

Tháng 10-2020

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghê TP.HCM số 617

Ý Kiến bạn đọc