Truyện ngắn

Cà phê Chờ

 

Cà phê Chờ, đúng như tên gọi của quán, khách vào uống cà phê ở quán Chờ phải là lúc thật rỗi, nếu không, thì không nên vào! Những ai nôn nóng, tranh thủ uống ly cà phê để đi công việc, đi làm, nếu vào quán, ngồi chờ uống được vài hớp thì chắc là chẳng yên vị chút nào, và không chừng lại lỡ biết bao nhiêu công việc. Bù lại, cà phê Chờ rất ngon, hương vị đậm đà đặc trưng mà các quán khác không có, nhờ kỹ thuật pha chế độc đáo của ông chủ Ba Chờ.

Gần như mù cả hai mắt nhưng Ba Chờ lại vui tính, có duyên kể chuyện và ca vọng cổ rất hay nên nhiều khách thường la cà hàng giờ ở quán.

Hỏi chuyện mới biết, anh Ba người gốc Long Xuyên; ba mẹ mất sớm, 15 tuổi đã chạy vịt đồng thuê cho các chủ nuôi vịt khắp lục tỉnh miền Tây. Trong những năm chiến tranh ác liệt, anh được người chú họ gởi lên Sài Gòn chạy bàn bán cà phê cho một người bạn thân của chú. Năm 30 tuổi, anh lấy vợ, chị người gốc miền Trung. Sau 1975, anh cùng về quê vợ ở Quảng Nam, cất căn nhà nhỏ ở một thị trấn ven tỉnh lộ để sinh cơ lập nghiệp. Ngoài mấy sào ruộng cấy được Hợp tác xã chia, anh còn siêng làm thuê đây đó, ai kêu gì làm nấy, như cuốc đất, bửa củi, đốn cây…

Anh kể năm 1978, trong một lần đi cuốc đất đồng, không may cuốc trúng cái đầu đạn M79 còn sót trong chiến tranh, anh bị thương hỏng cả hai mắt. Ban đầu, anh còn lần mò đi đứng chỗ nầy, chỗ nọ; thời gian sau, gần như mắt chẳng thấy được gì!

So-634--Quan-ca-phe---Mac-Nhat-Thanh---Anh-1
Quán cà phê – acrylic – Mạc Nhật Thanh.

Buồn, anh quyết định mở quán bán cà phê để có đồng ra đồng vào, nhưng quan trọng hơn là có người vào ra, chuyện trò giải khuây. Lúc đầu, vợ con không đồng ý, bảo anh mắt mũi như thế, quờ qua quạng lại thấy gì đường sá mà bán với mua, nhưng anh thuyết phục mãi nên cả nhà cũng xuôi.

Anh lấy tên mình đặt cho quán và trực tiếp đứng bán. Ngày treo bảng hiệu khai trương Cà phê Chờ, chị vợ đứng nhìn tấm bảng hồi lâu rồi cười nói với chồng: “Thấy cũng hay, đúng là phải chờ thôi, mù mờ như anh làm sao mà khách không chờ được!”.

Thế rồi Cà phê Chờ cũng có người vào ra. Mỗi lần khách vào, Ba Chờ mời khách ngồi, rồi lọ mọ lau bàn, lau tách, lau phin… Thói quen lau chùi đã được lập trình sẵn, anh đi ra, đi vào, lau đi, lau lại đến vài ba lần; từng động tác rất nhẹ nhàng, cẩn thận và cũng trân trọng vô cùng. Rồi anh quay lui bắt đầu mò mẫm đun nước sôi, vừa đun bếp vừa ca vọng cổ, giọng nghe rất mùi. Có khách mê vọng cổ ngồi ngẩn ngơ theo từng lời ca và cung bậc trầm bổng, du dương của bài ca mà quên cả chuyện mình đang chờ cà phê! Có vị chờ không được, nóng ruột lại hối; anh liền nhẹ nhàng xin lỗi và chỉ tay về phía bên kia đường bảo: “Ở đẵng có mấy quán, các anh không chờ được thì qua bển mà uống, gọi là có ngay!”.

Ngày ấy, củi đun rất đắt, chủ yếu người ta chụm trấu, nấu dầu. Riêng Cà phê Chờ thì đun nước toàn bằng củi thông; củi mua về được cưa và bửa ra từng đoạn ngắn để dễ chẻ, mỗi lần pha chế là mỗi lần đun lửa. Hỏi anh: “Sao không để sẵn nước sôi trong bình thủy mà pha có hơn không? Vừa tiện, vừa nhanh!”. Anh cười, nói: “Phải nấu nước sôi trực tiếp thì pha mới ngon, nhưng phải vừa sôi tới thì cà phê mới có vị thơm đậm”. Anh nói tiếp: “Còn sôi quá thì lại mất mùi thơm mà vị lại chát”. Lại hỏi: “Anh Ba chẳng nhìn thấy gì thì làm sao mà biết nước vừa sôi tới được?”. Anh cười khì khì: “Dễ òm! Không thấy được thì mình nghe, nghe nước, nghe lửa. Lửa mà kêu lắc tắc thì nước gần sôi và khi nước gần sôi thì nước cũng reo lên. Tiếng reo của nước mới sôi khác với tiếng sục sục của nước sôi già. Chỉ có nấu củi thông mới có tiếng kêu và tiếng reo vui như thế!”. Anh lại nói tiếp: “Đó là chuyện lửa củi, pha chế. Còn cà phê, phải tìm mua thứ hạt chín chính vụ thì khi rang mới thơm đều, nở đều; rồi phải gia giảm các hương liệu tự nhiên nầy nọ! Khi cho nước vừa sôi vào phin phải châm từ từ, đến ba, bốn lần châm. Đủ độ nở, cà phê sẽ nhỏ từng giọt nhẹ nhàng, đều đặn như tiếng gõ nhịp thời gian. Cứ thế, ai mắt sáng thì ngồi nhìn, còn tôi thì nghe từng giọt, giọt trước, giọt sau tiếp nối đều đều rơi nhẹ nhàng xuống đáy cốc”.

