Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cách mạng đã cho ta tư thế làm người

Từ việc học chữ

Bác Hồ nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.

Bà nội tôi kể: Quãng hồi sau Khởi nghĩa tháng Tám năm Ất Dậu (1945), chính quyền mới tổ chức dạy bình dân học vụ, yêu cầu ai cũng phải biết chữ. Cán bộ đến vận động từng nhà, từng người đi học, trước hết là dạy biết chữ, rồi tiến tới người biết chữ nhiều dạy cho người biết chữ ít, nâng cao dần trình độ. Hồi đó người biết chữ ít lắm, ngoài vài người theo học cụ đồ ở làng biết được dăm ba chữ nho là một thứ văn tự đã lỗi thời ngày ấy, còn hầu hết đều mù chữ. Đối với bà con lao động, quen sống tự nhiên nhi nhiên “sờ đầu gối nói chân thật”, cứ cho rằng việc đồng áng cày sâu cuốc bẫm, chăn trâu cắt cỏ cần gì đến chữ nghĩa. Đàn bà lại càng không cần đến chữ nghĩa (?!), “Con gái biết chữ để viết thư cho giai à” (?!) – các cụ ngày xưa mắng thế. Nhét được con chữ vào đầu “các vị” thật gian nan. Thế mà những cán bộ bình dân học vụ hồi ấy làm được đấy. Họ nghĩ ra nhiều cách để dạy cho đa số bà con thuộc mặt chữ, biết chữ. Từ vận động, thuyết phục, cầm tay nắn chữ. Họ đặt ra các câu văn vần cho bà con dễ thuộc, dễ nhớ. Như: I, tờ (T) có móc cả hai. I ngắn có chấm, Tờ (t) dài nét ngang; O tròn như quả trứng gà, Ô thì đội nón, Ơ đà thêm râu; “O, A hai chữ khác nhau, vì A có cái móc câu bên mình”… Chỗ nào có thể viết chữ được từ bức tường nhà ở, cây đa, sân đình, bảng biển đều viết chữ cái. Người ta còn viết chữ lên các tấm cót quân thóc, chiếc nong, chiếc nia để ở nơi công cộng, ngã ba đường, bên hè chợ… để bà con đi qua nhìn thấy tập quen dần với chữ nghĩa, tập đánh vần, ghép câu. Rồi đến các biện pháp “cưỡng chế” rất dễ thương. Đồng bằng nhiều ao, đầm, ruộng nước. Trên đường đến chợ người ta chắn ngang một lối đi ngang qua cánh ruộng ngập nước. Cán bộ văn hóa đứng ngang lối đi. Ai đọc được hàng chữ ghi trên một cái nia dựng bên vệ đường thì được đi qua, ai không đọc được thì phải lội vòng qua ruộng. Nhiều chị em thắt lưng, xà tích mớ ba mớ bẩy nhưng lười học chữ phải lội xuống ruộng nước lóp ngóp đến tội. Cả làng, cả tổng dù bụng vẫn còn đói vì vừa mất mùa do lụt tháng tám vẫn náo nức không khí học chữ mà ngày ấy gọi là diệt giặc dốt. Riết rồi cả làng chỉ trừ vài cụ cao tuổi gần đất xa trời còn thì hầu như ai cũng biết chữ. Nhất là thanh niên, không biết chữ trở thành người lạc loài trong làng, trong tổng.

Chuyện cái đình làng

Tôi học lớp vỡ lòng ở trong đình làng. Đấy là mùa thu năm 1963. Không biết ngôi đình được dùng làm lớp học từ bao giờ, nhưng trước tôi đã có nhiều anh chị trong làng cũng qua lớp vỡ lòng trong đình làng.

Đình làng tôi khi ấy to bề thế. Cửa đình quay về hướng tây, có khoảng sân đình rộng rãi, xanh êm màu cỏ. Liền kề là ao đình rộng lớn. Từ đường cái quan đi vào đình phải qua một con đường rợp bóng cây. Lên lớp 1, tôi cũng được học trong ngôi đình làng bên cạnh. Ngôi đình này lớn hơn đình làng tôi vì dân bên làng ấy đông hơn, đông nhất xã, gấp 3, gấp 4 số dân làng tôi. Đình làng Lu rất đẹp, cột gỗ lim to cả người ôm, bên trong đình người ta đắp nổi những bức tranh chim muông, cây cỏ, hoa lá, thú vật. Đặc biệt đầu đình làng Lu có hai cây quéo rất lớn, tỏa bóng sum suê, đứng từ xa đã nhìn thấy. Đứng bên gốc hai cây quéo rợp mát đến độ âm u, luôn tạo ra trong tôi cảm giác lành lạnh sống lưng như tại đây có một thế lực vô hình trú ngụ.