Tóm lại, uống cà phê ở quán Chờ, người ta không uống nhanh được. Phải đủ thời gian ngồi tĩnh tâm thì mới thấy được cái mùi hương thoang thoảng tự nhiên từ ly cà phê còn ấm dịu trong lòng bàn tay nắm chặt; và uống từng ngụm nhỏ mới cảm được vị đắng tự nhiên, rất riêng của cà phê, vị đắng khi nhấm nháp vào sẽ thấy có chút thơm ngọt dịu dàng nơi cổ họng!… Và rồi dần dà, Cà phê Chờ trở thành thương hiệu một thời ngày ấy. Khách vào quán phần lớn là khách quen trong vùng. Nghe bước chân của khách vào là Ba Chờ gọi tên chào ngay, rất thân tình, vui vẻ nên ai cũng thích.

Một lần vui miệng, mấy khách trẻ vào uống hỏi Ba Chờ: “Còn “làm ăn” gì được không?”. Anh mỉm cười, kể lảng sang câu chuyện khác, vui thôi, như để nói rằng: Sáng như các anh, chưa chắc gì bằng lão mù gần tuổi 60 nầy đâu! Chuyện rằng: Anh có hơn nửa sào ruộng cấy sau nhà. Một hôm, bảo hai cậu con trai ra sau dọn và ban ruộng cho bằng phẳng để sạ giống. Nửa chiều đã xong, hai cậu bỏ đi chơi. Đến chạng vạng, anh mò ra và tìm đến ngồi trên bờ các góc ruộng để kiểm tra! Tối lại, bên mâm cơm, trước khi ăn, anh nói với hai con: “Các con giỏi thật! Sáng mai, hai đứa bay mang cuốc, mang trang ra mà ban, mà kéo lại cho bằng; chứ dọn gì đám ruộng bằng bàn tay mà cả ngày không xong; tao thấy giữa đám với lại hai đầu góc phía trên chưa bằng gì cả!”. Nghe xong, hai cậu con giật mình, nói lại: “Chứ ba làm sao thấy mà nói giỏi vậy?”. Anh cười, rồi quay qua nói với vợ: “Sáng mai, mẹ mầy ra coi thử tui nói có đúng không?”. Quả thật, sáng ngày hôm sau, hai đứa con hì hục ban, sửa cả buổi thì đám ruộng mới coi được, không còn chỗ thấp chỗ cao như anh đã nói. Ba Chờ kể xong, các vị khách cà phê ngạc nhiên hỏi: “Chứ sao anh thấy được hay vậy?”. Anh từ từ nói: “Tui không thấy nhưng tui nghe, mình ném từng cục đất ra giữa ruộng thì biết liền. Chỗ cao không nước, chỗ thấp nước nhiều, đất rơi tiếng bõm, tiếng bịch khác nhau; nghe tiếng rơi của cục đất thì biết ngay chỗ cao, chỗ thấp. Còn ở các góc gần bờ, thì mình lắng tai nghe tiếng ếch, tiếng nhái kêu. Chỗ cao nhiều thì ếch, nhái tập trung đến mà ọt ẹt, ca hát suốt đêm”. Nghe anh kể xong, cả quán cùng một tiếng ồ… thật to, ai cũng trầm trồ, nể phục anh Ba.

Những năm sau đó, do công việc, mỗi người một nơi, nhưng mỗi lần có dịp về quê, tôi đều đến uống Cà phê Chờ. Vẫn cách pha chế như ngày nào, nhưng anh Ba giờ lại ít nói và không còn kể chuyện vui như trước. Cà phê của anh thì cũng hương vị như xưa, rất đậm đà, thơm ngon!

Rồi một hôm tôi nhận được điện thoại của mấy người bạn ở quê: Anh Ba Chờ đã dọn về trong Nam. Cà phê Chờ vẫn còn bán, quán được sửa sang, trang trí bài bản hơn nhiều và chủ nhân của nó là cậu con trai đầu của anh Ba. Quán Chờ bây giờ, cũng như bao quán khác, người ra kẻ vào, làm duyên làm dáng, lấy cảnh, chụp hình, xôn xao tiếng nhạc tiếng người cả ngày, không còn cảnh thanh tịnh, nhẹ nhàng, chờ đợi đầy thích thú như xưa.

2/2021

NGUYỄN LIÊM TRIẾT
(Tỉnh Quảng Nam)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 634

Ý Kiến bạn đọc