Bà tôi kể, ngôi đình làng tôi ngày trước là nơi hội họp của làng. Các vị chức sắc của làng: tiên chỉ, thứ chỉ… có chiếu ngồi theo thứ bậc. Cố mà mua lấy một chỗ ngồi trong chiếu đình, bét thì cũng anh nhiêu, anh xã. Người ta gọi kèm với tên như gọi các học hàm, học vị bây giờ. Là anh bạch đinh chỉ được gọi trần với tên, có nơi còn gọi anh cu này cu kia, già rồi vẫn bị gọi thế, nhục lắm. Hội đình, dân ngụ cư (những người mới đến ở làng một, hai đời đầu) phải khiêng trống cho làng khi vào đám. Hồi đó, đi từ nhà ra đến đầu làng phải cúi rạp chào từ cụ bá hộ, chánh tổng, lý trưởng đến các ông phó lý, chánh hội, phó hội… tất cả các chức dịch, chức sắc ở làng. Cái lưng ít khi được thẳng. Đấy là chưa kể khi có việc vào cửa quan, cúi rạp mình là tư thế đương nhiên (!). Làng tôi không lớn nhưng thời ấy cũng chia ba bè, bốn phái. Tay chánh tổng khét tiếng tàn ác, lại nhiều mưu mẹo nham hiểm, dân làng ghét lắm. Có năm, nhân hội đình, giai làng họ bên này âm mưu thổi tắt hết đèn nến, phục sẵn, khi chánh tổng vọt ra cửa đình là sẽ xúm vào dùng tay thước đánh chết. Nhưng tay chánh tổng khôn ngoan cứ ngồi yên một chỗ, chờ đèn nến thắp sáng lại, yên vị mới bước ra, được một phen thoát chết trong gang tấc.

Hai ngôi đình làng này đến thời ta (sau Cách mạng tháng Tám năm 1945), ngoài dùng làm lớp học cho trẻ con, còn là nơi diễn ra các cuộc họp, lễ hội của làng, xã, nơi sinh hoạt thanh thiếu nhi, cắm trại, vui chơi… Các ngày đầu tháng giêng, sau 3 ngày Tết Nguyên đán là làng tổ chức hội vật, đánh cờ người, kéo co… ở sân đình. Hàng đêm thiếu nhi sinh hoạt vui chơi nơi sân đình, trống ếch thì thùm, náo nhiệt. Một không khí vui tươi, tự do, phơi phới.

*
Hai câu chuyện nhỏ tại một ngôi làng nhỏ bên dòng sông Hóa hiền hòa, có thể giúp ta có cái nhìn về khía cạnh văn hóa trong thành quả của Cách mạng tháng Tám mang lại. Chuyện nhỏ mà lớn. Đó là một trong những biểu hiện, thành tựu của công cuộc chấn hưng văn hóa vĩ đại của dân tộc do Chính phủ Hồ Chí Minh thực hiện. Dưới ách cai trị của thực dân, phong kiến, chính quyền cũ chủ trương ngu dân hóa để dễ bề cai trị (sau này giữa những năm 70 của thế kỷ trước, chính quyền Pôn Pốt của nước láng giềng cũng chủ trương giết hết trí thức để cho đất nước trong sạch hoàn toàn (!!!), đến độ diệt chủng).

Nước ta khi ấy 95% dân số mù chữ. Muốn khai mở, phục hưng văn hóa, phải có phương tiện công cụ để tiếp nhận, truyền dẫn, phát huy. Muốn làm chủ phải có công cụ để làm chủ, hiểu biết để làm chủ. Vậy dạy cho dân biết chữ phải là công việc đầu tiên cấp thiết như diệt giặc ngoại xâm, giặc đói. Và trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam độc lập, giàu bản sắc, không phải là đập phá, phủ nhận sạch trơn mọi tài sản của quá khứ. Hồn Việt, văn hóa Việt còn kết tinh, ẩn chứa trong mỗi mái đình, cây đa, trong các điệu hát, lễ hội, tập tục vui vầy. Xóa bỏ những hủ tục, những lề thói lạc hậu, bất bình đẳng, đè nén, nô dịch con người như quét sạch đám mây đen, giữ lại một vầng trăng rằm vẹn nguyên trong sáng. Và một điều quan trọng nữa là khôi phục lại, lấy lại tư thế của con người, không khom lưng dưới ách nô dịch mông muội, thẳng lưng bước những bước dài cao rộng theo kịp đà tiến bộ của nhân loại văn minh.

Đàm Chu Văn
(TP. Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 518

Ý Kiến bạn đọc